Skip Ribbon Commands
Skip to main content
SharePoint
Chào mừng ngày Phụ nữ Việt Nam 20/10
******
Chào mừng 75 năm thành lập ngành Kế hoạch và Đầu tư

Skip Navigation LinksTin Chuyên Đề

Search
 
Tin Chuyên Đề
 
(LLCT) - Địa kinh tế và địa chính trị có mối quan hệ biện chứng, tác động qua lại và gắn bó chặt chẽ với nhau. Trong khi nhân tố địa kinh tế ngày càng gia tăng sức nặng và tầm quan trọng trong chính trị quốc tế thì ngược lại, biến động và đảo lộn địa chính trị sẽ tác động đến địa kinh tế. Nhận thức đúng đắn mối quan hệ giữa địa kinh tế và địa chính trị, vận dụng, xử lý hiệu quả các vấn đề địa... 
 
​Trong lĩnh vực thư viện, nhiều hoạt động liên quan đến quyền tác giả (bao hàm cả quyền tác giả và quyền liên quan) như sao chụp tài liệu, số hoá tài liệu, mượn liên thư viện... Trong bài viết này chúng tôi muốn bàn về những quy định của pháp luật về sao chép tác phẩm trong hoạt động thư viện ở nước ta.1. Về quy định sao chép tác phẩm trong thư việnMục đích cơ bản nhất của việc ban hành luật về sở... 
 
​Giới thiệu chungSử dụng dữ liệu làm cơ sở cho các bài báo nghiên cứu ngày càng trở nên quan trọng. Với sự hỗ trợ của công nghệ xuất bản trực tuyến thì thông tin ngày càng trở nên có sẵn và các dịch vụ thông tin trở nên nở rộ để hỗ trợ người dùng một cách tốt nhất, thông tin vì thế được sử dụng và tái sử dụng để kết hợp với các dữ liệu khác. Trên thế giới hiện nay, xu thế "dữ liệu lớn" (... 
 
​Kinh tế - xã hội nước ta ba tháng đầu năm 2020 diễn ra trong bối cảnh kinh tế thế giới tăng trưởng chậm, những nền kinh tế lớn như Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản, Cộng đồng chung châu Âu đang chứng kiến tình trạng suy giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế; giá dầu thô giảm mạnh do căng thẳng giữa A-rập Xê-út và Liên bang Nga, chiến tranh thương mại Mỹ - Trung vẫn tiếp diễn, căng thẳng địa chính trị gia tăng ... 
 
​Mở đầuTrong những năm gần đây, lĩnh vực dịch vụ ngày càng đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, theo đó chất lượng dịch vụ luôn là vấn đề được nhà sản xuất dịch vụ quan tâm nhiều nhất. Người sử dụng dịch vụ luôn mong đợi và yêu cầu chất lượng dịch vụ phải tốt hơn bao giờ hết. Chính vì vậy, việc đảm bảo chất lượng dịch vụ mà hoạt động chính là đánh giá chất lượng dịch vụ đã trở thành... 
 
Nhằm hưởng ứng ngày Sách Việt Nam (21/04), ngày Sách và Bản quyền thế giới (23/04) do Chính phủ và Bộ Giáo dục - Đào tạo phát động, sáng ngày 20/04/2018, tại Thư viện Phạm Văn Đồng, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân đã diễn ra ngày hội sách do Trung tâm Thông tin - Thư viện, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân; Hội Thư viện Việt Nam cùng Chi hội Thư viện khối Kinh tế thuộc khu vực Hà Nội đồng tổ chức. Với chủ đề “Sách - Tri thức kiến tạo tương lai”, Ngày Hội Sách Việt Nam lần thứ 5 được tổ chức nhằm tiếp tục khẳng định, tôn vinh những giá trị của Sách, khẳng định vai trò, vị trí, tầm quan trọng của sách trong đời sống xã hội; tôn vinh những người làm công tác sưu tầm, sáng tác, xuất bản, in, phát hành, lưu giữ, quảng bá sách; khuyến khích và phát triển phong trào đọc sách trong cộng đồng; nâng cao nhận thức của nhân dân về ý nghĩa to lớn và tầm quan trọng của việc đọc sách đối với việc tiếp thu kiến thức, kỹ năng, phát triển tư duy, giáo dục và rèn luyện nhân cách con người; nâng cao trách nhiệm của các cấp, các ngành, các cơ quan chức năng và các tổ chức xã hội đối với việc xây dựng và phát triển văn hóa đọc Việt Nam. Tham gia ngày hội sách tại Thư viện Trường Đại học Kinh tế Quốc dân có sự tham gia của các đơn vị Thư viện Phạm Văn Đồng - Trường Đại học Kinh tế Quốc dân; Thư viện Học viện Ngân hàng; Thư viện World Bank; Thư viện Trung tâm Thông tin và Dự báo Kinh tế – Xã hội Quốc gia; Thư viện Trung tâm Thông tin – Tư liệu Viện nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương; cùng một số đơn vị, công ty IGroup (Asia Pacific) Limited; Công ty D&L; Công ty IDT Việt Nam; Công ty Nam Hoàng… Ngày hội sách là cơ hội cho các bạn sinh viên yêu thích đọc sách được giao lưu.  
 
Ngày nay, sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin đã tạo ra hàng loạt các sản phẩm công nghệ hiện đại và có tính ứng dụng cao. Các loại hình sản phẩm này đã tác động và làm biến đổi về chất các loại hình thư viện truyền thống. Từ đó dần hình thành loại hình thư viện số tại Việt Nam. Trước hết, chúng ta cần hiểu rõ khái niệm về thư viện số: Thư viện số là tập hợp của các máy tính số, các thiết bị máy móc lưu trữ và trao đổi thông tin cùng với bối cảnh và phần mềm cần thiết để sản xuất và cung cấp các dịch vụ thông tin thư viện tương tự như các thư viện truyền thống vẫn làm đối với tài liệu giấy và các loại hình tài liệu truyền thống khác trong qua trình thu thập, biên mục, tìm kiếm và phố biến thông tin…hay nói cách khác thư viện số chính là nơi sử dụng công nghệ để chuyển câu hỏi thành câu trả lời. Các thư viện số là các tổ chức cung cấp nguồn lực, trong đó bao gồm các chuyên gia, để lựa chọn thông tin, cấu trúc hóa, đưa ra các phương thức truy cập và phân phối thông tin hiệu quả, cũng như đảm bảo sự toàn vẹn và của bộ sưu tập số sao cho chúng luôn sẵn sàng và kinh tế để phục vụ một cộng đồng cụ thể hoặc một nhóm cộng đồng. Tính năng vượt trội Bắt nguồn từ sự phát triển của Internet, thư viện số đã trải qua một vài giai đoạn phát triển và có những thành tựu quan trọng trong việc cung cấp nguồn thông tin và dịch vụ tốt hơn và thuận tiện hơn cho người dùng tin. Việc số hóa tài liệu sẽ giúp giảm thiểu đáng kể diện tích, không gian lưu giữ; Thứ hai là giúp việc bảo quản, duy trì tuổi thọ của tài liệu truyền thống được lâu hơn; Thứ ba là dễ dàng mở rộng phạm vi cộng đồng người sử dụng nguồn tài nguyên thông tin của cơ quan thông tin, thư viện; Thứ tư là tiện ích trong việc truy xuất tìm kiếm thông tin ở bất kỳ đâu vào bất cứ thời điểm nào một cách nhanh chóng, dễ dàng; Thứ năm là thuận lợi trong việc chia sẻ nguồn tài nguyên thông tin của thư viện với các thư viện khác. Thứ sáu là giảm thiểu tối đa sức người, sức của cho việc quản lý nguồn tài nguyên thông tin truyền thống; Thứ bảy là góp phần nhanh chóng tái tạo thông tin mới có giá trị gia tăng cao hơn. Khó khăn và thách thức Do cấu trúc và tính năng hiện đại, thư viện số hoạt động dựa trên cơ sở là những thành tựu mới nhất về công nghệ thông tin, bởi vậy, việc ứng dụng thư viện số đã gặp phải không ít những khó khăn và thách thức. Thách thức đầu tiên đến từ các vấn đề kỹ thuật, mà quan trọng nhất là vấn đề lưu trữ nguồn tài liệu dạng số. Để có thể cung cấp lượng thông tin cần thiết, cả dạng số và truyền thống, các thư viện số phải thu thập và lưu trữ một số lượng lớn các thông tin chất lượng cao. Thông tin số hoá do đó là một phần quan trọng của vốn tài liệu. Tuy nhiên, đây là một nhiệm vụ nặng nề bởi việc lưu trữ và bảo quản tài liệu số cần có một số những yêu cầu cụ thể, đặc biệt là đối với tất cả những tư liệu số đặc biệt, độc đáo với những yếu tố then chốt cần phải được lưu trữ, đó là khả năng cho phép sao chép một cách hoàn hảo, cho phép truy cập không giới hạn về đồ hoạ. Bản chất và phạm vi của việc lưu trữ thông tin số hoá dài hạn đòi hỏi các hoạt động hợp tác giữa các tổ chức. Không một cơ quan riêng lẻ nào có khả năng thực hiện vai trò lưu trữ tất cả các tài liệu số và các thoả thuận và liên minh hợp tác là cần thiết để có thể xử lý được một loạt các vấn đề, ví dụ như phân chia trách nhiệm cho từng lĩnh vực hoặc loại hình tài liệu cụ thể, mức độ trùng lắp thông tin lưu trữ, hoặc các điểm truy cập, các nguồn tài chính, và các quốc gia hoặc vùng khác nhau. Một thách thức khác được đặt ra đó là tác quyền và việc truy cập thông tin bởi lẽ vật mang tin số không giống như các vật mang tin truyền thống như sách báo, CD,…Hơn nữa, các thư viện và cơ quan lưu trữ cũng có thể quan tâm đến việc số hoá một số tài liệu cũ. Tài liệu này có thể không có bán trên thị trường nữa nhưng vần còn bản quyền. Nếu thư viện muốn số hoá tài liệu này, họ phải, hoặc là yêu cầu cấp giấy phép từ người giữ bản quyền cho phép số hoá tài liệu, hoặc là chấp nhận nguy cơ bị kiện và tiến hành số hoá tài liệu. Hỗ trợ bạn đọc tìm kiếm thông tin là một trong những dịch vụ then chốt của thư viện số. Điều này cũng tạo ra một thách thức lớn cho cán bộ thư viện số, những người phải hoàn thành nhiệm vụ khó khăn là hỗ trợ người sử dụng tìm kiếm thông tin trong môi trường web. Bên cạnh những thách thức trên, để có thể cung cấp nguồn tài liệu số phong phú, tất nhiên còn rất nhiều thách thức khác mà thư viện số phải đối mặt, ví dụ như sự phát triển liên tục của cơ sở hạ tầng thông tin toàn cầu dẫn đến những thay đổi về công nghệ; sự phát triển của các công nghệ hỗ trợ việc tìm kiếm thông tin trên mạng; tuân thủ và phát triển các tiêu chuẩn về tính năng hoạt động liên thông và thư viện số liên kết. Để xây dựng được một nền CNND ở tầm quốc gia cần phải: Có một hành lang pháp lý đủ mạnh để: một mặt, tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân tìm kiếm, xử lý, số hoá, bao gói, chuyển giao thông tin; mặt khác, bảo vệ thiết thực bản quyền tác giả đối với các CSDL cũng như những thông tin mà các cá nhân, tổ chức sở hữu và tất nhiên là bảo đảm bí mật quốc gia; Có sự phối hợp chặt chẽ về mặt tổ chức, liên kết, phân công phân mảng giữa các cơ quan có hoạt động số hoá tài liệu; Có lực lượng cán bộ chuyên trách thu thập, số hoá, bao gói thông tin (lực lượng này không phải chỉ là cán bộ thông tin, thư viện); Trang bị các thiết bị hiện đại cho các cơ sở tham gia số hoá: ví dụ các máy quét chuyên dụng (nhanh, chất lượng cao, quét được các khổ lớn, màu sắc đẹp...); các USB, các máy chủ sao lưu với dung lượng lớn (hàng nghìn GB); các máy sao CD chuyên dụng,... Đặc biệt, đối với Việt Nam- một quốc gia còn rất phụ thuộc và bị động với nền công nghệ thế giới thì việc ứng dụng và sử dụng một cách hiệu quả thư viện số là một vấn đề hết sức khó khăn và phức tạp. Tuy nhiên nhìn chung, việc tiến tới thư viện số là xu hướng tất yếu, là mong muốn của mỗi thư viện. Bởi vậy, để có được một thư viện số hoạt động có hiệu quả, phát huy được thế mạnh “thông tin đặc thù” của mình, cơ quan chủ quản cần có kế hoạch sát thực, lựa chọn bước đi phù hợp, phải có chương trình thu thập, số hoá tài liệu và tạo lập các CSDL một cách đầy đủ, kịp thời, đặc biệt là các CSDL toàn văn với các tài liệu có giá trị lâu dài thuộc phạm vi bao quát của cơ quan. (theo http://vanhoa.gov.vn/)  
 
Để giúp cho người đọc và người dùng tin có thể tra cứu được tài liệu một cách dễ dàng, thuận lợi các thư viện trên thế giới nói chung và các thư viện ở Việt Nam nói riêng đã luôn dành sự quan tâm đặc biệt cho các khâu xử lý thông tin, xử lý tài liệu. Trong những năm gần đây, cộng đồng thư viện Việt Nam đã luôn quan tâm đến việc chuẩn hoá công tác xử lý tài liệu và đã bắt đầu triển khai một số chuẩn nghiệp vụ như: MARC21 cho biên mục đọc máy, AACR2 cho mô tả tài liệu, DDC cho phân loại tài liệu… Trên thực tế, bên cạnh những khâu xử lý đã bước đầu được chuẩn hoá trên, cũng còn một số khâu xử lý còn bỏ ngỏ, việc xử lý còn phụ thuộc nhiều vào quy định của từng cơ quan. Trong số đó, có hai khâu cần được quan tâm là định từ khoá và định chủ đề tài liệu. Trước khi thực hiện bài viết này, chúng tôi đã tiến hành khảo sát và điều tra 52 thư viện. Qua kết quả điều tra, chúng tôi được biết có 44 thư viện (chiếm 84,6%) có áp dụng định từ khoá và 23 thư viện (44,2%) áp dụng định chủ đề. Trong số đó, có tới 28 thư viện tiến hành định từ khoá tự do, hoặc theo những quy định cụ thể của nội bộ thư viện đó. Việc định chủ đề được tiến hành hoàn toàn tự do hoặc có thư viện dựa vào bảng tra cứu chủ đề của bảng phân loại mà thư viện áp dụng. Từ thực tiễn đó, chúng tôi thấy có một số vấn đề cần xem xét. Nếu xem xét trên bình diện lịch sử, công tác định chủ đề tài liệu đã bắt đầu được triển khai từ thời kỳ thuộc Pháp. Ở các thư viện lớn như: Thư viện Trung ương Đông Dương (nay là Thư viện Quốc gia Việt Nam), Thư viện trường Viễn Đông Bác Cổ, Thư viện trường Đại học Y Dược, mục lục chủ đề được tổ chức cùng với mục lục tác giả. Mục lục chủ đề là một loại mục lục cơ bản phản ánh nội dung vốn tài liệu trong những năm đầu thế kỷ XX. Ở trong các thư viện lớn, các đề mục chủ đề đã được xây dựng bằng tiếng Pháp do đối tượng sử dụng thư viện vào thời bấy giờ chủ yếu là người Pháp và các công chức phục vụ cho Pháp. Từ năm 1954 đến năm 1960, sau khi tiếp quản Hà Nội, các thư viện lớn ở Hà Nội tiếp tục tổ chức mục lục chủ đề với tư cách là ngôn ngữ tìm tin cơ bản và duy nhất theo nội dung. Một hệ thống các đề mục chủ đề bằng tiếng Việt đã được xây dựng và sử dụng trong các thư viện lớn. Song việc làm này còn tuỳ tiện, không có thư viện nào biên soạn thành bảng đề mục chủ đề hoặc thậm chí dưới dạng hộp phiếu chủ đề công vụ. Tại Thư viện Quốc gia Việt Nam (TVQG), mục lục chủ đề được tổ chức đến năm 1960, Viện Thông tin Khoa học Xã hội, mục lục chủ đề chỉ tồn tại đến năm 1958. Từ những năm đầu của thập kỷ 60, một số thư viện lớn ở miền Bắc không tiến hành định chủ đề và xây dựng mục lục chủ đề nữa. Lúc bấy giờ, nhiều nhà thư viện của Việt Nam chịu ảnh hưởng quan điểm của một số nhà thư viện Liên Xô cho rằng mục lục phân loại là mục lục duy nhất phản ánh nội dung kho sách một cách khoa học. Một số thư viện lớn như TVQG, Thư viện Khoa học Kỹ thuật Trung ương, Thư viện Khoa học Xã hội chỉ tổ chức mục lục phân loại và không tổ chức mục lục chủ đề nữa. Nhưng trên thực tế, để giúp cho người đọc tra cứu được dễ dàng, bản thân mục lục phân loại không tồn tại được độc lập. Thiếu ô tra chủ đề chữ cái “Sách hướng dẫn trực tiếp để tìm một cách nhanh chóng trong mục lục phân loại các tài liệu mà người đọc quan tâm”, (1) mục lục phân loại sẽ khó phát huy hết tác dụng. Vì vậy, song song với việc tổ chức mục lục phân loại các thư viện còn tổ chức ô tra chủ đề chữ cái. Tuy nhiên, trong thực tiễn hoạt động thư viện ở Việt Nam đã hình thành hai khuynh hướng: Nếu như ở các thư viện lớn, các thư viện tỉnh và thành phố có xu thế chú trọng việc tổ chức mục lục phân loại thì ở các thư viện chuyên ngành, mục lục chủ đề vẫn tiếp tục được xây dựng làm loại mục lục chính. Bên cạnh đó, rất nhiều thư viện tổ chức các hộp phiếu chuyên đề. Trong hộp phiếu chuyên đề, tư liệu được phản ánh theo các chủ đề. Nhưng hộp phiếu chuyên đề không phản ánh toàn bộ nội dung vốn tài liệu của thư viện mà chỉ tập trung vào một số vấn đề được người đọc tại thư viện quan tâm. Đối với các thư viện chuyên ngành do tính chất đặc thù và mục đích phục vụ cho các cán bộ nghiên cứu thuộc các ngành chuyên môn khác nhau, việc sử dụng ngôn ngữ tìm tin theo chủ đề cũng không hoàn toàn thống nhất. Có một số thư viện tự biên soạn bảng danh mục chủ đề cho thư viện mình, ví dụ: Thư viện Trường đại học Y, Thư viện Trường đại học Dược (trước đây). Có một số thư viện khác sử dụng các bảng đề mục chủ đề của nước ngoài và dùng luôn thuật ngữ bằng các tiếng nước ngoài đó mà không cần phải chuyển dịch sang tiếng Việt. Ví dụ: Thư viện Y học Trung ương sử dụng bảng đề mục chủ đề Y học (Medical Subject Headings - viết tắt là Me.S.H.) của thư viện Y học Quốc gia Mỹ biên soạn; Trung tâm Thông tin Bộ Nông nghiệp và Công nghiệp thực phẩm đang sử dụng nguyên bản bảng danh mục chủ đề của hệ thống Thông tin Quốc tế về khoa học và kỹ thuật nông nghiệp của tổ chức FAO; Thư viện Viện Triết học và một số viện nghiên cứu, thư viện trường đại học định chủ đề tự do… Vào những năm 1990, cùng với xu hướng tin học hoá thư viện, công tác định chủ đề bắt đầu được quan tâm trở lại và công tác định từ khoá được triển khai rộng rãi trong các thư viện và cơ quan thông tin ở Việt Nam. Thời gian đầu các thư viện tiến hành định từ khoá tự do. Chất lượng của các từ khoá chưa thật đảm bảo và hiện tượng nhiễu tin còn phổ biến gây không ít khó khăn cho người tra tìm tài liệu. Trước thực tế đó, yêu cầu kiểm soát về mặt từ vựng đã được đặt ra. Một số bộ từ khoá quy ước và từ điển từ khoá đã được biên soạn, tiêu biểu là: Bộ Từ khoá quy ước của TVQG (đến năm 2005 được bổ sung, biên tập lại và đổi tên là Bộ từ khoá); Từ điển Từ khoá Khoa học và Công nghệ của Trung tâm Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia và Bộ từ khoá Khoa học Xã hội và Nhân văn của Viện Thông tin Khoa học Xã hội… Sau đây, chúng tôi xin điểm qua một vài nét khái lược về các bộ từ khoá đó. Thứ nhất là Bộ Từ khoá của TVQG. Bộ Từ khoá này đã được biên soạn và xuất bản lần đầu năm 1997 với tên gọi Bộ Từ khoá quy ước trên cơ sở vốn từ khoá tự do của CSDL SACH (được nhập từ năm 1975-1991) của TVQG. Đây là bộ từ khoá quy ước đầu tiên được xây dựng tại TVQG. Bộ từ khoá ban đầu có khoảng 8000 từ. Đến năm 2005, Bộ Từ khoá đã được chỉnh lý bổ sung trên cơ sở chọn lọc từ 43.000 từ khoá đã được sử dụng trong các cơ sở dữ liệu của TVQG. Diện đề tài bao quát vốn từ vựng của Bộ từ khoá là đề tài tổng hợp, phản ánh vốn tài liệu đa dạng của TVQG. Thứ hai là Từ điển Từ khoá Khoa học và Công nghệ của Trung tâm Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia. Từ điển Từ khoá Khoa học và Công nghệ được biên soạn trên cơ sở Bộ Từ khoá đa ngành Khoa học Tự nhiên và Công nghệ do Trung tâm biên soạn năm 1997. Sau một thời gian sử dụng tại một số các thư viện và cơ quan thông tin, năm 2001, Bộ từ khóa được chỉnh lý và xuất bản dưới dạng Từ điển Từ khoá. Diện đề tài bao quát của Từ điển Từ khoá là về lĩnh vực khoa học tự nhiên và khoa học công nghệ. Thứ ba là Bộ Từ khoá Khoa học Xã hội và Nhân văn do Viện Thông tin Khoa học Xã hội biên soạn và hoàn tất vào năm 2005. Đây là một bộ từ khoá đa ngành, tập hợp khoảng 40.000 thuật ngữ thuộc các lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn như: Triết học, tâm lý học, xã hội học, các khoa học kinh tế, lịch sử, khảo cổ học, nghiên cứu văn hoá, dân tộc học, ngôn ngữ học, nghiên cứu văn học... Vốn từ khoá trong bộ từ khoá này được lựa chọn từ các từ khoá được sử dụng trong các cơ sở dữ liệu của Viện Thông tin Khoa học Xã hội và các thư viện nghiên cứu chuyên ngành thuộc Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia trong nhiều năm, tính đến thời điểm tháng 6 năm 2002. Trong công tác định chủ đề, cũng có một số thư viện đã tiến hành những việc làm thiết thực để hướng tới xây dựng một bảng đề mục chủ đề có khả năng đưa ra áp dụng rộng rãi. TVQG đã cho trích dịch bảng danh mục chủ đề của Thư viện Quốc hội Mỹ. Bảng dự thảo các đề mục chủ đề gồm trên 5000 khái niệm, thuật ngữ bước đầu được coi là tài liệu tham khảo trong công tác định chủ đề. Tuy nhiên, do điều kiện có hạn, TVQG mới chỉ tiến hành dịch tên của chủ đề chứ chưa dịch đầy đủ các tham chiếu và phụ đề cho các chủ đề. Bên cạnh bảng đề mục chủ đề dự thảo của TVQG, Câu lạc bộ thư viện với sự hỗ trợ của Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh cũng đã đã tiến hành biên soạn cuốn Chọn tiêu đề đề mục cho thư viện. Tìm hiểu, khảo cứu các bộ từ khoá và bảng đề mục chủ đề của Việt Nam hiện hành, chúng ta sẽ thấy có một số điểm đáng chú ý sau: Thứ nhất: Các quy định về chính tả được áp dụng trong các bộ từ khoá và đề mục chủ đề chưa được thống nhất. Vấn đề thể hiện tên người, tên địa danh vẫn còn tồn tại nhiều điểm chưa nhất quán. Từ điển Từ khoá Khoa học và Công nghệ có xu hướng dùng chữ y trong khi Bộ từ khoá của TVQG có xu hướng dùng chữ i đối với các thuật ngữ có tận cùng bằng chữ i như: qui tắc, kĩ thuật, qui trình,…Tên người, tên địa danh của nước ngoài có nơi áp dụng phiên tự, có nơi áp dụng phiên âm… Thứ hai: Quy định về cách thể hiện các tham chiếu giữa các thư viện và cơ quan thông tin cũng chưa hoàn toàn thống nhất. Ví dụ: Trong Bộ Từ khoá của TVQG, quan hệ tương đương (quan hệ đồng nghĩa) giữa các thuật ngữ được thể hiện và kiểm soát bởi hai tham chiếu xem và dùng cho (DC). Tham chiếu “xem” để chỉ dẫn từ không quy ước đến từ quy ước và đặt trước từ được ưu tiên sử dụng. Ký hiệu tham chiếu “DC” (dùng cho) được đặt sau từ được ưu tiên sử dụng và đặt trước từ không ưu tiên là từ đồng nghĩa với từ ưu tiên. Có thể lấy một ví dụ cụ thể là: Đậu nành Xem Đậu tương Đỗ tương Xem Đậu tương Đậu tương DC Đậu nành Đỗ tương (3) Trong khi đó, trong Từ điển Từ khoá Khoa học và Công nghệ và Bộ Từ khoá Khoa học Xã hội và Nhân văn sử dụng 2 tham chiếu: Dùng cho (DC) và Sử dụng (SD). Ví dụ: Đóng bao SD Đóng gói Đóng gói DC Gói Bao gói Đóng kiện (5) Hay: Bách khoa toàn thư SD: Bách khoa thư Bách khoa thư DC: Bách khoa toàn thư...(4) Trên thực tế, đối với người sử dụng, tham chiếu xem hay sử dụng cùng có mục đích chỉ dẫn người làm công tác định từ khoá lựa chọn các thuật ngữ sau tham chiếu để mô tả cho khái niệm khi xử lý tài liệu. Tuy nhiên, nếu có sự thống nhất về cách quy ước, các bộ từ khoá có thể dễ dàng tích hợp để sử dụng chung một cách rộng rãi hơn. Thứ ba, trong các bảng đề mục chủ đề và bộ từ khoá của Việt Nam hiện nay chủ yếu mới chỉ thiết lập các tham chiếu thể hiện mối quan hệ ngữ nghĩa tương đương và quan hệ liên đới chứ chưa thiết lập được các tham chiếu thể hiện mối quan hệ thứ bậc (bao gồm từ rộng (TR), từ hẹp (TH) và Từ đỉnh (TĐ) như đối với từ điển từ chuẩn hay các bảng đề mục chủ đề chuẩn của một số nước ngoài và tổ chức quốc tế). Từ thực tiễn công tác xử lý tài liệu theo từ khoá và chủ đề để có thể khẳng định: Định từ khoá và định chủ đề là các khâu xử lý đang được áp dụng rộng rãi ở Việt Nam hiện nay. Trong tra cứu tìm tin, ngôn ngữ tìm tin theo chủ đề và từ khoá đã trở nên thông dụng và quen thuộc với người đọc và người dùng tin. Mặc dù đã có sự hình thành và áp dụng rộng rãi trong các thư viện và cơ quan thông tin nhưng cho đến nay ở Việt Nam hiện nay chưa hình thành một chuẩn chung về định từ khoá và định chủ đề. Việt Nam chưa xây dựng một bảng đề mục chủ đề hay từ điển từ chuẩn nào để có thể sử dụng mang tính thống nhất, rộng rãi trong phạm vi cả nước. Để hướng tới sự chuẩn hoá công tác định từ khoá và định chủ đề tài liệu, chúng tôi xin đề xuất một số biện pháp sau: 1. Các thư viện và cơ quan thông tin đầu ngành cần sớm có sự phối kết hợp trong việc biên soạn một bộ từ điển từ chuẩn. Để có thể rút ngắn thời gian, các thư viện có thể kế thừa các bộ từ khoá và từ điển từ khoá hiện hành: lựa chọn, tích hợp và đặt ra các quy ước thống nhất về chính tả và việc diễn đạt từ vựng. Từ điển từ chuẩn sẽ trở thành công cụ quan trọng góp phần chuẩn hoá công tác định từ khoá. 2. TVQG và các thư viện lớn cần sớm bắt tay vào xây dựng một bảng đề mục chủ đề trên cơ sở rà soát lại các đề mục chủ đề đã được sử dụng trong công tác xử lý tài liệu tại các thư viện qua hệ thống mục lục chủ đề và có thể tham khảo thêm một số bảng đề mục chủ đề của nước ngoài như: Đề mục chủ đề của Thư viện Quốc hội, Đề mục chủ đề Sear, bảng RAMEAU của Thư viện Quốc gia Pháp. 3. Đẩy mạnh hơn nữa công tác biên mục tập trung và biên mục trong ấn phẩm để các thư viện có điều kiện sử dụng các sản phẩm biên mục có sẵn, vừa tiết kiệm được thời gian công sức, vừa đảm bảo tính chính xác và thống nhất trong biên mục. 4. Các cơ quan chức năng từng bước xây dựng và thông qua Tiêu chuẩn Việt Nam về xử lý tài liệu theo chủ đề và từ khoá. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Becdichepxkaia, Ch.M. Bảng chỉ dẫn chủ bên cạnh mục lục phân loại của thư viện khoa học/Đỗ Hữu Dư dịch. - H. - 1972. 2. Bảng đề mục chủ đề dự thảo. - H.: Thư viện Quốc gia Việt Nam, 1991. 3. Bộ từ khoá. - H.: Thư viện Quốc gia Việt Nam, 2005. 4. Bộ từ khoá khoa học xã hội và nhân văn. - H.: Viện Thông tin Khoa học Xã hội, 2005. - 2T. 5. Từ điển từ khoá khoa học và công nghệ. - H.: Trung tâm Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc Gia, 2001. 6. Nghiên cứu xây dựng bộ từ khoá cho các cơ sở dữ liệu đa ngành khoa học tự nhiên và kỹ thuật: báo cáo tổng kết đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ.- H.: Trung tâm Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia, 1997. ______________ Ths. Vũ Dương Thuý Ngà: Đại học Văn hoá Hà Nội (Nguồn: Tạp chí Thư viện Việt Nam)  
 
I/ Sự cần thiết áp dụng các chuẩn nghiệp vụ quốc tế: 1/ Từ ý tưởng: “Thống nhất-Chuẩn hóa”: Vấn đề “thống nhất và chuẩn hóa” về tổ chức và nghiệp vụ của thư viện Việt Nam đã được các nhà lãnh đạo Vụ Thư viện - Bộ Văn hóa – Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) nêu lên khá sớm, từ những năm cuối của thế kỷ trước. Ý tưởng đó càng trở nên bức xúc hơn sau những chuyến thăm và làm việc với đại diện các hệ thống thư viện Việt Nam năm 1999 của Tiến sỹ Christine De Sam – Chủ tịch IFLA. Điều dễ nhận thấy là, trước năm 2000, mạng lưới thư viện Việt Nam tuy phát triển khá nhanh nhưng thiếu thống nhất về tổ chức, chưa có các văn bản pháp quy cần thiết, có đủ sức mạnh đảm bảo cho sự phát triển của thư viện nói chung. Về chuyên môn nghiệp vụ, từ phân loại tới mô tả, biên mục,... càng thiếu thống nhất hơn, mỗi nơi thực hiện một kiểu, không theo một chuẩn mực thống nhất nào. Với tình hình tổ chức và nghiệp vụ như vậy thì làm sao mạng lưới thư viện nước ta có thể có thể tạo nên sức mạnh nội sinh để bước vào kỷ nguyên hội nhập thế giới. Tại hội thảo quốc tế: "Hệ thống và Tiêu chuẩn cho Thư viện Việt Nam" họp tại Hà Nội từ ngày 26/9 đến 28/9/2001, việc áp dụng các chuẩn nghiệp vụ trong hoạt động thông tin - thư viện của nước ta trong những năm đầu Thiên niên kỷ mới đã được đại diện lãnh đạo Bộ Khoa học – Công nghệ, Bộ Văn hóa – Thông tin, Bộ Giáo dục - Đào tạo và giám đốc các Thư viện, Trung tâm thông tin Việt Nam nhất trí tán thành. Các chuẩn đó được xác định là: Khung phân loại Dewey (DDC), Khổ mẫu trao đổi thư mục MARC21 và quy tắc biên mục Anh-Mỹ AACR2. Dựa trên việc chuẩn hoá nghiệp vụ, các thư viện sẽ thực hiện tốt việc dùng chung tài liệu qua mạng trên phạm vi quốc gia và quốc tế, sử dụng các công nghệ tiên tiến trong các hoạt động thông tin-thư viện, nâng cao chất lượng dịch vụ, tiếp cận với thư viện các nước trong khu vực và thế giới. Như vậy, việc áp dụng các chuẩn quốc tế về nghiệp vụ vừa là đòi hỏi bức xúc của bản thân hoạt động thư viện trong nước, vừa phù hợp với thời kỳ hội nhập toàn diện với thế giới của đất nước ta. 2/ Đến việc lựa chọn các chuẩn nghiệp vụ quốc tế: Việc lựa chọn 3 chuẩn nghiệp vụ quốc tế tiêu biểu bao gồm: DDC, AACR2, MARC21 đã được đại diện các thư viện lớn, đầu ngành trao đổi khá kỹ tại các hội nghị, hội thảo quốc tế và trong nước. Các ý kiến đều thống nhất đánh giá ưu điểm của các chuẩn đã lựa chọn như sau: * Khổ mẫu MARC21: Là khổ mẫu nổi tiếng và được cộng đồng thông tin-thư viện sử dụng rộng rãi trên thế giới. Đến nay đã có một khối lượng khổng lồ các biểu ghi theo MARC21 hiện đang được lưu trữ trong các mục lục liên hợp của Hoa Kỳ (800 triệu biểu ghi), của mạng OCLC (50 triệu biểu ghi), của Thư viện Quốc hội Mỹ (20 triệu biểu ghi). Mặc dù đã có một số nước và thậm chí một vài hệ thống thư viện đã xây dựng cho riêng mình các phiên bản của MARC, nhưng các phiên bản đó vẫn không trở thành một tiêu chuẩn quốc tế. MARC21 đang trở thành một tiêu chuẩn quốc tế, vì đa số các nước nói tiếng Anh bây giờ đang sử dụng. Hầu hết các hệ quản trị thư viện lớn và nhỏ trên thị trường hiện nay đều sử dụng khổ mẫu MARC21 như một sự lựa chọn tối ưu nhất. Áp dụng khổ mẫu MARC21, Thư viện Việt Nam sẽ có điều kiện trao đổi dữ liệu biên mục với các thư viện lớn trên thế giới, nhất là các thư viện lớn của Hoa Kỳ. * Quy tắc biên mục Anh-Mỹ (AACR2) là bộ quy tắc nổi tiếng trên thế giới. Công trình AACR2 được đánh giá là đã đặt nền tảng cho sự hợp tác biên mục quốc gia và quốc tế. Vì vậy, AACR2 được sử dụng rộng rãi trên thế giới. Áp dụng quy tắc biên mục AACR2, Thư viện Việt Nam dễ dàng hội nhập vào cộng đồng quốc tế, nhất là việc tiếp cận và trao đổi thông tin về thư mục trên Internet. Trên cơ sở thống nhất cả nước áp dụng AACR2, chúng ta sẽ tạo nên tiền đề quan trọng bậc nhất để đi tới việc xây dựng các mục lục liên hợp quốc gia và trong tương lai, chúng ta có thể đóng góp vào cơ sở dữ liệu thế giới. Hơn thế nữa, áp dụng AACR2, chúng ta có thể kiểm soát được thư mục toàn cầu, đáp ứng tốt nhu cầu tìm tin của bạn đọc. * Khung phân loại thập phân Dewey (DDC): Là một công trình khoa học thư viện vĩ đại của thế giới, là một bách khoa thư, phân loại và tổng hợp tri thức của nhân loại. Với những ưu điểm vượt trội so với tất cả các khung phân loại hiện nay, như: tính cập nhật liên tục trước những biến động mạnh mẽ của tình hình chính trị thế giới, những thay đổi mau lẹ đang diễn ra trên lĩnh vực tri thức; cấu trúc, ký hiệu, phân cấp rõ ràng và về sự ứng dụng rộng rãi trên thế giới, Khung phân loại DDC đang trở thành một khung tiêu chuẩn quốc tế để tổ chức tri thức nhân loại trong các thư viện. Theo thống kê, hiện nay có hơn 200.000 thư viện của 135 quốc gia đang sử dụng DDC. Khung phân loại DDC cũng là hệ thống phân loại của 60 thư mục quốc gia trong đó có 15 quốc gia tại vùng châu Á - Thái Bình Dương. Vì tính khoa học và thông dụng, đến nay DDC đã được dịch sang 30 thứ tiếng khác nhau trên thế giới. Gần đây, WebDewey – sản phẩm tiên tiến nhất của DDC đã được giới thiệu rộng rãi trên mạng như một phương tiện hỗ trợ đắc lực cho công tác phân loại của các thư viện. Với sự phân tích trên, có thể nói việc lựa chọn 3 chuẩn nghiệp vụ: AACR2, MARC21 và DDC làm các tiêu chuẩn quốc tế cho thư viện Việt Nam áp dụng là một sự lựa chọn chính xác, khách quan và khoa học. Ba chuẩn mực này sẽ tạo nên một thế chân kiềng vững chắc, giúp cho thư viện Việt Nam phát triển trong thế giới hiện đại và thời kỳ hội nhập hiện nay. Việc quyết định áp dụng các chuẩn nghiệp vụ mới tuy có phần muộn màng, nhưng dù muộn còn hơn không. Gia nhập sân chơi thế giới, chúng ta phải tuân thủ luật chơi quốc tế, không thể chỉ hô khẩu hiệu “hội nhập” là đủ. Việc áp dụng các chuẩn mới là một thử thách lớn, thậm chí có thể coi là một cuộc “cách mạng” của thư viện Việt Nam. Nhưng, vì tương lai của sự nghiệp thư viện nước nhà, chúng ta không thể ngần ngại, chiết trung. Với nhận thức dứt khoát như vậy, Thư viện Quốc gia Việt Nam, với vai trò “Thư viện trung tâm của cả nước” đã và đang nỗ lực làm tất cả những gì có thể để “cuộc cách mạng nghiệp vụ thư viện” được triển khai nhanh hơn, mạnh hơn và hiệu quả hơn. II/ Triển khai áp dụng các chuẩn nghiệp vụ quốc tế: Để đưa các chuẩn nghiệp vụ vào các thư viện, theo sự phân công tại Hội thảo Quốc tế lần thứ 2 tháng 9/2002, Thư viện Quốc gia Việt Nam chịu trách nhiệm dịch Khung phân loại Dewey; Trung tâm Thông tin khoa học và Công nghệ quốc gia sẽ dịch Khổ mẫu MARC21 và Quy tắc biên mục Anh-Mỹ AACR2. Sau khi dịch, 2 đơn vị trên có trách nhiệm in, xuất bản và tổ chức đào tạo, huấn luyện cho cán bộ các thư viện và cơ quan thông tin thực hành áp dụng vào công tác của đơn vị mình. 1/ Quy tắc biên mục AACR2 rút gọn: Trước khi Trung tâm thông tin Khoa học và Công nghệ thực hiện việc dịch bản quy tắc AACR2 toàn văn, Thư viện Quốc gia Việt Nam đã phối hợp với Hội hỗ trợ Thư viện và Giáo dục Việt Nam tại Hoa Kỳ (LEAF-VN) tiến hành dịch bộ Quy tắc biên mục Anh – Mỹ rút gọn (CAACR2). Cuối năm 2000, bản dịch đã hoàn thành với chất lượng khá tốt. Hội LEAF-VN đã quyên góp tài chính, in 2.000 bản (khổ 17x25, 320 trang) tại Mỹ và gửi về như một quà tặng cho các thư viện Việt Nam. Thư viện Quốc gia Việt Nam là đầu mối tiếp nhận và đã phân phối miễn phí 1.800 bản cho các thư viện trên cả nước. Năm 2004, Thư viện Quốc gia Việt Nam phối hợp với Hội LEAF-VN tổ chức huấn luyện áp dụng quy tắc biên mục AACR2 bản rút gọn. Hai chuyên gia biên mục của Hoa Kỳ là bà Phạm Thị Lệ Hương (dịch giả CAACR2) và bà Ngọc Mỹ đã trực tiếp giảng dạy. Thư viện Quốc gia Việt Nam (TVQG) đã tổ chức 2 lớp ở Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh để đào tạo cho cán bộ thư viện tỉnh, các trường đại học và các thư viện chuyên ngành. Hơn 200 học viên đã được tập huấn trong thời gian mỗi lớp là 7 ngày. Thời gian thực hành được bố trí thích đáng nhằm giúp anh chị em thành thạo sau khi học. Để giúp cho học viên có điều kiện làm giáo viên huấn luyện lại cho anh chị em ở đơn vị, ban tổ chức lớp học đã cung cấp cho mỗi học viên bài giảng bằng giấy kèm theo đĩa CD-ROM: “Cẩm nang sử dụng AACR2”. Đồng thời, TVQG đã biên soạn tài liệu so sánh sự giống nhau và khác nhau giữa ISBD và AACR2 để cán bộ thuận tiện khi sử dụng. Riêng với đơn vị, chúng tôi đã biên soạn bộ tài liệu qui tắc mô tả tài liệu riêng, vừa phù hợp với AACR2 vừa phù hợp với sự đa dạng của nguồn tài liệu nhập vàoTVQG. Với cách tổ chức trên, trong một thời gian ngắn, TVQG đã góp phần đáng kể trong việc huấn luyện được một đội ngũ đông đảo các giảng viên có đủ năng lực để huấn luyện lại việc áp dụng AACR2 rút gọn cho cán bộ thư viện trên phạm vi cả nước. Tuy là bản rút gọn, nhưng như ông Michael Gorman - Giám đốc dịch vụ thư viện ĐH California đã đánh giá: “Quyển sách này (CAACR2) được soạn ra nhằm truyền đạt những nguyên tắc căn bản của ấn bản AACR2 (bản đầy đủ)… Đối với các biên mục viên ở các nước không dùng tiếng Anh, họ có thể dùng bản AACR2 rút gọn này như một bản tóm lược tổng hợp những ứng dụng của AACR2”. Kết quả của việc đào tạo áp dụng bản rút gọn của quy tắc biên mục Anh-Mỹ cho cán bộ thư viện đã tạo nên tiền đề thuận lợi khi chúng ta triển khai đào tạo áp dụng bản đầy đủ AACR2 vào cuối năm 2007. 2. Khổ mẫu MARC21: Sau Hội thảo quốc tế về “Hệ thống và tiêu chuẩn cho Thư viện Việt Nam”, ngày 22-23/11/2001 tại Trung tâm thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia (NASETIC) đã tổ chức hội thảo quốc gia và đi đến thống nhất áp dụng khổ mẫu MARC21 cho các thư viện Việt Nam. Với sự giúp đỡ về tài chính của quỹ Alantic Philanthropies và chuyên môn của bà Sally McCallum (Thư viện Quốc hội Mỹ), cuối năm 2004, Trung tâm thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia đã hoàn thành bản dịch với gần 1.000 trang khổ 21x30. Trung tâm đã ấn hành 300 bản (2 tập x 300 cuốn) sách “Khổ mẫu MARC21 cho dữ liệu Thư mục” để cung cấp tài liệu thực hành cho các thư viện và cơ quan thông tin. Xuất phát từ thực tế nhu cầu sử dụng MARC21 của các thư viện và cở sở thông tin trong nước, năm 2005, Trung tâm thông tin Khoa học và Công nghệ đã biên soạn và ấn hành 1.000 bản “MARC21 rút gọn cho dữ liệu thư mục”. Sách được phân phối rộng rãi trong cả nước làm tài liệu thông dụng cho việc áp dụng MARC21 vào công tác thư viện và thông tin. Tuy nhiên, cuối năm 2003, cùng với việc triển khai dự án Xây dựng hệ thống thông tin điện tử/kỹ thuật số cho Thư viện Quốc gia Việt Nam và hệ thống thư viện công cộng, TVQG đã chủ động triển khai đào tạo cho cán bộ biên mục tại đơn vị và toàn thể 64 thư viện tỉnh, thành áp dụng MARC21. Chúng tôi phải tiến hành huấn luyện áp dụng MARC21 sớm, trước khi có sách dịch MARC21 được in vì theo dự án, TVQG và mạng lưới thư viện tỉnh, thành phố ứng dụng phần mềm ILIB và SMALLIB mà 2 phần mềm này của công ty CMC đều áp dụng khổ mẫu MARC21 cho việc mô tả thư mục thư viện. Tạm thời, chúng tôi sử dụng các tài liệu: “Kiến thức cơ bản về MARC21” (CMC dịch 2001) và tài liệu “Tập huấn biên mục theo MARC21” (ông Vũ Văn Sơn biên soạn 2003) để huấn luyện tại các lớp về MARC21: Sau khi "Khổ mẫu MARC21 rút gọn cho dữ liệu thư mục" được dịch và xuất bản, các giảng viên là cán bộ TVQG đã qua đào tạo tại Trung tâm thông tin Khoa học và Công nghệ tiếp tục tổ chức các lớp tập huấn theo đúng chuẩn MARC21 cho các thư viện tỉnh, thành thuộc hệ thống thư viện công cộng trong cả nước. Gần đây nhất, tháng 11/2006 TVQG đã tổ chức lớp tập huấn tại Bình Thuận cho 76 học viên là cán bộ biên mục của các thư viện tỉnh, thành phía nam (từ Đà Nẵng trở vào). Tháng 12/2006, tại Hải Phòng, TVQG tiếp tục mở lớp tập huấn cho 83 học viên đến từ các thư viện tỉnh, thành phía Bắc (từ Thừa Thiên-Huế trở ra). Từ những kiến thức ban đầu, một mặt anh chị em tiếp tục tự nghiên cứu, mặt khác thông qua các hội nghị, hội thảo khu vực của các liên hiệp thư viện và sự tư vấn của TVQG, đến nay nói chung cán bộ các thư viện công cộng đã dần làm quen với khổ mẫu MARC21 trong công tác biên mục. Tại TVQG, khi tiến hành áp dụng MARC21 trong phần mềm mới, chúng tôi đã tiến hành hàng loạt hoạt động nghiên cứu, cải tiến cho phù hợp với yêu cầu công tác của đơn vị như: cải tiến qui trình xử lí sách; tổ chức biên soạn Thư mục Quốc gia ngay tại bộ phận xử lí hình thức; Dựa vào MARC21 để xây dựng những quy định thống nhất ở trường địa danh, hình thức tài liệu, phân loại tập trung theo 19 dãy và trường in phích và đặc biệt là đã thống nhất khi miêu tả trường 100 về tiêu đề chính-tên cá nhân, cho tên tác giả cá nhân người Việt Nam có thành phần họ theo tinh thần hội thảo 8/2004 của Trung tâm thông tin Khoa học và Công nghệ… Trong việc áp dụng khổ mẫu MARC21 và cũng là ứng dụng phần mềm mới, TVQG đã hoàn thành việc chuyển đổi hơn 220.000 biểu ghi từ phần mềm ISIS sang phần mềm ILIB. Các công ty tin học khi viết phần mềm đều sử dụng MARC21 từ nguyên gốc, nhưng khi Việt hoá và thể hiện giao diện cho người sử dụng thì lại theo thể hiện các hình thức khác nhau. TVQG đã nghiên cứu thành công việc xác định sự tương thích của các trường giữa 2 phần mềm cũ và mới, đảm bảo tốt cho việc chuyển đổi dữ liệu. Nhìn chung đến nay, cán bộ biên mục ở TVQG đã thành thạo việc sử dụng MARC21. 3. Phân loại thập phân Dewey (DDC) Được Quĩ từ thiện Atlantic Philanthropies hỗ trợ về tài chính, đầu năm 2004, TVQG đã tiến hành thành lập Hội đồng tư vấn và ban dịch thuật khung phân loại thập phân Dewey bao gồm những chuyên gia phân loại và những người có trình độ tiếng Anh tốt. Được các chuyên gia của Thư viện Quốc hội Hoa Kỳ nhiệt tình giúp đỡ, sau hơn 2 năm nỗ lực của ban biên dịch, Khung phân loại DDC14 bản rút gọn bằng tiếng Việt đã được hoàn thành. Ngày 16/8/2006, ấn bản DDC14 tiếng Việt lần đầu tiên đã được công bố tại Hà Nội. Cuối tháng 8/2006, ấn bản này đã được giới thiệu tại Đại hội Liên hiệp hội Thư viện quốc tế (IFLA) ở Hàn Quốc như một sự kiện tiến bộ đặc biệt của nghiệp vụ thư viện thế giới. Từ đó đến nay, với tư cách đơn vị chủ dự án, TVQG đã làm nhiều việc để đi đến mục tiêu áp dụng DDC trong tất cả các thư viện Việt Nam. Cụ thể: 3.1. Xúc tiến đề nghị Bộ VHTT ban hành văn bản chỉ đạo: - Ngày 7/11/2006 TVQG có tờ trình số 239/TTr-TVQG gửi Bộ VH-TT về việc đề nghị lãnh đạo Bộ cho chủ trương quyết định việc áp dụng DDC, MARC21, AACR2 trong tất cả các thư viện cả nước - Ngày 23/1/2007 TVQG có tờ trình số 23/TTr-TVQG gửi Bộ VH-TT về việc trình bày lộ trình áp dụng DDC ở Việt Nam - Ngày 31/1/2007 TVQG tổ chức cuộc họp với lãnh đạo Vụ Thư viện để xúc tiến giải quyết yêu cầu trên bằng việc tổ chức 1 cuộc hội thảo với đại diện các hệ thống thư viện - Ngày 18/3/2007, Vụ Thư viện, Hội Thư viện Việt Nam, TVQG đã phối hợp tổ chức hội thảo về việc áp dụng bộ chuẩn nghiệp vụ AACR2, MARC21, DDC vào các thư viện Việt Nam - Ngày 7/5/2007, Bộ VH-TT đã ban hành văn bản số 1598/BVHTT-TV về hướng dẫn việc áp dụng các chuẩn nghiệp vụ trên phạm vi cả nước. - Ngày 23/7/2007, Vụ Thư viện ban hành công văn số 2667/BVHTT-TV về triển khai áp dụng DDC, MARC21, AACR2 trong các thư viện. *Có thể nói, văn bản 1598 và 2667 là kết quả cả một quá trình vận động, giải trình, thuyết phục lãnh đạo Bộ VH-TT bằng những cứ liệu khoa học và thực tiễn. Tuy văn bản ra đời có phần chậm trễ, nhưng có thể coi đây là bước tiến bộ quan trọng bậc nhất về nhận thức, mở đường cho các hoạt động nghiệp vụ trên phạm vi cả nước trong quá trình hội nhập quốc tế 3.2. TVQG đã cấp 1.600 bản phân loại DDC14 miễn phí cho các thư viện, trung tâm thông tin, đơn vị cơ sở đào tạo trong cả nước. Sách đã đuợc phân phối kịp thời, đúng đối tượng như đã thống nhất tại cuộc họp của Hội đồng tư vấn. 3.3. TVQG đã tổ chức các lớp đào tạo, tập huấn, hội thảo như sau: 3.3.1. Tổ chức đào tạo giảng viên DDC: Với mục tiêu đào tạo giảng viên cho cả nước, TVQG đã tổ chức 2 lớp cho những cán bộ có kỹ năng phân loại tốt và có năng lực sư phạm khá của các các hệ thống thư viện trong cả nước. TVQG đã mời Giáo sư Oyler trực tiếp giảng dạy và ông Vũ Văn Sơn – Tổng biên tập DDC14 tiếng Việt làm trợ giảng. - Lớp tại Hà Nội: 9/10 - 13/10/2006 đào tạo có 30 giảng viên - Lớp tại Tp. Hồ Chí Minh: 30/10 - 4/11/2006 đào tạo 28 giảng viên Học viên được cung cấp tài liệu đầy đủ gồm: Bảng phân loại DDC14 rút gọn, đề cương bài giảng bằng giấy, bài tập, đáp án, sách thực tập. Sau khi đào tạo, các học viên có đủ năng lực làm tiểu giảng viên ở các lớp cơ sở. 3.3.2. Tổ chức tập huấn ở hệ thống Thư viện công cộng: 2 lớp - Lớp tại Bình Thuận: 20/11 - 2/12/2006. Có 75 học viên là cán bộ quản lí phụ trách nghiệp vụ và cán bộ biên mục đến từ các thư viện tỉnh, thành phía Nam (từ Đà Nẵng trở vào) - Lớp tại Hải Phòng: 10/12 - 22/12/2006. Có 76 học viên là cán bộ quản lí phụ trách nghiệp vụ và cán bộ biên mục đến từ các thư viện tỉnh, thành phía Bắc (Từ Thừa Thiên-Huế trở ra) Rút kinh nghiệm các lớp trước, trước khi tổ chức tập huấn, TVQG đã tiến hành biên soạn lại bài giảng một cách chi tiết hơn. Từ nguyên tắc chung đến các nguyên tắc cụ thể trong từng mục, các cách ghép đặc biệt có các ví dụ minh hoạ, có phần bài tập kèm theo, có so sánh đối chiếu với bảng phân loại 19 lớp để học viên dễ thực hiện khi trở về các thư viện. 3.3.3. Tổ chức đào tạo tại địa phương Dựa trên bài giảng chi tiết của TVQG biên soạn cho các lớp tập huấn cán bộ thư viện tỉnh, thành, một số thư viện tỉnh, thành đã tổ chức các lớp đào tạo, tập huấn cho các thư viện huyện, quận. Theo số liệu thống kê cuối tháng 7/2007, đã có 58% số thư viện tỉnh thuộc hệ thống thư viện công cộng được đào tạo sử dụng DDC. 42% số thư viện tỉnh còn lại dự định sẽ triển khai trong quý 3-4/2007 và 2 thư viện sẽ triển khai trong năm 2008. 3.3.4. Các lớp của hệ thống thư viện trường đại học: -Liên hiệp Thư viện Đại học phía Bắc đã tổ chức lớp tập huấn cho 80 cán bộ thư viện các trường đại học khu vực phía Bắc trong tháng 5/2007. -Trung tâm Học liệu Huế đã tổ chức đào tạo cho 30 cán bộ các thư viện trên địa bàn thành phố Huế. 3.3.5. Tổ chức hội thảo quốc tế: - Hội thảo ngày 8/6/2007, đánh giá 6 tháng áp dụng DDC của các hệ thống thư viện Việt Nam. Hội thảo kết luận: Các hệ thống thư viện Việt Nam đã chủ động triển khai DDC, tuy nhiên tiến độ còn chậm. Hệ thống thư viện công cộng và đại học triển khai tích cực hơn cả. Cần có những văn bản chỉ đạo cụ thể hơn trong việc áp dụng các chuẩn nghiệp vụ. Cần duy trì Văn phòng DDC với nhiệm vụ rộng hơn… - Hội thảo ngày 14/12/2007 đánh giá 1 năm áp dụng DDC của các hệ thống thư viện. Hội thảo kết luận: tình hình triển khai tương đối tốt. Mạng lưới thư viện chuyên ngành chưa triển khai, cần tìm hiểu nguyên nhân. Thư viện lực lượng vũ trang bắt đầu triển khai. Mạng lưới thư viện công cộng đã triển khai đồng bộ toàn hệ thống tại hội nghị tổng kết toàn quốc 6/8/2007. Nhiều thư viện tỉnh đã tổ chức các lớp đào tạo cho cán bộ thư viện huyện, thị. Thư viện đại học tiếp tục tổ chức nhiều lớp đào tạo lại, có sự giúp đỡ của Gs. Oyler. Hội thảo nhất trí việc TVQG chọn ông Vũ Văn Sơn làm Tổng biên tập dịch DDC.22. TVQG nhanh chóng xây dựng dự án dịch bản đầy đủ, kiện toàn lực lượng văn phòng DDC, nắm số lượng DDC14 cần in thêm. 3.3.6. Tổ chức đào tạo, tập huấn tại TVQG - Lớp tổ chức tại TVQG: 19/3 - 23/3/2007. Có 54 học viên là cán bộ chuyên môn ở các phòng ban tại Thư viện - Để triển khai một cách đồng bộ tất cả các khâu có liên quan đến DDC, TVQG đã tổ chức 2 cuộc họp chuyên đề bàn về vấn đề này. Đến nay, mọi người nhất trí việc cần thiết áp dụng DDC tại TVQG trong thời kỳ mới - thời kỳ hội nhập. Tuy nhiên, là thư viện lớn vào bậc nhất của cả nước, với vốn sách báo lên tới hàng triệu đơn vị, việc áp dụng khung phân loại DDC phiên bản nào là hợp lý? Sau khi nghiên cứu ý kiến của Hội đồng Khoa học đơn vị, Giám đốc đã quyết định: + Từ ngày 15/6/2007, toàn đơn vị sử dụng thống nhất khung phân loại DDC ấn bản 14 đã được dịch ra tiếng Việt trong công tác phân loại. + Từ 1/1/2008, tiếp tục sử dụng khung phân loại DDC ấn bản rút gọn 14 tiếng Việt và áp dụng DDC ấn bản đầy đủ 22 nguyên bản tiếng Anh cho sách thuộc các môn loại khoa học và kỹ thuật khi xét thấy cần thiết. + Ngoài ra, Giám đốc đã quyết định duy trì Văn phòng DDC với sự tham gia của các phòng liên quan. Văn phòng do Giám đốc trực tiếp điều hành nhằm đôn đốc, thúc đẩy, hỗ trợ việc áp dụng DDC trong cả nước, trao đổi kinh nghiệm, trả lời các vấn đề vướng mắc trong quá trình áp dụng, ổn định WebDDC và xây dựng dự án dịch DDC22. + Trong tháng 6 vừa qua, để việc áp dụng DDC đạt hiệu quả tốt, TVQG đã phải giải quyết hàng loạt vấn đề liên quan như: in nhãn xếp giá (cutter) tự động cho các kho tự chọn, hồi cố dữ liệu phân loại cho các kho tự chọn, cấu trúc lại Thư mục Quốc gia, các quy định trong việc phân loại tác phẩm văn học thiếu nhi, văn học Việt Nam (tác giả cá nhân, nhiều tác giả, sưu tập), sách khoa học thường thức viết cho thiếu nhi, truyện tranh, sách giáo khoa, sách bài tập, sách đọc thêm cho học sinh phổ thông và sách giáo trình; cách ghép một số mục đặc biệt trong bảng… và đặc biệt là vấn đề phân loại cho những tác phẩm của Hồ Chí Minh, nói về Hồ Chí Minh, chủ nghĩa Mác-Lênin và nói về chủ nghĩa Mác-Lênin… Trong thời đại hoà nhập toàn cầu hiện nay, sự phát triển kinh tế, xã hội và khoa học kỹ thuật của tất cả các nước nói chung và Việt Nam nói riêng đều cần được cung cấp đúng, đủ và kịp thời lượng thông tin cần thiết. Thông tin đang là mạch máu duy trì sự sống và là một trong những nguồn lực quyết định sức mạnh của đất nước. Thư viện vừa là cơ sở cho thông tin phát triển, vừa là một thành viên có nhiều thế mạnh trong mạng thông tin chung của quốc gia. Mạng lưới thư viện toàn quốc mà mạnh thì công tác thông tin quốc gia cũng được gia tăng thêm sức mạnh. Song song với những tiến bộ vượt bậc về công tác tổ chức, mà tiêu biểu là sự ra đời của Pháp lệnh Thư viện và Hội Thư viện Việt Nam, việc áp dụng các chuẩn nghiệp vụ sẽ giúp cho Thư viện nước ta nhanh chóng có bước phát triển vượt bậc, vị thế trên trường quốc tế sẽ được nâng cao, mục tiêu “Thống nhất, chuẩn hóa, chia sẻ và hội nhập” của sự nghiệp Thư viện nước nhà sẽ trở thành hiện thực! ______________ Phạm Thế Khang: Giám đốc Thư viện Quốc gia Việt Nam (Nguồn: Tạp chí Thư viện Việt Nam)  
 
 
  
  
Tóm tắt
Nội dung
  
  
  
  
Những thách thức trong việc ứng dụng thư viện số tại Việt NamNhững thách thức trong việc ứng dụng thư viện số tại Việt Nam
Ngày nay, sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin đã tạo ra hàng loạt các sản phẩm công nghệ hiện đại và có tính ứng dụng cao. Các loại hình sản phẩm này đã tác động và làm biến đổi về chất các loại hình thư viện truyền thống. Từ đó dần hình thành loại hình thư viện số tại Việt Nam. Trước hết, chúng ta cần hiểu rõ khái niệm về thư viện số: Thư viện số là tập hợp của các máy tính số, các thiết bị máy móc lưu trữ và trao đổi thông tin cùng với bối cảnh và phần mềm cần thiết để sản xuất và cung cấp các dịch vụ thông tin thư viện tương tự như các thư viện truyền thống vẫn làm đối với tài liệu giấy và các loại hình tài liệu truyền thống khác trong qua trình thu thập, biên mục, tìm kiếm và phố biến thông tin…hay nói cách khác thư viện số chính là nơi sử dụng công nghệ để chuyển câu hỏi thành câu trả lời.
Các thư viện số là các tổ chức cung cấp nguồn lực, trong đó bao gồm các chuyên gia, để lựa chọn thông tin, cấu trúc hóa, đưa ra các phương thức truy cập và phân phối thông tin hiệu quả, cũng như đảm bảo sự toàn vẹn và của bộ sưu tập số sao cho chúng luôn sẵn sàng và kinh tế để phục vụ một cộng đồng cụ thể hoặc một nhóm cộng đồng. Tính năng vượt trội Bắt nguồn từ sự phát triển của Internet, thư viện số đã trải qua một vài giai đoạn phát triển và có những thành tựu quan trọng trong việc cung cấp nguồn thông tin và dịch vụ tốt hơn và thuận tiện hơn cho người dùng tin.
Việc số hóa tài liệu sẽ giúp giảm thiểu đáng kể diện tích, không gian lưu giữ; Thứ hai là giúp việc bảo quản, duy trì tuổi thọ của tài liệu truyền thống được lâu hơn; Thứ ba là dễ dàng mở rộng phạm vi cộng đồng người sử dụng nguồn tài nguyên thông tin của cơ quan thông tin, thư viện; Thứ tư là tiện ích trong việc truy xuất tìm kiếm thông tin ở bất kỳ đâu vào bất cứ thời điểm nào một cách nhanh chóng, dễ dàng; Thứ năm là thuận lợi trong việc chia sẻ nguồn tài nguyên thông tin của thư viện với các thư viện khác. Thứ sáu là giảm thiểu tối đa sức người, sức của cho việc quản lý nguồn tài nguyên thông tin truyền thống; Thứ bảy là góp phần nhanh chóng tái tạo thông tin mới có giá trị gia tăng cao hơn. Khó khăn và thách thức Do cấu trúc và tính năng hiện đại, thư viện số hoạt động dựa trên cơ sở là những thành tựu mới nhất về công nghệ thông tin, bởi vậy, việc ứng dụng thư viện số đã gặp phải không ít những khó khăn và thách thức. Thách thức đầu tiên đến từ các vấn đề kỹ thuật, mà quan trọng nhất là vấn đề lưu trữ nguồn tài liệu dạng số. Để có thể cung cấp lượng thông tin cần thiết, cả dạng số và truyền thống, các thư viện số phải thu thập và lưu trữ một số lượng lớn các thông tin chất lượng cao. Thông tin số hoá do đó là một phần quan trọng của vốn tài liệu.
Tuy nhiên, đây là một nhiệm vụ nặng nề bởi việc lưu trữ và bảo quản tài liệu số cần có một số những yêu cầu cụ thể, đặc biệt là đối với tất cả những tư liệu số đặc biệt, độc đáo với những yếu tố then chốt cần phải được lưu trữ, đó là khả năng cho phép sao chép một cách hoàn hảo, cho phép truy cập không giới hạn về đồ hoạ. Bản chất và phạm vi của việc lưu trữ thông tin số hoá dài hạn đòi hỏi các hoạt động hợp tác giữa các tổ chức. Không một cơ quan riêng lẻ nào có khả năng thực hiện vai trò lưu trữ tất cả các tài liệu số và các thoả thuận và liên minh hợp tác là cần thiết để có thể xử lý được một loạt các vấn đề, ví dụ như phân chia trách nhiệm cho từng lĩnh vực hoặc loại hình tài liệu cụ thể, mức độ trùng lắp thông tin lưu trữ, hoặc các điểm truy cập, các nguồn tài chính, và các quốc gia hoặc vùng khác nhau. Một thách thức khác được đặt ra đó là tác quyền và việc truy cập thông tin bởi lẽ vật mang tin số không giống như các vật mang tin truyền thống như sách báo, CD,…Hơn nữa, các thư viện và cơ quan lưu trữ cũng có thể quan tâm đến việc số hoá một số tài liệu cũ. Tài liệu này có thể không có bán trên thị trường nữa nhưng vần còn bản quyền. Nếu thư viện muốn số hoá tài liệu này, họ phải, hoặc là yêu cầu cấp giấy phép từ người giữ bản quyền cho phép số hoá tài liệu, hoặc là chấp nhận nguy cơ bị kiện và tiến hành số hoá tài liệu. Hỗ trợ bạn đọc tìm kiếm thông tin là một trong những dịch vụ then chốt của thư viện số. Điều này cũng tạo ra một thách thức lớn cho cán bộ thư viện số, những người phải hoàn thành nhiệm vụ khó khăn là hỗ trợ người sử dụng tìm kiếm thông tin trong môi trường web.


 Bên cạnh những thách thức trên, để có thể cung cấp nguồn tài liệu số phong phú, tất nhiên còn rất nhiều thách thức khác mà thư viện số phải đối mặt, ví dụ như sự phát triển liên tục của cơ sở hạ tầng thông tin toàn cầu dẫn đến những thay đổi về công nghệ; sự phát triển của các công nghệ hỗ trợ việc tìm kiếm thông tin trên mạng; tuân thủ và phát triển các tiêu chuẩn về tính năng hoạt động liên thông và thư viện số liên kết.

Để xây dựng được một nền CNND ở tầm quốc gia cần phải: Có một hành lang pháp lý đủ mạnh để: một mặt, tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân tìm kiếm, xử lý, số hoá, bao gói, chuyển giao thông tin; mặt khác, bảo vệ thiết  thực  bản  quyền  tác  giả  đối  với  các  CSDL cũng  như những thông tin mà các cá nhân, tổ chức sở hữu và tất nhiên là bảo đảm bí mật quốc gia; Có sự phối hợp chặt chẽ về mặt tổ chức, liên kết, phân công phân mảng giữa các cơ quan có hoạt động số hoá tài liệu; Có  lực  lượng  cán  bộ  chuyên  trách  thu  thập,  số  hoá,  bao  gói  thông  tin  (lực lượng này không phải chỉ là cán bộ thông tin, thư viện); 

Trang bị các thiết bị hiện đại cho các cơ sở tham gia số hoá: ví dụ các máy quét  chuyên  dụng  (nhanh,  chất  lượng  cao,  quét  được  các  khổ  lớn,  màu  sắc đẹp...); các USB, các máy chủ sao lưu với dung lượng lớn (hàng nghìn GB); các máy sao CD chuyên dụng,... Đặc biệt, đối với Việt Nam- một quốc gia còn rất phụ thuộc và bị động với nền công nghệ thế giới thì việc ứng dụng và sử dụng một cách hiệu quả thư viện số là một vấn đề hết sức khó khăn và phức tạp. Tuy nhiên nhìn chung, việc tiến tới thư viện số là xu hướng tất yếu, là mong muốn của mỗi thư viện. Bởi vậy, để có được một thư viện số hoạt động có hiệu quả, phát huy được thế mạnh “thông tin đặc thù” của mình, cơ quan chủ quản cần có kế hoạch sát thực, lựa chọn bước đi phù hợp, phải có chương trình thu thập, số hoá tài liệu và tạo lập các CSDL một cách đầy đủ, kịp thời, đặc biệt là các CSDL toàn văn với các tài liệu có giá trị lâu dài thuộc phạm vi bao quát của cơ quan.

(theo http://vanhoa.gov.vn/)

6/9/2015 5:00 PMĐã ban hành/Shared Documents/2015-06/mbia sach.jpg
Mối quan hệ giữa địa chính trị và địa kinh tế: Lý luận và thực tiễnMối quan hệ giữa địa chính trị và địa kinh tế: Lý luận và thực tiễn

(LLCT) - Địa kinh tế và địa chính trị có mối quan hệ biện chứng, tác động qua lại và gắn bó chặt chẽ với nhau. Trong khi nhân tố địa kinh tế ngày càng gia tăng sức nặng và tầm quan trọng trong chính trị quốc tế thì ngược lại, biến động và đảo lộn địa chính trị sẽ tác động đến địa kinh tế. Nhận thức đúng đắn mối quan hệ giữa địa kinh tế và địa chính trị, vận dụng, xử lý hiệu quả các vấn đề địa chính trị và địa kinh tế trong hoạch định và thực thi chiến lược phát triển quốc gia, nhất là chiến lược đối ngoại và hội nhập quốc tế là chìa khóa quan trọng để đưa đất nước đi tới sự ổn định và thịnh vượng.

1. Khái niệm và nội hàm địa chính trị, địa kinh tế

Từ rất sớm trong lịch sử, các nhà tư tưởng phương Tây cổ đại đã bàn đến mối liên quan giữa các đặc trưng và điều kiện địa lý với chính sách và hành vi chính trị của các nhà nước. Tuy nhiên, phải đến cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, khái niệm và nội hàm thuật ngữ "địa chính trị" (Geopolitics) mới lần đầu tiên được sử dụng bởi nhà khoa học chính trị người Thụy Điển John Rudolf Kjellén vào năm 1899 trong tác phẩm "Nhà nước như một cơ thể sống" (The State as a Living Form). Trong đó, J. R. Kjellén cho rằng, các yếu tố địa lý và môi trường tự nhiên sẽ quy định các đặc điểm về chính trị, kinh tế và quân sự của mỗi quốc gia theo nghĩa chúng có thể tạo thuận lợi hoặc kìm hãm các quá trình phát triển chính trị, kinh tế - xã hội, đồng thời góp phần định hình văn hóa chính trị, bản sắc và lịch sử của mỗi quốc gia. Từ sau đó, thuật ngữ "địa chính trị" được bàn luận nhiều trong các lý thuyết về chính trị và quan hệ quốc tế cũng như được vận dụng phổ biến trong hoạch định và thực thi chiến lược, chính sách đối ngoại của nhiều quốc gia, nhất là của các cường quốc(1).

Mặc dù chưa có sự nhận thức thống nhất trong giới học giả và hoạch định chính sách về khái niệm và nội hàm của thuật ngữ địa chính trị, song về cơ bản, thuật ngữ này được hiểu dưới hai khía cạnh: 1) dưới lăng kính lý thuyết, "địa chính trị" được hiểu như là một cách tiếp cận của khoa học chính trị nghiên cứu về mối quan hệ tương tác có tính nhân quả giữa các yếu tố và điều kiện địa lý, môi trường tự nhiên với đặc điểm và xu hướng vận động của không gian quyền lực chính trị của quốc gia, khu vực cũng như sự vận động của không gian quyền lực trong chính trị quốc tế gắn với quốc gia, khu vực; 2) dưới góc nhìn thực tiễn chính trị quốc tế, "địa chính trị" được nhìn nhận như là chiến lược đối ngoại và hành vi quốc tế của các quốc gia, nhất là chiến lược toàn cầu của các cường quốc nhằm mục tiêu cạnh tranh ảnh hưởng và kiểm soát các không gian quyền lực trọng yếu trên bàn cờ chính trị quốc tế(2).

Trong khi khái niệm "địa chính trị" xuất hiện từ hàng thế kỷ trước và được bàn luận rộng rãi, thuật ngữ "địa kinh tế" (Geo-economics) xuất hiện muộn hơn nhiều và nó vẫn còn khá mới mẻ trong ngôn ngữ cũng như thực tiễn chính trị quốc tế và chính sách đối ngoại quốc gia. Năm 1942, nhà khoa học người Mỹ George T. Renner là người đầu tiên sử dụng thuật ngữ địa kinh tế(3). Tuy nhiên, phải đến năm 1990 khi xuất hiện bài báo "Từ địa chính trị tới địa kinh tế: lôgic của xung đột, ngôn ngữ của thương mại" của nhà khoa học chính trị nổi tiếng người Mỹ Edward Luttwak, khái niệm và nội hàm thuật ngữ địa kinh tế mới được nghiên cứu và chứng minh một cách khá rõ ràng về mặt lý thuyết và trong thực tiễn chính trị quốc tế. Trong bài báo đó, Luttwak cho rằng, chiến tranh lạnh kết thúc, thế giới chuyển từ thời đại địa chính trị sang thời đại của địa kinh tế, mà ở đó cuộc đua tranh giữa các quốc gia dù vẫn được xác định bởi "logic của xung đột" nhưng thông qua "ngôn ngữ thương mại"(4). Theo quan điểm của Luttwak, địa kinh tế là hình thức mới của sự cạnh tranh sức mạnh giữa các quốc gia sau chiến tranh lạnh. Ông cho rằng, chính trị quốc tế thời kỳ hậu chiến tranh lạnh mặc dù vẫn bị chi phối bởi cạnh tranh sức mạnh giữa các nhà nước nhưng chiến trường chủ yếu là kinh tế thay vì quân sự, phương tiện ưa thích được các nhà nước sử dụng để theo đuổi các mục tiêu đối kháng nhau sẽ là kinh tế hơn là quân sự(5). Theo Luttwak, sức mạnh quốc gia trong kỷ nguyên địa kinh tế xuất phát từ vốn tư bản thay vì sức mạnh hỏa lực, đổi mới dân sự thay cho tiến bộ kỹ thuật quân sự và thâm nhập thị trường thay cho các đồn bốt và căn cứ. Trong một kỷ nguyên như vậy, Luttwak dự báo rằng: "các biện pháp trừng phạt kinh tế thay thế các cuộc tấn công quân sự, các cơ chế cạnh tranh thương mại thay thế các liên minh quân sự, chiến tranh tiền tệ phổ biến hơn so với việc chiếm đóng lãnh thổ và việc thao túng giá tài nguyên như dầu mỏ mang lại hậu quả lớn hơn so với các cuộc chạy đua vũ trang thông thường"(6). Ông cho rằng, trong bối cảnh cạnh tranh mới, việc chính phủ sử dụng vốn đầu tư vào phát triển công nghiệp là tương đương với vũ khí nóng, vào sự phát triển sản phẩm tương đương với việc cải tiến vũ khí, và sự thâm nhập thị trường quốc tế cũng tương đương như triển khai ảnh hưởng ngoại giao(7). Bài báo đó cùng với một loạt công trình nghiên cứu nổi tiếng khác của ông bàn về địa kinh tế đã đưa Luttwak trở thành học giả có ảnh hưởng nhất trong lĩnh vực nghiên cứu này. Nhìn chung, địa kinh tế theo quan điểm của Luttwak về bản chất vẫn là chính trị dựa trên sức mạnh dưới góc nhìn hiện thực chủ nghĩa nhưng được thực hiện bởi phương tiện khác, lợi ích quốc gia vẫn là nổi bật, và kinh tế ngày càng trở thành đòn bẩy quan trọng mà các nhà nước sử dụng để theo đuổi các lợi ích quốc gia chiến lược trong quan hệ quốc tế. 

Trong những năm gần đây, thuật ngữ địa kinh tế được bàn luận sôi nổi và ngày càng có vị trí nổi bật như một cách tiếp cận nghiên cứu quan hệ quốc tế và chính sách đối ngoại của các nhà nước. Tuy nhiên, cũng như thuật ngữ "địa chính trị", cách hiểu về khái niệm và nội hàm thuật ngữ "địa kinh tế" là không thống nhất trong các nghiên cứu của giới học giả. Từ các quan điểm của giới học giả, nổi lên hai trường phái chủ yếu bàn luận về địa kinh tế là trường phái Luttwak và những quan điểm khác với trường phái Luttwak.

Các quan điểm theo trường phái Luttwak nhìn chung xem địa kinh tế như một phương tiện thực hành chính sách đối ngoại của các quốc gia nhằm theo đuổi các mục tiêu chiến lược trong quan hệ quốc tế. Các học giả của trường phái này đã tập trung vào vai trò, tầm quan trọng của nhân tố kinh tế trong cuộc cạnh tranh quyền lực giữa các quốc gia trong chính trị quốc tế. Hudson xem địa kinh tế là chiến lược kiểm soát lãnh thổ mang động lực kinh tế và được thực hiện bằng các phương tiện kinh tế, mà quan trọng nhất là đầu tư và thương mại(8). Theo Hsiung, địa kinh tế là một sự chuyển đổi từ mối quan tâm quân sự sang mối quan tâm về an ninh kinh tế trong chính trị toàn cầu (9). Trong khi đó, một số học giả coi địa kinh tế là một hình thức biểu hiện mới của chính trị cường quyền, đó là việc sử dụng các công cụ kinh tế để bảo vệ và thúc đẩy quyền lực quốc gia cũng như mục tiêu kiểm soát các không gian địa chính trị trọng yếu của thế giới mà không viện tới sức mạnh và sự răn đe quân sự(10). Liên quan đến khía cạnh này, nhiều học giả chỉ ra rằng, những mục tiêu lớn trong chiến lược đầu tư, thương mại và xây dựng cơ sở hạ tầng của Trung Quốc ở các nước đang phát triển Á - Phi - Mỹ Latinh hiện nay là nhằm tiếp cận nguồn tài nguyên và thúc đẩy sự phụ thuộc kinh tế bất đối xứng của các quốc gia này vào Trung Quốc và qua đó để gia tăng ảnh hưởng chính trị của Bắc Kinh, định hình chính sách đối ngoại của họ theo cách phù hợp với lợi ích quốc gia của Trung Quốc(11). Bên cạnh đó, Mattlin và Wigell cho rằng các chiến lược địa kinh tế cũng là phương tiện điển hình được sử dụng bởi Trung Quốc và Ấn Độ nhằm cân bằng mềm với sức mạnh vượt trội của Hoa Kỳ(12).

Một số nhà nghiên cứu khác khi bàn về khái niệm địa kinh tế lại tập trung vào khía cạnh mối quan hệ giữa địa kinh tế và địa chính trị, cho rằng đây là hai khái niệm có mối quan hệ chồng chéo, có tính tương tác qua lại và thúc đẩy lẫn nhau. Theo Baru, địa kinh tế nghiên cứu mối quan hệ giữa chính sách kinh tế và sự thay đổi đối với quyền lực quốc gia và địa chính trị. Cụ thể, khái niệm địa kinh tế được cấu thành bởi hai thành tố cốt lõi là "thương mại theo sau lá cờ" và "lá cờ theo sau thương mại", nghĩa là những khuynh hướng biến động của địa chính trị và quyền lực quốc gia trong quan hệ quốc tế sẽ kéo theo những hệ quả về kinh tế và ngược lại những biến động kinh tế lớn sẽ dẫn tới những hệ quả địa chính trị(13). Cũng theo Baru, địa kinh tế là sự tác động lẫn nhau giữa kinh tế và địa chính trị mà theo đó sự gia tăng hay suy giảm sức mạnh kinh tế của một quốc gia, khu vực cụ thể sẽ có hệ quả tác động về mặt địa chính trị. Baru lấy dẫn chứng về hệ quả địa chính trị của sự sụp đổ và tan rã của Liên Xô bắt nguồn từ sự suy sụp kinh tế của siêu cường này. Tuy nhiên, Baru cũng lưu ý rằng sức mạnh địa kinh tế của một quốc gia không tự động theo sau sức mạnh kinh tế của quốc gia đó. Baru đã dẫn chứng trường hợp sức mạnh và ảnh hưởng quân sự, chính trị của Nhật Bản trên thế giới không tương xứng với sức mạnh và tầm ảnh hưởng kinh tế của nó(14).

Ở một góc nhìn khác, Scott cho rằng, việc kiểm soát các tuyến giao thương hàng hải quốc tế là thiết yếu cả về khía cạnh địa kinh tế và địa chính trị(15). Trong khi đó, Grosse xem địa kinh tế là sự hợp nhất của các mục tiêu kinh tế và địa chính trị và cho rằng các chiến lược đối ngoại của các nhà nước, nhất là của các cường quốc thường là sự kết hợp của việc triển khai cả sức mạnh kinh tế và quân sự(16). Huntington thì xem sức mạnh kinh tế và sức mạnh quân sự có liên quan chặt chẽ với nhau, theo đó, quyền lực kinh tế sẽ giúp các quốc gia có được lợi thế trong công nghệ và trở nên mạnh mẽ hơn về mặt quân sự(17).

Trong khi đi theo trường phái của Luttwak trong nhìn nhận bản chất của địa kinh tế, Blackwill và Harris đi ngược lại với quan điểm của Luttwak khi lưu ý rằng, các công cụ kinh tế và quân sự cùng tồn tại, củng cố lẫn nhau trong chính sách và hành vi đối ngoại của các nhà nước và việc sử dụng chúng như thế nào tùy thuộc vào nhận thức của mỗi nhà nước về những thách thức và mục tiêu cụ thể mà họ đối mặt và theo đuổi (18). Phân biệt hai khái niệm này, hai ông cho rằng, địa chính trị giải thích và dự đoán quyền lực nhà nước thông qua một loạt các thông số địa lý liên quan, như lãnh thổ, dân số, thành tựu kinh tế, nguồn tài nguyên hay năng lực quân sự. Trong khi đó, địa kinh tế giải thích cách một nhà nước xây dựng và thực thi quyền lực thông qua các công cụ kinh tế(19).

Bên cạnh trường phái Luttwak là chủ đạo, ngày càng xuất hiện những quan điểm khác với Luttwak khi bàn về khái niệm địa kinh tế. Trong số đó, một số học giả tập trung giải thích các điều kiện địa lý định hình và quy định các hệ quả kinh tế như thế nào. Ví dụ, Kapyla và Mikkola cho rằng các điều kiện địa lý ở Bắc Cực thúc đẩy các quốc gia hợp tác với nhau vì đối đầu mở sẽ gây rủi ro cho mục tiêu kinh tế của nhau(20). Một số nhà nghiên cứu thì định nghĩa địa kinh tế thông qua tìm hiểu tác động của các cấu trúc vật chất trong không gian địa lý đối với các mối quan hệ kinh tế với bên ngoài của các quốc gia(21). Một số học giả khác đi xa hơn với trường phái Luttwak khi liên hệ địa kinh tế với sự trỗi dậy của các tác nhân mới mang tính xuyên quốc gia có ảnh hưởng tới những động lực kinh tế và chính trị. Mercille cho rằng, mặc dù các nhà chính trị và các thương gia đều có mục tiêu chung là sự ổn định của hệ thống kinh tế, nhưng họ lại khác nhau về các phương tiện theo đuổi mục tiêu thích hợp. Do vậy, các thương nhân thì hành động theo logic của địa kinh tế, trong khi các chính trị gia hành động theo logic địa chính trị(22). Barton thì phân biệt kỷ nguyên địa chính trị là về các nhà nước bá quyền và sự ổn định trong quan hệ quốc tế, trong khi kỷ nguyên địa kinh tế được đặc trưng bởi các chủ thể phi nhà nước mang tính linh hoạt cao và những mối quan hệ xuyên quốc gia không có biên giới(23). Trong khi đó, Cowen và Smith thì chỉ ra đặc trưng của thời đại địa kinh tế là nền sản xuất toàn cầu ngày càng được phân đoạn, sự gia tăng của các tập đoàn xuyên quốc gia, các mối đe dọa an ninh mang tính xuyên biên giới lãnh thổ(24).

Một cách tiếp cận khác với Luttwak trong định nghĩa địa kinh tế là đảo ngược nó từ phương tiện thành mục tiêu, theo đó, nhấn mạnh cách mà các nhà nước sử dụng sức mạnh cơ bắp và các lợi thế địa chính trị để đạt được các mục tiêu kinh tế trong quan hệ quốc tế. O'Hara và Heffernan xem địa kinh tế là tiềm năng các nguồn tài nguyên thiên nhiên của một quốc gia, khu vực và chiến lược của việc kiểm soát và khai thác các nguồn tài nguyên này(25). Youngs thì cho rằng, địa kinh tế bàn luận xoay quanh việc nhà nước sử dụng các công cụ sức mạnh và lợi thế của mình trong quan hệ quốc tế để đạt được các mục tiêu kinh tế(26). Tuy vậy, những người theo quan điểm này cũng lưu ý rằng, mục tiêu rốt cuộc của điều này là gia tăng sức mạnh tổng thể quốc gia trong cạnh tranh quyền lực quốc tế. Do đó, chìa khóa để hiểu địa kinh tế chính là các mục tiêu chính trị ẩn dấu phía sau nó(27).

Trong khi những quan điểm khác với Luttwak trên đây vẫn chia sẻ cơ sở khoa học rộng lớn với Luttwak trong khái niệm địa kinh tế, góc nhìn về địa kinh tế của những người theo trường phái kiến tạo khác một cách căn bản với tất cả những quan điểm địa kinh tế trên đây khi cho rằng cái gọi là địa kinh tế chỉ là những diễn ngôn lòe bịp về mặt chiến lược một địa điểm hoặc không gian nào đó trong nền kinh tế toàn cầu hóa, nó không phải là một mô tả khách quan về các chiến lược không gian kinh tế mà là một cách nhìn thế giới mang tính chủ quan mà theo đó các chiến lược đó được coi là hợp lý hay không hợp lý(28). Chỉ xem địa kinh tế như là những diễn ngôn mang tính chủ quan, trường phái kiến tạo bỏ qua các cấu trúc vật chất có ảnh hưởng đến quan hệ quốc tế mà không phụ thuộc vào ý muốn và suy nghĩa của những người diễn ngôn nó. Hơn nữa, trường phái kiến tạo cũng không đưa ra được cách giải thích tốt hơn, thuyết phục hơn trường phái Luttwak về thuật ngữ địa kinh tế.

Trên cơ sở lý thuyết và sự phân tích các quan điểm, trường phái khác nhau về địa kinh tế như trên, có thể rút ra khái niệm địa kinh tế như sau: Địa kinh tế là một cách tiếp cận của khoa học chính trị nghiên cứu về mối quan hệ tương tác giữa quyền lực của quốc gia trong quan hệ quốc tế với các điều kiện địa lý và kinh tế. Nội hàm khái niệm địa kinh tế được thể hiện với hai khía cạnh:

Thứ nhất, về mặt lý thuyết, như là một khung phân tích hay một cách tiếp cận trong phân tích quan hệ quốc tế và chính sách đối ngoại, địa kinh tế nghiên cứu mối quan hệ qua lại giữa kinh tế, địa lý và chính trị quốc tế. Cụ thể hơn, địa kinh tế nghiên cứu tác động của các đặc điểm và điều kiện địa lý đối với nền tảng kinh tế của quyền lực quốc gia, khu vực trong quan hệ quốc tế.

Ở khía cạnh lý thuyết, địa kinh tế cộng hưởng, bổ sung và đóng góp cho những thiếu khuyết trong góc nhìn của chủ nghĩa hiện thực trong phân tích bản chất của chính trị quốc tế và chính sách đối ngoại trong thế giới đương đại khi nó cho rằng các đặc trưng địa lý đặc thù về không gian và địa điểm có vai trò trong định hình quan hệ quốc tế và chính sách đối ngoại. Nó cũng nhấn mạnh vai trò của các công cụ kinh tế trong cạnh tranh sức mạnh tương đối giữa các nhà nước thay vì đề cao sức mạnh quân sự và nhấn mạnh yếu tố phân bổ sức mạnh giữa các nhà nước trong hệ thống quốc tế như những người tân hiện thực quan niệm. Như một khuôn khổ phân tích, địa kinh tế cũng bổ khuyết cho những hạn chế trong quan niệm của chủ nghĩa tự do, rằng sự phụ thuộc kinh tế lẫn nhau giữa các quốc gia trong thời đại toàn cầu hóa dẫn tới việc các nhà nước sẽ từ bỏ chính trị cường quyền, theo đuổi chính sách đối ngoại hòa bình, hợp tác, cùng phát triển.

Thứ hai, về mặt thực hành, như một chiến lược chính sách đối ngoại của các nhà nước, địa kinh tế nghiên cứu việc sử dụng các công cụ sức mạnh kinh tế của các nhà nước để hiện thực hóa các mục tiêu chiến lược của quốc gia trong quan hệ quốc tế (nổi bật là mục tiêu quyền lực) gắn với không gian địa lý nhất định. Các công cụ địa kinh tế chính mà các nước thường sử dụng, bao gồm: chính sách thương mại, đầu tư; trừng phạt kinh tế; chính sách viện trợ, tài chính, tiền tệ; chính sách nợ, năng lượng và hàng hóa... Rõ ràng là để hiểu đầy đủ và đúng đắn các mối quan hệ quốc tế trong thế giới đương đại đòi hỏi sự hiểu biết về vai trò của các công cụ kinh tế khác nhau và việc các nhà nước sử dụng các công cụ đó như thế nào để theo đuổi các mục tiêu chiến lược của mình trong quan hệ quốc tế.

2. Mối quan hệ giữa địa kinh tế và địa chính trị

Từ những phân tích khái niệm và nội hàm trên đây, có thể rút ra một số khía cạnh của mối quan hệ giữa địa kinh tế và địa chính trị như sau:

Một là, địa kinh tế và địa chính trị có mối quan hệ biện chứng, tác động qua lại và gắn bó chặt chẽ với nhau. Mối quan hệ giữa địa kinh tế và địa chính trị gắn bó tới mức như Scholvin và Wigell đã chỉ ra là nhiều học giả thường không làm rõ ranh giới giữa hai phạm trù này(29). Cách hiểu phổ biến nhất được nhiều học giả đề cập, đó là địa kinh tế nằm trong phạm trù địa chính trị rộng lớn, theo đó địa kinh tế là việc sử dụng các công cụ kinh tế để thúc đẩy các mục tiêu địa chính trị(30). Ở khía cạnh này, có thể dẫn ra hàng loạt các ví dụ trong thực tiễn quan hệ quốc tế để chứng minh. Kế hoạch Marshall của Mỹ ở châu Âu sau thế chiến II bề ngoài là một dự án địa kinh tế nhưng có mục tiêu địa chính trị rõ ràng. Việc Nga đe dọa đóng các đường ống cung cấp dầu mỏ và khí đốt cho EU và một số nước thuộc Liên Xô cũ giữa mùa đông lạnh giá như một đòn bẩy địa chính trị trong mối quan hệ với các nước này. Việc Trung Quốc dừng xuất khẩu đất hiếm sang Nhật Bản để gây áp lực về vấn đề chủ quyền ở biển Hoa Đông. Các chiến lược viện trợ và đầu tư hạ tầng của Trung Quốc ở châu Á và châu Phi cũng nhắm tới các mục tiêu ảnh hưởng địa chính trị rõ rệt. Hàng loạt các đập thủy điện được Trung Quốc xây dựng trên thượng nguồn dòng Mê Kông không chỉ đơn thuần mang yếu tố kinh tế mà có thể được Trung Quốc sử dụng như đòn bẩy địa chính trị trong mối quan hệ với các quốc gia hạ nguồn ở Đông Nam Á. Cạnh tranh ảnh hưởng địa chính trị Mỹ - Trung trên toàn cầu và ở Ấn Độ - Thái Bình Dương hiện nay được biểu hiện rõ nhất không phải thông qua ý thức hệ hay sức mạnh vũ khí mà là trên lĩnh vực kinh tế -thương mại và sự thắng bại của cuộc đua kinh tế dường như sẽ quyết định thắng bại của canh tranh địa chính trị ở khu vực. Dự án địa kinh tế "Vành đai và Con đường" của Tập Cận Bình mang bóng dáng một dự án địa chính trị lớn của Trung Quốc, trong khi đó, dự án TPP của Obama cũng chứa đựng chiến lược địa chính trị rõ rệt. Như vậy, hai đại chiến lược khu vực này của Mỹ và Trung Quốc là sự hòa trộn khó tách biệt cả thành phần địa kinh tế và chiến lược địa chính trị. Cuộc chiến tranh thương mại Mỹ - Trung hiện nay không chỉ đơn thuần mang yếu tố kinh tế mà thể hiện màu sắc của cạnh tranh sức mạnh và đối đầu địa chính trị giữa một cường quốc đang trỗi dậy với một cường quốc đang đóng vai trò lãnh đạo thế giới. Ý nghĩa của việc Việt Nam tham gia CPTPP cũng không chỉ hướng tới tìm kiếm các lợi ích kinh tế mà còn nằm trong chiến lược đa dạng hóa quan hệ kinh tế thương mại với các đối tác trên thế giới, tránh sự phụ thuộc vào kinh tế Trung Quốc. Hơn nữa, nó cũng mang lại đòn bẩy địa chính trị và an ninh cho Việt Nam.

Địa kinh tế cũng được xem như là mục tiêu thay vì phương tiện của các nhà nước trong quan hệ quốc tế. Trên thực tế, lợi thế vị trí địa chính trị thuận lợi hay tiềm năng tài nguyên chiến lược của một quốc gia, khu vực ảnh hưởng tới tiềm năng và xu thế phát triển của quốc gia, khu vực đó, đồng thời cũng tạo ra giá trị và vị thế địa chính trị của quốc gia, khu vực mang tính đòn bẩy cho sự phát triển sức mạnh quốc gia và vị thế quốc tế. Ví như vị trí án ngữ lối vào eo biển Malacca của Singapore hay nguồn dự trữ dầu mỏ khổng lồ của Saudi Arabia, Venezuela hay Iran mang lại tiềm năng và cơ hội địa kinh tế to lớn cho những quốc gia này, đồng thời nó gia tăng vị thế và sức nặng địa chính trị cho họ trong quan hệ quốc tế.

Hai là, nhân tố địa kinh tế ngày càng gia tăng sức nặng và tầm quan trọng trong chính trị quốc tế. Một thực tiễn chính trị quốc tế khó có thể phủ nhận là sức mạnh kinh tế là yếu tố then chốt quyết định sức mạnh tổng hợp và vị thế địa chính trị của quốc gia, khu vực trong quan hệ quốc tế cũng như trong định hình trật tự quốc tế, khu vực. Nói cách khác, những biến đổi về tương quan sức mạnh kinh tế sẽ dẫn tới phân bổ lại sức mạnh trong hệ thống quốc tế và do đó dẫn tới những đảo lộn và dịch chuyển địa chính trị. Sự trỗi dậy của Trung Quốc xuất phát từ sức mạnh kinh tế quốc gia đã làm đảo lộn cấu trúc và trật tự địa kinh tế và chính trị toàn cầu, từ đó giúp Bắc Kinh tìm cách thay đổi lại trật tự địa kinh tế và chính trị khu vực, thế giới phù hợp với mong muốn và lợi ích chiến lược của họ. Sở dĩ trung tâm kinh tế và chính trị toàn cầu đang dịch chuyển mạnh về khu vực châu Á-Thái Bình Dương trước hết bắt nguồn từ sự gia tăng nhanh chóng sức mạnh kinh tế của khu vực trong nền kinh tế toàn cầu, từ đó, gia tăng tầm quan trọng địa chính trị của khu vực. Tầm quan trọng chiến lược ngày càng tăng của Biển Đông với nguồn tài nguyên phong phú và là tuyến hàng hải trọng yếu của thế giới đã làm cho tranh chấp và căng thẳng địa chính trị ở Biển Đông ngày càng phức tạp. Cũng vậy, tầm quan trọng địa chính trị ngày càng tăng của Bắc Cực là bởi biến đổi khí hậu đã làm cho giao thương trên Bắc Băng Dương trở nên dễ dàng hơn và triển vọng khai thác nguồn tài nguyên dầu khí ở đây trở nên rõ ràng hơn. Một nguyên nhân quan trọng khiến Trung Đông luôn có tầm quan trọng địa chính trị và là nơi cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn là bởi kiểm soát được khu vực này sẽ kiểm soát an ninh năng lượng thế giới, và qua đó tác động lớn tới cạnh tranh sức mạnh và định hình trật tự quốc tế. Việc ASEAN hội nhập thành một cộng đồng khu vực với tổng GDP 2.400 tỷ USD và thị trường hơn 600 triệu dân, cùng với việc nằm ở vị trí chiến lược trọng yếu đã giúp gia tăng vị thế địa chính trị cho khu vực trong quan hệ quốc tế.

Ba là, biến động và đảo lộn địa chính trị sẽ tác động đến địa kinh tế. Tác động của biến động địa chính trị đối với chuyển biến địa kinh tế thể hiện ở chỗ nó có thể làm gia tăng hay suy giảm lợi thế và sức mạnh của các công cụ kinh tế của một quốc gia hay khu vực trong quan hệ quốc tế. Sự sụp đổ của Liên Xô đã dẫn tới những hệ quả to lớn về địa kinh tế đối với nước Nga trong thập kỷ 90 của thế kỷ trước. Việc Trung Quốc bắt tay với Mỹ và phương Tây, bình thường hóa quan hệ với Nhật Bản trong những năm 1970 là một nhân tố then chốt cho tiến trình cải cách mở cửa thành công của Trung Quốc và dẫn tới những đảo lộn địa kinh tế đối với Trung Quốc và toàn khu vực. Vị thế địa chính trị ngày càng quan trọng của Việt Nam trong bối cảnh khu vực hiện nay cũng được xem như một lợi thế và thời cơ lớn cho Việt Nam nhằm nâng cao sức mạnh quốc gia và thúc đẩy các lợi ích địa kinh tế và chính trị chiến lược trong quan hệ quốc tế. Nếu dự án kênh đào Kra đi qua eo đất miền Nam Thái Lan được hiện thực hóa trong những năm tới chắc chắn sẽ làm suy giảm rõ rệt lợi thế địa kinh tế của các quốc gia xung quanh khu vực eo biển Malacca, đồng thời làm gia tăng sức nặng và lợi thế địa kinh tế và chính trị cho Thái Lan, Campuchia và Việt Nam.

3. Bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay tạo ra những yếu tố tác động rõ rệt tới mối quan hệ giữa địa chính trị và địa kinh tế

Thứ nhất, mối quan hệ giữa địa kinh tế và địa chính trị ngày càng gắn bó chặt chẽ và đan xen vào nhau khó tách biệt rạch ròi trong toàn cầu hóa. Một trong những đặc điểm quan trọng nhất của toàn cầu hóa là sự đan xen lợi ích và phụ thuộc lẫn nhau ngày càng chặt chẽ giữa các quốc gia, khu vực cũng như vai trò và tác động ngày càng rõ rệt của các lực lượng đa quốc gia, xuyên quốc gia làm cho nhân tố kinh tế và chính trị, môi trường trong nước và quốc tế, lợi ích quốc gia và lợi ích quốc tế ngày càng gắn kết chặt chẽ với nhau. Do sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế, thường là mang tính bất đối xứng nên nhà nước này có thể làm cho nhà nước khác phụ thuộc vào mình thông qua các quan hệ kinh tế, từ đó mà đạt được các mục tiêu chính trị. Hơn nữa, sự phụ thuộc lẫn nhau một cách bất đối xứng gia tăng làm gia tăng tính dễ tổn thương về kinh tế và chính trị của các quốc gia, nhất là của các nước nhỏ, đang phát triển. Những biến động địa kinh tế có thể nhanh chóng dẫn tới những biến động địa chính trị và ngược lại. Vì thế, việc xử lý các vấn đề địa chính trị và địa kinh tế trong quan hệ quốc tế trở nên đặc biệt nhạy cảm, đòi hỏi sự cẩn trọng và linh hoạt hơn. Chẳng hạn, việc xử lý những mâu thuẫn, tranh chấp trên Biển Đông của một số nước ASEAN với Trung Quốc trở nên khó khăn và phức tạp hơn bởi sự phụ thuộc kinh tế gia tăng của các nước này vào Trung Quốc. Các nước EU cũng khó lòng ủng hộ Mỹ gia tăng áp lực cấm vận và cô lập Nga trên vấn đề Ukraina bởi chính những tổn thương mà EU có thể phải gánh chịu từ những hành động đó.

Hai là, toàn cầu hóa làm gia tăng tầm quan trọng của nhân tố địa kinh tế trong chính trị quốc tế cũng như trong mối quan hệ nhân quả với cạnh tranh địa chính trị. Chiến tranh lạnh kết thúc, cạnh tranh ý thức hệ và sức mạnh quân sự được thay thế bằng cạnh tranh sức mạnh kinh tế, thứ bậc của các quốc gia trong hệ thống thế giới được xác định trước hết bởi sức mạnh kinh tế, lợi ích quốc gia chi phối quan hệ quốc tế đã khiến nhân tố kinh tế đứng ở trung tâm thay thế cho các tính toán về chiến lược, chính trị hay quân sự truyền thống vốn chi phối chính sách đối ngoại của các quốc gia và chính trị quốc tế. Sự phát triển như vũ bão của công nghệ và thương mại trong toàn cầu hóa càng làm nổi bật vai trò của địa kinh tế trong cuộc đua tranh sức mạnh quốc gia. Trong môi trường quốc tế đó, mặc dù chính trị cường quyền và sức mạnh quân sự không mất đi vai trò của nó, nhưng sức mạnh kinh tế, công nghệ và vị thế thương mại của các quốc gia trở nên quan trọng hơn. Trong cuộc đua cạnh tranh quyền lực toàn cầu Mỹ - Trung hiện nay, yếu tố kinh tế sẽ đóng vai trò then chốt và thậm chí mang tính quyết định. Do sự phụ thuộc lẫn nhau giữa hai bên ngày càng chặt chẽ, các công cụ kinh tế sẽ trở thành vũ khí lợi hại được hai bên triệt để sử dụng trong cuộc đua tranh sức mạnh và ảnh hưởng toàn cầu cũng như kiềm chế lẫn nhau thay vì đối đầu chính trị và chạy đua vũ trang như trong thời kỳ chiến tranh lạnh trước đây. 

Ba là, toàn cầu hóa mở rộng phạm vi và gia tăng tốc độ tác động của những biến động địa chính trị và địa kinh tế cũng như sự tương tác của hai nhân tố đó. Toàn cầu hóa đã biến thế giới thành một chỉnh thể thống nhất mà ở đó mọi quốc gia, khu vực đều phụ thuộc vào nhau và chịu sự tương tác mạnh mẽ với nhau. Do đó, mọi biến động địa chính trị hoặc địa kinh tế ở một nơi nào đó có thể tác động nhanh chóng, với phạm vi rộng lớn tới nhiều quốc gia, khu vực và thậm chí toàn cầu. Cạnh tranh địa chính trị Mỹ - Trung ở Ấn Độ-Thái Bình Dương và cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung hiện nay tác động tới thương mại và kinh tế toàn cầu, đồng thời nó tác động tới cả việc tập hợp lực lượng khu vực, thế giới và quá trình định hình trật tự khu vực và quốc tế sắp tới. Cuộc khủng hoảng tài chính, tiền tệ châu Á (1997-1998) đã nhanh chóng lan rộng, dẫn tới những biến động kinh tế, chính trị ở nhiều quốc gia, làm suy giảm sức mạnh của nhiều quốc gia trong khi gia tăng mạnh mẽ vị thế và sức nặng địa kinh tế và chính trị cho một số quốc gia khác mà Trung Quốc là một ví dụ.

Trên thực tế, mặc dù bản chất của chính trị quốc tế vẫn chịu sự chi phối của chính trị cường quyền, sức mạnh quân sự vẫn không mất đi ý nghĩa trong chính trị quốc tế, nhưng trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, cạnh tranh sức mạnh tổng hợp của quốc gia mà sức mạnh kinh tế, công cụ kinh tế là yếu tố trung tâm, mang tính quyết định đã trở thành nét nổi bật của quan hệ quốc tế trong thời đại toàn cầu hóa. Trên khía cạnh tập hợp lực lượng toàn cầu hiện nay, một thế giới của các liên minh kinh tế, các khối kinh tế thương mại, các FTA song phương, đa phương, các sáng kiến hội nhập và hợp tác kinh tế khu vực, liên khu vực đang nổi lên mạnh mẽ, thay thế cho một thế giới của các khối liên minh chính trị quân sự đối đầu nhau trong chiến tranh lạnh. Toàn cầu hóa làm cho địa kinh tế trở thành công cụ quan trọng và hữu hiệu để hóa giải các thách thức địa chính trị, trong khi tài nguyên địa chính trị lại có thể làm gia tăng các lợi ích và đòn bẩy địa kinh tế cho các quốc gia. Bối cảnh mới đó của tình hình quốc tế chứa đựng thách thức lớn về sự tụt hậu kinh tế, về nguy cơ phụ thuộc về kinh tế và chính trị nhưng cũng tạo ra nhiều điều kiện thuận lợi cho các nước vừa và nhỏ nâng cao vị thế quốc gia, đồng thời góp phần định hình môi trường địa kinh tế và chính trị khu vực dưới các hình thức khác nhau.

___________________

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 5-2019

(1), (2) Trần Khánh: "Bàn về khái niệm địa chính trị", Bản tin Những vấn đề lý luận phục vụ lãnh đạo. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, số 1/2019, tr.12-25. 

(3) Babic, B. (2009). "Geo-economics: reality & science", in Megatrend review: the international review of applied economics. Belgrade, Vol.6. (in English), p.27.

(4) Luttwak, E, N. (1990). "From Geopolitics to Geo-economics: Logic of Conflict, Grammar of Commerce," National Interest 20: 17–23.

(5) Luttwak, E, N. (1990). "From Geopolitics to Geo-economics: Logic of Conflict, Grammar of Commerce," National Interest 20: 18.

(6) Leonard, M. (2015). "Geo-politics and Globalization: How Companies and States Can Become Winners in the Age of Geo-economics", in the book Geo- economics Seven Challenges to Globalization, p.4. Available at: http://www3 weforum.org

(7) Luttwak, E. (1999). Turbo capitalism: winners and losers in the global economy. New York: Harper and Collins: 125-130.

(8) Hudson, Valerie et al. (1991). "Why the Third World Matters, Why Europe Probably Won't: The Geoeconomics of Circumscribed Engagement". Journal of Strategic Studies (14.3): 255-98.

(9) Hsiung, J.C. (2009). "The Age of Geoeconomics, China's Global Role, and Prospects of Cross-Strait Integration," Journal of Chinese Political Science, Vol. 14, No. 2: 113–33.

(10) Blackwill, R., & Harris, J. (2016). War by Other Means: Geoeconomics and Statecraft. Cambridge, Massachusetts; London, England: Harvard University Press: 8, and 19-32. Retrieved from http://www.jstor.org/stable/j.ctt1c84cr7; Fjäder, C. O. (2018). "Interdependence as Dependence: Economic Security in the Age of Global Interconnectedness", In Geo-Economics and Power Politics in the 21st Century: The Revival of Economic Statecraft, edited by Wigell, M., Scholvin, S., and Aaltola, M. London: Routledge; Wigell, M. and Scholvin, S. (2018). Geo-Economics as Concept and Practice in International Relations: Surveying the State of the Art, FIIA WORKING PAPER 102. https://www.fiia.fi.

(11) Blackwill, R., & Harris, J. (2016). War by Other Means: Geoeconomics and Statecraft. Cambridge, Massachusetts; London, England: Harvard University Press. Retrieved from http://www.jstor.org; Ana C. Alves, (2015). "China and Brazil in Sub-Saharan African Fossil Fuels: A Comparative Analysis," in Sören Scholvin, ed., A New Scramble for Africa? The Rush for Energy Resources in Sub-Saharan Africa, Farnham: Ashgate: 33-51; Anniina Kärkkäinen, (2016). "Does China Have a Geoeconomic Strategy Towards Zimbabwe?: The Case of the Zimbabwean Natural Resource Sector," Asia Europe Journal, Vol. 14, No. 2: 185-202; Scholvin, S. and Strüver, G. (2012). "Tying the Region Together or Tearing It Apart?: China and Transport Infrastructure Projects in the SADC Region," in André du Pisani, Gerhard Erasmus, and Trudi Hartzenberg, eds., Monitoring Regional Integration in Southern Africa 2012. Stellenbosch: TRALAC: 175-93; Holslag, J. (2016), "Geoeconomics in a Globalized World: the Case of China's Export Policy", Asia Europe Journal 14.2: 173-84.

(12) Mattlin, M. and Wigell, M. (2016). "Geoeconomics in the Context of Restive Regional Powers," Asia Europe Journal, Vol. 14, No. 2: 125–34.

(13) Baru, S. (2012). A New Era of Geo-economics: Assessing the Interplay of Economic and Political Risk, IISS Geo-economics and Strategy Programme, IISS Seminar 23-25 March: 2.

(14) Baru, S. (2012). "Geo-economics and Strategy," Survival, Vol. 54, No. 3: 47–58.

(15) Scott, D. (2008). "The Great Power 'Great Game' between India and China: 'The Logic of Geography'" Geopolitics, Vol. 13, No. 1: 1-26.

(16) Grosse, T.G. (2014). "Geoeconomic Relations between the EU and China: The Lessons from the EU Weapon Embargo and from Galileo," Geopolitics, Vol. 19, No. 1: 40-65.

(17) Samuel P. Huntington, (1993). "Why International Primacy Matters." International Security, Vol. 17, No. 4.

(18), (19) Blackwill, R., & Harris, J. (2016). War by Other Means: Geoeconomics and Statecraft. Cambridge, Massachusetts; London, England: Harvard University Press: 9, 24. Retrieved from http://www.jstor.org.

(20) Kapyla, J. and Mikkola, H. (2016). "The Promise of the Geoeconomic Arctic: A Critical Arctic," Asia Europe Journal, Vol. 14, No. 2: 203-20.

(21) Scholvin, S. and Draper, P. (2012). "The Gateway to Africa?: Geography and South Africa's Role as an Economic Hinge Joint Between Africa and the World", South African Journal of International Affairs 19.3: 381-400; Scholvin, S. and Malamud, A. (2014). "Is There a Geoeconomic Node in South America?: Geography, Politics and Brazil's Role in Regional Economic Integration", ICS Working Paper 2/2014.

(22) Mercille, J. (2008). "The Radical Geopolitics of US Foreign Policy: Geopolitical and Geoeconomic Logics of Power," Political Geography, Vol. 27, No. 5: 570–86.

(23) Scholvin, S. and Wigell, M. (2018). "Power Politics by Economic Means: Geo-economics as an Analytical Approach and Foreign Policy Practice". Comparative Strategy 37.1: 73-84, DOI: 10.1080/01495933.2018.1419729.

(24) Cowen, D. and Smith, N. (2009). "After Geopolitics?: From the Geopolitical Social to Geoeconomics," Antipode, Vol. 41, No. 1.

(25) O'Hara, S. and Heffernan, M. (2006). "From Geo-Strategy to Geo-economics: The "Heartland" and British Imperialism Before and After Mackinder". Geopolitics 11.1: 54-73.

(26), (27) Youngs, Richard. (2011). "Geo-economic Futures", In Challenges for European Foreign Policy in 2012: What Kind of Geo-economic Europe?, edited by Ana Martiningui and Richard Youngs. Madrid: FRIDE: 14; Sidaway, J. D. (2005). Asia-Europe-United States: The Geoeconomics of Uncertainty. Area 37.4: 373-77.

(28) Matthew Sparke, (2006). "A Neoliberal Nexus: Economy, Security and the Biopolitics of Citizenship on the Border", Political Geography, Vol. 25, No. 2: 151-80; Domosh, M. (2013). "Geoeconomic Imaginations and Economic Geography in the Early Twentieth Century," Annals of the Association of American Geographers, vol. 103, no. 4: 945.

(29) Scholvin, S. and Wigell, M. (2018). "Power Politics by Economic Means: Geo-economics as an Analytical Approach and Foreign Policy Practice". Comparative Strategy 37.1: 4 DOI: 10.1080/01495933.2018.1419729.

(30) Chatham House, Whats is Geo-economics?. https://www.chathamhouse.org.

PGS, TS Phan Văn Rân

TS Ngô Chí Nguyện

Viện Quan hệ quốc tế,

Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

 (LLCT) - Địa kinh tế và địa chính trị có mối quan hệ biện chứng, tác động qua lại và gắn bó chặt chẽ với nhau. Trong khi nhân tố địa kinh tế ngày càng gia tăng sức nặng và tầm quan trọng trong chính trị quốc tế thì ngược lại, biến động và đảo lộn địa chính trị sẽ tác động đến địa kinh tế. Nhận thức đúng đắn mối quan hệ giữa địa kinh tế và địa chính trị, vận dụng, xử lý hiệu quả các vấn đề địa chính trị và địa kinh tế trong hoạch định và thực thi chiến lược phát triển quốc gia, nhất là chiến lược đối ngoại và hội nhập quốc tế là chìa khóa quan trọng để đưa đất nước đi tới sự ổn định và thịnh vượng.

1. Khái niệm và nội hàm địa chính trị, địa kinh tế

Từ rất sớm trong lịch sử, các nhà tư tưởng phương Tây cổ đại đã bàn đến mối liên quan giữa các đặc trưng và điều kiện địa lý với chính sách và hành vi chính trị của các nhà nước. Tuy nhiên, phải đến cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, khái niệm và nội hàm thuật ngữ "địa chính trị" (Geopolitics) mới lần đầu tiên được sử dụng bởi nhà khoa học chính trị người Thụy Điển John Rudolf Kjellén vào năm 1899 trong tác phẩm "Nhà nước như một cơ thể sống" (The State as a Living Form). Trong đó, J. R. Kjellén cho rằng, các yếu tố địa lý và môi trường tự nhiên sẽ quy định các đặc điểm về chính trị, kinh tế và quân sự của mỗi quốc gia theo nghĩa chúng có thể tạo thuận lợi hoặc kìm hãm các quá trình phát triển chính trị, kinh tế - xã hội, đồng thời góp phần định hình văn hóa chính trị, bản sắc và lịch sử của mỗi quốc gia. Từ sau đó, thuật ngữ "địa chính trị" được bàn luận nhiều trong các lý thuyết về chính trị và quan hệ quốc tế cũng như được vận dụng phổ biến trong hoạch định và thực thi chiến lược, chính sách đối ngoại của nhiều quốc gia, nhất là của các cường quốc(1).

Mặc dù chưa có sự nhận thức thống nhất trong giới học giả và hoạch định chính sách về khái niệm và nội hàm của thuật ngữ địa chính trị, song về cơ bản, thuật ngữ này được hiểu dưới hai khía cạnh: 1) dưới lăng kính lý thuyết, "địa chính trị" được hiểu như là một cách tiếp cận của khoa học chính trị nghiên cứu về mối quan hệ tương tác có tính nhân quả giữa các yếu tố và điều kiện địa lý, môi trường tự nhiên với đặc điểm và xu hướng vận động của không gian quyền lực chính trị của quốc gia, khu vực cũng như sự vận động của không gian quyền lực trong chính trị quốc tế gắn với quốc gia, khu vực; 2) dưới góc nhìn thực tiễn chính trị quốc tế, "địa chính trị" được nhìn nhận như là chiến lược đối ngoại và hành vi quốc tế của các quốc gia, nhất là chiến lược toàn cầu của các cường quốc nhằm mục tiêu cạnh tranh ảnh hưởng và kiểm soát các không gian quyền lực trọng yếu trên bàn cờ chính trị quốc tế(2).

Trong khi khái niệm "địa chính trị" xuất hiện từ hàng thế kỷ trước và được bàn luận rộng rãi, thuật ngữ "địa kinh tế" (Geo-economics) xuất hiện muộn hơn nhiều và nó vẫn còn khá mới mẻ trong ngôn ngữ cũng như thực tiễn chính trị quốc tế và chính sách đối ngoại quốc gia. Năm 1942, nhà khoa học người Mỹ George T. Renner là người đầu tiên sử dụng thuật ngữ địa kinh tế(3). Tuy nhiên, phải đến năm 1990 khi xuất hiện bài báo "Từ địa chính trị tới địa kinh tế: lôgic của xung đột, ngôn ngữ của thương mại" của nhà khoa học chính trị nổi tiếng người Mỹ Edward Luttwak, khái niệm và nội hàm thuật ngữ địa kinh tế mới được nghiên cứu và chứng minh một cách khá rõ ràng về mặt lý thuyết và trong thực tiễn chính trị quốc tế. Trong bài báo đó, Luttwak cho rằng, chiến tranh lạnh kết thúc, thế giới chuyển từ thời đại địa chính trị sang thời đại của địa kinh tế, mà ở đó cuộc đua tranh giữa các quốc gia dù vẫn được xác định bởi "logic của xung đột" nhưng thông qua "ngôn ngữ thương mại"(4). Theo quan điểm của Luttwak, địa kinh tế là hình thức mới của sự cạnh tranh sức mạnh giữa các quốc gia sau chiến tranh lạnh. Ông cho rằng, chính trị quốc tế thời kỳ hậu chiến tranh lạnh mặc dù vẫn bị chi phối bởi cạnh tranh sức mạnh giữa các nhà nước nhưng chiến trường chủ yếu là kinh tế thay vì quân sự, phương tiện ưa thích được các nhà nước sử dụng để theo đuổi các mục tiêu đối kháng nhau sẽ là kinh tế hơn là quân sự(5). Theo Luttwak, sức mạnh quốc gia trong kỷ nguyên địa kinh tế xuất phát từ vốn tư bản thay vì sức mạnh hỏa lực, đổi mới dân sự thay cho tiến bộ kỹ thuật quân sự và thâm nhập thị trường thay cho các đồn bốt và căn cứ. Trong một kỷ nguyên như vậy, Luttwak dự báo rằng: "các biện pháp trừng phạt kinh tế thay thế các cuộc tấn công quân sự, các cơ chế cạnh tranh thương mại thay thế các liên minh quân sự, chiến tranh tiền tệ phổ biến hơn so với việc chiếm đóng lãnh thổ và việc thao túng giá tài nguyên như dầu mỏ mang lại hậu quả lớn hơn so với các cuộc chạy đua vũ trang thông thường"(6). Ông cho rằng, trong bối cảnh cạnh tranh mới, việc chính phủ sử dụng vốn đầu tư vào phát triển công nghiệp là tương đương với vũ khí nóng, vào sự phát triển sản phẩm tương đương với việc cải tiến vũ khí, và sự thâm nhập thị trường quốc tế cũng tương đương như triển khai ảnh hưởng ngoại giao(7). Bài báo đó cùng với một loạt công trình nghiên cứu nổi tiếng khác của ông bàn về địa kinh tế đã đưa Luttwak trở thành học giả có ảnh hưởng nhất trong lĩnh vực nghiên cứu này. Nhìn chung, địa kinh tế theo quan điểm của Luttwak về bản chất vẫn là chính trị dựa trên sức mạnh dưới góc nhìn hiện thực chủ nghĩa nhưng được thực hiện bởi phương tiện khác, lợi ích quốc gia vẫn là nổi bật, và kinh tế ngày càng trở thành đòn bẩy quan trọng mà các nhà nước sử dụng để theo đuổi các lợi ích quốc gia chiến lược trong quan hệ quốc tế. 

Trong những năm gần đây, thuật ngữ địa kinh tế được bàn luận sôi nổi và ngày càng có vị trí nổi bật như một cách tiếp cận nghiên cứu quan hệ quốc tế và chính sách đối ngoại của các nhà nước. Tuy nhiên, cũng như thuật ngữ "địa chính trị", cách hiểu về khái niệm và nội hàm thuật ngữ "địa kinh tế" là không thống nhất trong các nghiên cứu của giới học giả. Từ các quan điểm của giới học giả, nổi lên hai trường phái chủ yếu bàn luận về địa kinh tế là trường phái Luttwak và những quan điểm khác với trường phái Luttwak.

Các quan điểm theo trường phái Luttwak nhìn chung xem địa kinh tế như một phương tiện thực hành chính sách đối ngoại của các quốc gia nhằm theo đuổi các mục tiêu chiến lược trong quan hệ quốc tế. Các học giả của trường phái này đã tập trung vào vai trò, tầm quan trọng của nhân tố kinh tế trong cuộc cạnh tranh quyền lực giữa các quốc gia trong chính trị quốc tế. Hudson xem địa kinh tế là chiến lược kiểm soát lãnh thổ mang động lực kinh tế và được thực hiện bằng các phương tiện kinh tế, mà quan trọng nhất là đầu tư và thương mại(8). Theo Hsiung, địa kinh tế là một sự chuyển đổi từ mối quan tâm quân sự sang mối quan tâm về an ninh kinh tế trong chính trị toàn cầu (9). Trong khi đó, một số học giả coi địa kinh tế là một hình thức biểu hiện mới của chính trị cường quyền, đó là việc sử dụng các công cụ kinh tế để bảo vệ và thúc đẩy quyền lực quốc gia cũng như mục tiêu kiểm soát các không gian địa chính trị trọng yếu của thế giới mà không viện tới sức mạnh và sự răn đe quân sự(10). Liên quan đến khía cạnh này, nhiều học giả chỉ ra rằng, những mục tiêu lớn trong chiến lược đầu tư, thương mại và xây dựng cơ sở hạ tầng của Trung Quốc ở các nước đang phát triển Á - Phi - Mỹ Latinh hiện nay là nhằm tiếp cận nguồn tài nguyên và thúc đẩy sự phụ thuộc kinh tế bất đối xứng của các quốc gia này vào Trung Quốc và qua đó để gia tăng ảnh hưởng chính trị của Bắc Kinh, định hình chính sách đối ngoại của họ theo cách phù hợp với lợi ích quốc gia của Trung Quốc(11). Bên cạnh đó, Mattlin và Wigell cho rằng các chiến lược địa kinh tế cũng là phương tiện điển hình được sử dụng bởi Trung Quốc và Ấn Độ nhằm cân bằng mềm với sức mạnh vượt trội của Hoa Kỳ(12).

Một số nhà nghiên cứu khác khi bàn về khái niệm địa kinh tế lại tập trung vào khía cạnh mối quan hệ giữa địa kinh tế và địa chính trị, cho rằng đây là hai khái niệm có mối quan hệ chồng chéo, có tính tương tác qua lại và thúc đẩy lẫn nhau. Theo Baru, địa kinh tế nghiên cứu mối quan hệ giữa chính sách kinh tế và sự thay đổi đối với quyền lực quốc gia và địa chính trị. Cụ thể, khái niệm địa kinh tế được cấu thành bởi hai thành tố cốt lõi là "thương mại theo sau lá cờ" và "lá cờ theo sau thương mại", nghĩa là những khuynh hướng biến động của địa chính trị và quyền lực quốc gia trong quan hệ quốc tế sẽ kéo theo những hệ quả về kinh tế và ngược lại những biến động kinh tế lớn sẽ dẫn tới những hệ quả địa chính trị(13). Cũng theo Baru, địa kinh tế là sự tác động lẫn nhau giữa kinh tế và địa chính trị mà theo đó sự gia tăng hay suy giảm sức mạnh kinh tế của một quốc gia, khu vực cụ thể sẽ có hệ quả tác động về mặt địa chính trị. Baru lấy dẫn chứng về hệ quả địa chính trị của sự sụp đổ và tan rã của Liên Xô bắt nguồn từ sự suy sụp kinh tế của siêu cường này. Tuy nhiên, Baru cũng lưu ý rằng sức mạnh địa kinh tế của một quốc gia không tự động theo sau sức mạnh kinh tế của quốc gia đó. Baru đã dẫn chứng trường hợp sức mạnh và ảnh hưởng quân sự, chính trị của Nhật Bản trên thế giới không tương xứng với sức mạnh và tầm ảnh hưởng kinh tế của nó(14).

Ở một góc nhìn khác, Scott cho rằng, việc kiểm soát các tuyến giao thương hàng hải quốc tế là thiết yếu cả về khía cạnh địa kinh tế và địa chính trị(15). Trong khi đó, Grosse xem địa kinh tế là sự hợp nhất của các mục tiêu kinh tế và địa chính trị và cho rằng các chiến lược đối ngoại của các nhà nước, nhất là của các cường quốc thường là sự kết hợp của việc triển khai cả sức mạnh kinh tế và quân sự(16). Huntington thì xem sức mạnh kinh tế và sức mạnh quân sự có liên quan chặt chẽ với nhau, theo đó, quyền lực kinh tế sẽ giúp các quốc gia có được lợi thế trong công nghệ và trở nên mạnh mẽ hơn về mặt quân sự(17).

Trong khi đi theo trường phái của Luttwak trong nhìn nhận bản chất của địa kinh tế, Blackwill và Harris đi ngược lại với quan điểm của Luttwak khi lưu ý rằng, các công cụ kinh tế và quân sự cùng tồn tại, củng cố lẫn nhau trong chính sách và hành vi đối ngoại của các nhà nước và việc sử dụng chúng như thế nào tùy thuộc vào nhận thức của mỗi nhà nước về những thách thức và mục tiêu cụ thể mà họ đối mặt và theo đuổi (18). Phân biệt hai khái niệm này, hai ông cho rằng, địa chính trị giải thích và dự đoán quyền lực nhà nước thông qua một loạt các thông số địa lý liên quan, như lãnh thổ, dân số, thành tựu kinh tế, nguồn tài nguyên hay năng lực quân sự. Trong khi đó, địa kinh tế giải thích cách một nhà nước xây dựng và thực thi quyền lực thông qua các công cụ kinh tế(19).

Bên cạnh trường phái Luttwak là chủ đạo, ngày càng xuất hiện những quan điểm khác với Luttwak khi bàn về khái niệm địa kinh tế. Trong số đó, một số học giả tập trung giải thích các điều kiện địa lý định hình và quy định các hệ quả kinh tế như thế nào. Ví dụ, Kapyla và Mikkola cho rằng các điều kiện địa lý ở Bắc Cực thúc đẩy các quốc gia hợp tác với nhau vì đối đầu mở sẽ gây rủi ro cho mục tiêu kinh tế của nhau(20). Một số nhà nghiên cứu thì định nghĩa địa kinh tế thông qua tìm hiểu tác động của các cấu trúc vật chất trong không gian địa lý đối với các mối quan hệ kinh tế với bên ngoài của các quốc gia(21). Một số học giả khác đi xa hơn với trường phái Luttwak khi liên hệ địa kinh tế với sự trỗi dậy của các tác nhân mới mang tính xuyên quốc gia có ảnh hưởng tới những động lực kinh tế và chính trị. Mercille cho rằng, mặc dù các nhà chính trị và các thương gia đều có mục tiêu chung là sự ổn định của hệ thống kinh tế, nhưng họ lại khác nhau về các phương tiện theo đuổi mục tiêu thích hợp. Do vậy, các thương nhân thì hành động theo logic của địa kinh tế, trong khi các chính trị gia hành động theo logic địa chính trị(22). Barton thì phân biệt kỷ nguyên địa chính trị là về các nhà nước bá quyền và sự ổn định trong quan hệ quốc tế, trong khi kỷ nguyên địa kinh tế được đặc trưng bởi các chủ thể phi nhà nước mang tính linh hoạt cao và những mối quan hệ xuyên quốc gia không có biên giới(23). Trong khi đó, Cowen và Smith thì chỉ ra đặc trưng của thời đại địa kinh tế là nền sản xuất toàn cầu ngày càng được phân đoạn, sự gia tăng của các tập đoàn xuyên quốc gia, các mối đe dọa an ninh mang tính xuyên biên giới lãnh thổ(24).

Một cách tiếp cận khác với Luttwak trong định nghĩa địa kinh tế là đảo ngược nó từ phương tiện thành mục tiêu, theo đó, nhấn mạnh cách mà các nhà nước sử dụng sức mạnh cơ bắp và các lợi thế địa chính trị để đạt được các mục tiêu kinh tế trong quan hệ quốc tế. O'Hara và Heffernan xem địa kinh tế là tiềm năng các nguồn tài nguyên thiên nhiên của một quốc gia, khu vực và chiến lược của việc kiểm soát và khai thác các nguồn tài nguyên này(25). Youngs thì cho rằng, địa kinh tế bàn luận xoay quanh việc nhà nước sử dụng các công cụ sức mạnh và lợi thế của mình trong quan hệ quốc tế để đạt được các mục tiêu kinh tế(26). Tuy vậy, những người theo quan điểm này cũng lưu ý rằng, mục tiêu rốt cuộc của điều này là gia tăng sức mạnh tổng thể quốc gia trong cạnh tranh quyền lực quốc tế. Do đó, chìa khóa để hiểu địa kinh tế chính là các mục tiêu chính trị ẩn dấu phía sau nó(27).

Trong khi những quan điểm khác với Luttwak trên đây vẫn chia sẻ cơ sở khoa học rộng lớn với Luttwak trong khái niệm địa kinh tế, góc nhìn về địa kinh tế của những người theo trường phái kiến tạo khác một cách căn bản với tất cả những quan điểm địa kinh tế trên đây khi cho rằng cái gọi là địa kinh tế chỉ là những diễn ngôn lòe bịp về mặt chiến lược một địa điểm hoặc không gian nào đó trong nền kinh tế toàn cầu hóa, nó không phải là một mô tả khách quan về các chiến lược không gian kinh tế mà là một cách nhìn thế giới mang tính chủ quan mà theo đó các chiến lược đó được coi là hợp lý hay không hợp lý(28). Chỉ xem địa kinh tế như là những diễn ngôn mang tính chủ quan, trường phái kiến tạo bỏ qua các cấu trúc vật chất có ảnh hưởng đến quan hệ quốc tế mà không phụ thuộc vào ý muốn và suy nghĩa của những người diễn ngôn nó. Hơn nữa, trường phái kiến tạo cũng không đưa ra được cách giải thích tốt hơn, thuyết phục hơn trường phái Luttwak về thuật ngữ địa kinh tế.

Trên cơ sở lý thuyết và sự phân tích các quan điểm, trường phái khác nhau về địa kinh tế như trên, có thể rút ra khái niệm địa kinh tế như sau: Địa kinh tế là một cách tiếp cận của khoa học chính trị nghiên cứu về mối quan hệ tương tác giữa quyền lực của quốc gia trong quan hệ quốc tế với các điều kiện địa lý và kinh tế. Nội hàm khái niệm địa kinh tế được thể hiện với hai khía cạnh:

Thứ nhất, về mặt lý thuyết, như là một khung phân tích hay một cách tiếp cận trong phân tích quan hệ quốc tế và chính sách đối ngoại, địa kinh tế nghiên cứu mối quan hệ qua lại giữa kinh tế, địa lý và chính trị quốc tế. Cụ thể hơn, địa kinh tế nghiên cứu tác động của các đặc điểm và điều kiện địa lý đối với nền tảng kinh tế của quyền lực quốc gia, khu vực trong quan hệ quốc tế.

Ở khía cạnh lý thuyết, địa kinh tế cộng hưởng, bổ sung và đóng góp cho những thiếu khuyết trong góc nhìn của chủ nghĩa hiện thực trong phân tích bản chất của chính trị quốc tế và chính sách đối ngoại trong thế giới đương đại khi nó cho rằng các đặc trưng địa lý đặc thù về không gian và địa điểm có vai trò trong định hình quan hệ quốc tế và chính sách đối ngoại. Nó cũng nhấn mạnh vai trò của các công cụ kinh tế trong cạnh tranh sức mạnh tương đối giữa các nhà nước thay vì đề cao sức mạnh quân sự và nhấn mạnh yếu tố phân bổ sức mạnh giữa các nhà nước trong hệ thống quốc tế như những người tân hiện thực quan niệm. Như một khuôn khổ phân tích, địa kinh tế cũng bổ khuyết cho những hạn chế trong quan niệm của chủ nghĩa tự do, rằng sự phụ thuộc kinh tế lẫn nhau giữa các quốc gia trong thời đại toàn cầu hóa dẫn tới việc các nhà nước sẽ từ bỏ chính trị cường quyền, theo đuổi chính sách đối ngoại hòa bình, hợp tác, cùng phát triển.

Thứ hai, về mặt thực hành, như một chiến lược chính sách đối ngoại của các nhà nước, địa kinh tế nghiên cứu việc sử dụng các công cụ sức mạnh kinh tế của các nhà nước để hiện thực hóa các mục tiêu chiến lược của quốc gia trong quan hệ quốc tế (nổi bật là mục tiêu quyền lực) gắn với không gian địa lý nhất định. Các công cụ địa kinh tế chính mà các nước thường sử dụng, bao gồm: chính sách thương mại, đầu tư; trừng phạt kinh tế; chính sách viện trợ, tài chính, tiền tệ; chính sách nợ, năng lượng và hàng hóa... Rõ ràng là để hiểu đầy đủ và đúng đắn các mối quan hệ quốc tế trong thế giới đương đại đòi hỏi sự hiểu biết về vai trò của các công cụ kinh tế khác nhau và việc các nhà nước sử dụng các công cụ đó như thế nào để theo đuổi các mục tiêu chiến lược của mình trong quan hệ quốc tế.

2. Mối quan hệ giữa địa kinh tế và địa chính trị

Từ những phân tích khái niệm và nội hàm trên đây, có thể rút ra một số khía cạnh của mối quan hệ giữa địa kinh tế và địa chính trị như sau:

Một là, địa kinh tế và địa chính trị có mối quan hệ biện chứng, tác động qua lại và gắn bó chặt chẽ với nhau. Mối quan hệ giữa địa kinh tế và địa chính trị gắn bó tới mức như Scholvin và Wigell đã chỉ ra là nhiều học giả thường không làm rõ ranh giới giữa hai phạm trù này(29). Cách hiểu phổ biến nhất được nhiều học giả đề cập, đó là địa kinh tế nằm trong phạm trù địa chính trị rộng lớn, theo đó địa kinh tế là việc sử dụng các công cụ kinh tế để thúc đẩy các mục tiêu địa chính trị(30). Ở khía cạnh này, có thể dẫn ra hàng loạt các ví dụ trong thực tiễn quan hệ quốc tế để chứng minh. Kế hoạch Marshall của Mỹ ở châu Âu sau thế chiến II bề ngoài là một dự án địa kinh tế nhưng có mục tiêu địa chính trị rõ ràng. Việc Nga đe dọa đóng các đường ống cung cấp dầu mỏ và khí đốt cho EU và một số nước thuộc Liên Xô cũ giữa mùa đông lạnh giá như một đòn bẩy địa chính trị trong mối quan hệ với các nước này. Việc Trung Quốc dừng xuất khẩu đất hiếm sang Nhật Bản để gây áp lực về vấn đề chủ quyền ở biển Hoa Đông. Các chiến lược viện trợ và đầu tư hạ tầng của Trung Quốc ở châu Á và châu Phi cũng nhắm tới các mục tiêu ảnh hưởng địa chính trị rõ rệt. Hàng loạt các đập thủy điện được Trung Quốc xây dựng trên thượng nguồn dòng Mê Kông không chỉ đơn thuần mang yếu tố kinh tế mà có thể được Trung Quốc sử dụng như đòn bẩy địa chính trị trong mối quan hệ với các quốc gia hạ nguồn ở Đông Nam Á. Cạnh tranh ảnh hưởng địa chính trị Mỹ - Trung trên toàn cầu và ở Ấn Độ - Thái Bình Dương hiện nay được biểu hiện rõ nhất không phải thông qua ý thức hệ hay sức mạnh vũ khí mà là trên lĩnh vực kinh tế -thương mại và sự thắng bại của cuộc đua kinh tế dường như sẽ quyết định thắng bại của canh tranh địa chính trị ở khu vực. Dự án địa kinh tế "Vành đai và Con đường" của Tập Cận Bình mang bóng dáng một dự án địa chính trị lớn của Trung Quốc, trong khi đó, dự án TPP của Obama cũng chứa đựng chiến lược địa chính trị rõ rệt. Như vậy, hai đại chiến lược khu vực này của Mỹ và Trung Quốc là sự hòa trộn khó tách biệt cả thành phần địa kinh tế và chiến lược địa chính trị. Cuộc chiến tranh thương mại Mỹ - Trung hiện nay không chỉ đơn thuần mang yếu tố kinh tế mà thể hiện màu sắc của cạnh tranh sức mạnh và đối đầu địa chính trị giữa một cường quốc đang trỗi dậy với một cường quốc đang đóng vai trò lãnh đạo thế giới. Ý nghĩa của việc Việt Nam tham gia CPTPP cũng không chỉ hướng tới tìm kiếm các lợi ích kinh tế mà còn nằm trong chiến lược đa dạng hóa quan hệ kinh tế thương mại với các đối tác trên thế giới, tránh sự phụ thuộc vào kinh tế Trung Quốc. Hơn nữa, nó cũng mang lại đòn bẩy địa chính trị và an ninh cho Việt Nam.

Địa kinh tế cũng được xem như là mục tiêu thay vì phương tiện của các nhà nước trong quan hệ quốc tế. Trên thực tế, lợi thế vị trí địa chính trị thuận lợi hay tiềm năng tài nguyên chiến lược của một quốc gia, khu vực ảnh hưởng tới tiềm năng và xu thế phát triển của quốc gia, khu vực đó, đồng thời cũng tạo ra giá trị và vị thế địa chính trị của quốc gia, khu vực mang tính đòn bẩy cho sự phát triển sức mạnh quốc gia và vị thế quốc tế. Ví như vị trí án ngữ lối vào eo biển Malacca của Singapore hay nguồn dự trữ dầu mỏ khổng lồ của Saudi Arabia, Venezuela hay Iran mang lại tiềm năng và cơ hội địa kinh tế to lớn cho những quốc gia này, đồng thời nó gia tăng vị thế và sức nặng địa chính trị cho họ trong quan hệ quốc tế.

Hai là, nhân tố địa kinh tế ngày càng gia tăng sức nặng và tầm quan trọng trong chính trị quốc tế. Một thực tiễn chính trị quốc tế khó có thể phủ nhận là sức mạnh kinh tế là yếu tố then chốt quyết định sức mạnh tổng hợp và vị thế địa chính trị của quốc gia, khu vực trong quan hệ quốc tế cũng như trong định hình trật tự quốc tế, khu vực. Nói cách khác, những biến đổi về tương quan sức mạnh kinh tế sẽ dẫn tới phân bổ lại sức mạnh trong hệ thống quốc tế và do đó dẫn tới những đảo lộn và dịch chuyển địa chính trị. Sự trỗi dậy của Trung Quốc xuất phát từ sức mạnh kinh tế quốc gia đã làm đảo lộn cấu trúc và trật tự địa kinh tế và chính trị toàn cầu, từ đó giúp Bắc Kinh tìm cách thay đổi lại trật tự địa kinh tế và chính trị khu vực, thế giới phù hợp với mong muốn và lợi ích chiến lược của họ. Sở dĩ trung tâm kinh tế và chính trị toàn cầu đang dịch chuyển mạnh về khu vực châu Á-Thái Bình Dương trước hết bắt nguồn từ sự gia tăng nhanh chóng sức mạnh kinh tế của khu vực trong nền kinh tế toàn cầu, từ đó, gia tăng tầm quan trọng địa chính trị của khu vực. Tầm quan trọng chiến lược ngày càng tăng của Biển Đông với nguồn tài nguyên phong phú và là tuyến hàng hải trọng yếu của thế giới đã làm cho tranh chấp và căng thẳng địa chính trị ở Biển Đông ngày càng phức tạp. Cũng vậy, tầm quan trọng địa chính trị ngày càng tăng của Bắc Cực là bởi biến đổi khí hậu đã làm cho giao thương trên Bắc Băng Dương trở nên dễ dàng hơn và triển vọng khai thác nguồn tài nguyên dầu khí ở đây trở nên rõ ràng hơn. Một nguyên nhân quan trọng khiến Trung Đông luôn có tầm quan trọng địa chính trị và là nơi cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn là bởi kiểm soát được khu vực này sẽ kiểm soát an ninh năng lượng thế giới, và qua đó tác động lớn tới cạnh tranh sức mạnh và định hình trật tự quốc tế. Việc ASEAN hội nhập thành một cộng đồng khu vực với tổng GDP 2.400 tỷ USD và thị trường hơn 600 triệu dân, cùng với việc nằm ở vị trí chiến lược trọng yếu đã giúp gia tăng vị thế địa chính trị cho khu vực trong quan hệ quốc tế.

Ba là, biến động và đảo lộn địa chính trị sẽ tác động đến địa kinh tế. Tác động của biến động địa chính trị đối với chuyển biến địa kinh tế thể hiện ở chỗ nó có thể làm gia tăng hay suy giảm lợi thế và sức mạnh của các công cụ kinh tế của một quốc gia hay khu vực trong quan hệ quốc tế. Sự sụp đổ của Liên Xô đã dẫn tới những hệ quả to lớn về địa kinh tế đối với nước Nga trong thập kỷ 90 của thế kỷ trước. Việc Trung Quốc bắt tay với Mỹ và phương Tây, bình thường hóa quan hệ với Nhật Bản trong những năm 1970 là một nhân tố then chốt cho tiến trình cải cách mở cửa thành công của Trung Quốc và dẫn tới những đảo lộn địa kinh tế đối với Trung Quốc và toàn khu vực. Vị thế địa chính trị ngày càng quan trọng của Việt Nam trong bối cảnh khu vực hiện nay cũng được xem như một lợi thế và thời cơ lớn cho Việt Nam nhằm nâng cao sức mạnh quốc gia và thúc đẩy các lợi ích địa kinh tế và chính trị chiến lược trong quan hệ quốc tế. Nếu dự án kênh đào Kra đi qua eo đất miền Nam Thái Lan được hiện thực hóa trong những năm tới chắc chắn sẽ làm suy giảm rõ rệt lợi thế địa kinh tế của các quốc gia xung quanh khu vực eo biển Malacca, đồng thời làm gia tăng sức nặng và lợi thế địa kinh tế và chính trị cho Thái Lan, Campuchia và Việt Nam.

3. Bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay tạo ra những yếu tố tác động rõ rệt tới mối quan hệ giữa địa chính trị và địa kinh tế

Thứ nhất, mối quan hệ giữa địa kinh tế và địa chính trị ngày càng gắn bó chặt chẽ và đan xen vào nhau khó tách biệt rạch ròi trong toàn cầu hóa. Một trong những đặc điểm quan trọng nhất của toàn cầu hóa là sự đan xen lợi ích và phụ thuộc lẫn nhau ngày càng chặt chẽ giữa các quốc gia, khu vực cũng như vai trò và tác động ngày càng rõ rệt của các lực lượng đa quốc gia, xuyên quốc gia làm cho nhân tố kinh tế và chính trị, môi trường trong nước và quốc tế, lợi ích quốc gia và lợi ích quốc tế ngày càng gắn kết chặt chẽ với nhau. Do sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế, thường là mang tính bất đối xứng nên nhà nước này có thể làm cho nhà nước khác phụ thuộc vào mình thông qua các quan hệ kinh tế, từ đó mà đạt được các mục tiêu chính trị. Hơn nữa, sự phụ thuộc lẫn nhau một cách bất đối xứng gia tăng làm gia tăng tính dễ tổn thương về kinh tế và chính trị của các quốc gia, nhất là của các nước nhỏ, đang phát triển. Những biến động địa kinh tế có thể nhanh chóng dẫn tới những biến động địa chính trị và ngược lại. Vì thế, việc xử lý các vấn đề địa chính trị và địa kinh tế trong quan hệ quốc tế trở nên đặc biệt nhạy cảm, đòi hỏi sự cẩn trọng và linh hoạt hơn. Chẳng hạn, việc xử lý những mâu thuẫn, tranh chấp trên Biển Đông của một số nước ASEAN với Trung Quốc trở nên khó khăn và phức tạp hơn bởi sự phụ thuộc kinh tế gia tăng của các nước này vào Trung Quốc. Các nước EU cũng khó lòng ủng hộ Mỹ gia tăng áp lực cấm vận và cô lập Nga trên vấn đề Ukraina bởi chính những tổn thương mà EU có thể phải gánh chịu từ những hành động đó.

Hai là, toàn cầu hóa làm gia tăng tầm quan trọng của nhân tố địa kinh tế trong chính trị quốc tế cũng như trong mối quan hệ nhân quả với cạnh tranh địa chính trị. Chiến tranh lạnh kết thúc, cạnh tranh ý thức hệ và sức mạnh quân sự được thay thế bằng cạnh tranh sức mạnh kinh tế, thứ bậc của các quốc gia trong hệ thống thế giới được xác định trước hết bởi sức mạnh kinh tế, lợi ích quốc gia chi phối quan hệ quốc tế đã khiến nhân tố kinh tế đứng ở trung tâm thay thế cho các tính toán về chiến lược, chính trị hay quân sự truyền thống vốn chi phối chính sách đối ngoại của các quốc gia và chính trị quốc tế. Sự phát triển như vũ bão của công nghệ và thương mại trong toàn cầu hóa càng làm nổi bật vai trò của địa kinh tế trong cuộc đua tranh sức mạnh quốc gia. Trong môi trường quốc tế đó, mặc dù chính trị cường quyền và sức mạnh quân sự không mất đi vai trò của nó, nhưng sức mạnh kinh tế, công nghệ và vị thế thương mại của các quốc gia trở nên quan trọng hơn. Trong cuộc đua cạnh tranh quyền lực toàn cầu Mỹ - Trung hiện nay, yếu tố kinh tế sẽ đóng vai trò then chốt và thậm chí mang tính quyết định. Do sự phụ thuộc lẫn nhau giữa hai bên ngày càng chặt chẽ, các công cụ kinh tế sẽ trở thành vũ khí lợi hại được hai bên triệt để sử dụng trong cuộc đua tranh sức mạnh và ảnh hưởng toàn cầu cũng như kiềm chế lẫn nhau thay vì đối đầu chính trị và chạy đua vũ trang như trong thời kỳ chiến tranh lạnh trước đây. 

Ba là, toàn cầu hóa mở rộng phạm vi và gia tăng tốc độ tác động của những biến động địa chính trị và địa kinh tế cũng như sự tương tác của hai nhân tố đó. Toàn cầu hóa đã biến thế giới thành một chỉnh thể thống nhất mà ở đó mọi quốc gia, khu vực đều phụ thuộc vào nhau và chịu sự tương tác mạnh mẽ với nhau. Do đó, mọi biến động địa chính trị hoặc địa kinh tế ở một nơi nào đó có thể tác động nhanh chóng, với phạm vi rộng lớn tới nhiều quốc gia, khu vực và thậm chí toàn cầu. Cạnh tranh địa chính trị Mỹ - Trung ở Ấn Độ-Thái Bình Dương và cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung hiện nay tác động tới thương mại và kinh tế toàn cầu, đồng thời nó tác động tới cả việc tập hợp lực lượng khu vực, thế giới và quá trình định hình trật tự khu vực và quốc tế sắp tới. Cuộc khủng hoảng tài chính, tiền tệ châu Á (1997-1998) đã nhanh chóng lan rộng, dẫn tới những biến động kinh tế, chính trị ở nhiều quốc gia, làm suy giảm sức mạnh của nhiều quốc gia trong khi gia tăng mạnh mẽ vị thế và sức nặng địa kinh tế và chính trị cho một số quốc gia khác mà Trung Quốc là một ví dụ.

Trên thực tế, mặc dù bản chất của chính trị quốc tế vẫn chịu sự chi phối của chính trị cường quyền, sức mạnh quân sự vẫn không mất đi ý nghĩa trong chính trị quốc tế, nhưng trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, cạnh tranh sức mạnh tổng hợp của quốc gia mà sức mạnh kinh tế, công cụ kinh tế là yếu tố trung tâm, mang tính quyết định đã trở thành nét nổi bật của quan hệ quốc tế trong thời đại toàn cầu hóa. Trên khía cạnh tập hợp lực lượng toàn cầu hiện nay, một thế giới của các liên minh kinh tế, các khối kinh tế thương mại, các FTA song phương, đa phương, các sáng kiến hội nhập và hợp tác kinh tế khu vực, liên khu vực đang nổi lên mạnh mẽ, thay thế cho một thế giới của các khối liên minh chính trị quân sự đối đầu nhau trong chiến tranh lạnh. Toàn cầu hóa làm cho địa kinh tế trở thành công cụ quan trọng và hữu hiệu để hóa giải các thách thức địa chính trị, trong khi tài nguyên địa chính trị lại có thể làm gia tăng các lợi ích và đòn bẩy địa kinh tế cho các quốc gia. Bối cảnh mới đó của tình hình quốc tế chứa đựng thách thức lớn về sự tụt hậu kinh tế, về nguy cơ phụ thuộc về kinh tế và chính trị nhưng cũng tạo ra nhiều điều kiện thuận lợi cho các nước vừa và nhỏ nâng cao vị thế quốc gia, đồng thời góp phần định hình môi trường địa kinh tế và chính trị khu vực dưới các hình thức khác nhau.

___________________

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 5-2019

(1), (2) Trần Khánh: "Bàn về khái niệm địa chính trị", Bản tin Những vấn đề lý luận phục vụ lãnh đạo. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, số 1/2019, tr.12-25. 

(3) Babic, B. (2009). "Geo-economics: reality & science", in Megatrend review: the international review of applied economics. Belgrade, Vol.6. (in English), p.27.

(4) Luttwak, E, N. (1990). "From Geopolitics to Geo-economics: Logic of Conflict, Grammar of Commerce," National Interest 20: 17–23.

(5) Luttwak, E, N. (1990). "From Geopolitics to Geo-economics: Logic of Conflict, Grammar of Commerce," National Interest 20: 18.

(6) Leonard, M. (2015). "Geo-politics and Globalization: How Companies and States Can Become Winners in the Age of Geo-economics", in the book Geo- economics Seven Challenges to Globalization, p.4. Available at: http://www3 weforum.org

(7) Luttwak, E. (1999). Turbo capitalism: winners and losers in the global economy. New York: Harper and Collins: 125-130.

(8) Hudson, Valerie et al. (1991). "Why the Third World Matters, Why Europe Probably Won't: The Geoeconomics of Circumscribed Engagement". Journal of Strategic Studies (14.3): 255-98.

(9) Hsiung, J.C. (2009). "The Age of Geoeconomics, China's Global Role, and Prospects of Cross-Strait Integration," Journal of Chinese Political Science, Vol. 14, No. 2: 113–33.

(10) Blackwill, R., & Harris, J. (2016). War by Other Means: Geoeconomics and Statecraft. Cambridge, Massachusetts; London, England: Harvard University Press: 8, and 19-32. Retrieved from http://www.jstor.org/stable/j.ctt1c84cr7; Fjäder, C. O. (2018). "Interdependence as Dependence: Economic Security in the Age of Global Interconnectedness", In Geo-Economics and Power Politics in the 21st Century: The Revival of Economic Statecraft, edited by Wigell, M., Scholvin, S., and Aaltola, M. London: Routledge; Wigell, M. and Scholvin, S. (2018). Geo-Economics as Concept and Practice in International Relations: Surveying the State of the Art, FIIA WORKING PAPER 102. https://www.fiia.fi.

(11) Blackwill, R., & Harris, J. (2016). War by Other Means: Geoeconomics and Statecraft. Cambridge, Massachusetts; London, England: Harvard University Press. Retrieved from http://www.jstor.org; Ana C. Alves, (2015). "China and Brazil in Sub-Saharan African Fossil Fuels: A Comparative Analysis," in Sören Scholvin, ed., A New Scramble for Africa? The Rush for Energy Resources in Sub-Saharan Africa, Farnham: Ashgate: 33-51; Anniina Kärkkäinen, (2016). "Does China Have a Geoeconomic Strategy Towards Zimbabwe?: The Case of the Zimbabwean Natural Resource Sector," Asia Europe Journal, Vol. 14, No. 2: 185-202; Scholvin, S. and Strüver, G. (2012). "Tying the Region Together or Tearing It Apart?: China and Transport Infrastructure Projects in the SADC Region," in André du Pisani, Gerhard Erasmus, and Trudi Hartzenberg, eds., Monitoring Regional Integration in Southern Africa 2012. Stellenbosch: TRALAC: 175-93; Holslag, J. (2016), "Geoeconomics in a Globalized World: the Case of China's Export Policy", Asia Europe Journal 14.2: 173-84.

(12) Mattlin, M. and Wigell, M. (2016). "Geoeconomics in the Context of Restive Regional Powers," Asia Europe Journal, Vol. 14, No. 2: 125–34.

(13) Baru, S. (2012). A New Era of Geo-economics: Assessing the Interplay of Economic and Political Risk, IISS Geo-economics and Strategy Programme, IISS Seminar 23-25 March: 2.

(14) Baru, S. (2012). "Geo-economics and Strategy," Survival, Vol. 54, No. 3: 47–58.

(15) Scott, D. (2008). "The Great Power 'Great Game' between India and China: 'The Logic of Geography'" Geopolitics, Vol. 13, No. 1: 1-26.

(16) Grosse, T.G. (2014). "Geoeconomic Relations between the EU and China: The Lessons from the EU Weapon Embargo and from Galileo," Geopolitics, Vol. 19, No. 1: 40-65.

(17) Samuel P. Huntington, (1993). "Why International Primacy Matters." International Security, Vol. 17, No. 4.

(18), (19) Blackwill, R., & Harris, J. (2016). War by Other Means: Geoeconomics and Statecraft. Cambridge, Massachusetts; London, England: Harvard University Press: 9, 24. Retrieved from http://www.jstor.org.

(20) Kapyla, J. and Mikkola, H. (2016). "The Promise of the Geoeconomic Arctic: A Critical Arctic," Asia Europe Journal, Vol. 14, No. 2: 203-20.

(21) Scholvin, S. and Draper, P. (2012). "The Gateway to Africa?: Geography and South Africa's Role as an Economic Hinge Joint Between Africa and the World", South African Journal of International Affairs 19.3: 381-400; Scholvin, S. and Malamud, A. (2014). "Is There a Geoeconomic Node in South America?: Geography, Politics and Brazil's Role in Regional Economic Integration", ICS Working Paper 2/2014.

(22) Mercille, J. (2008). "The Radical Geopolitics of US Foreign Policy: Geopolitical and Geoeconomic Logics of Power," Political Geography, Vol. 27, No. 5: 570–86.

(23) Scholvin, S. and Wigell, M. (2018). "Power Politics by Economic Means: Geo-economics as an Analytical Approach and Foreign Policy Practice". Comparative Strategy 37.1: 73-84, DOI: 10.1080/01495933.2018.1419729.

(24) Cowen, D. and Smith, N. (2009). "After Geopolitics?: From the Geopolitical Social to Geoeconomics," Antipode, Vol. 41, No. 1.

(25) O'Hara, S. and Heffernan, M. (2006). "From Geo-Strategy to Geo-economics: The "Heartland" and British Imperialism Before and After Mackinder". Geopolitics 11.1: 54-73.

(26), (27) Youngs, Richard. (2011). "Geo-economic Futures", In Challenges for European Foreign Policy in 2012: What Kind of Geo-economic Europe?, edited by Ana Martiningui and Richard Youngs. Madrid: FRIDE: 14; Sidaway, J. D. (2005). Asia-Europe-United States: The Geoeconomics of Uncertainty. Area 37.4: 373-77.

(28) Matthew Sparke, (2006). "A Neoliberal Nexus: Economy, Security and the Biopolitics of Citizenship on the Border", Political Geography, Vol. 25, No. 2: 151-80; Domosh, M. (2013). "Geoeconomic Imaginations and Economic Geography in the Early Twentieth Century," Annals of the Association of American Geographers, vol. 103, no. 4: 945.

(29) Scholvin, S. and Wigell, M. (2018). "Power Politics by Economic Means: Geo-economics as an Analytical Approach and Foreign Policy Practice". Comparative Strategy 37.1: 4 DOI: 10.1080/01495933.2018.1419729.

(30) Chatham House, Whats is Geo-economics?. https://www.chathamhouse.org.

PGS, TS Phan Văn Rân

TS Ngô Chí Nguyện

Viện Quan hệ quốc tế,

Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

​ 


4/2/2020 9:00 AMĐã ban hành/Shared Documents/2020-04/Tn_dia_chinh_tri_cua_Vn.jpg
Tìm hiểu các phương pháp tiếp cận đánh giá chất lượng dịch vụ thư viện - thông tinTìm hiểu các phương pháp tiếp cận đánh giá chất lượng dịch vụ thư viện - thông tin

Mở đầu

Trong những năm gần đây, lĩnh vực dịch vụ ngày càng đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, theo đó chất lượng dịch vụ luôn là vấn đề được nhà sản xuất dịch vụ quan tâm nhiều nhất. Người sử dụng dịch vụ luôn mong đợi và yêu cầu chất lượng dịch vụ phải tốt hơn bao giờ hết. Chính vì vậy, việc đảm bảo chất lượng dịch vụ mà hoạt động chính là đánh giá chất lượng dịch vụ đã trở thành mối quan tâm hàng đầu của các cơ quan, tổ chức khi muốn triển khai một dịch vụ có hiệu quả tới khách hàng của mình. Đối với dịch vụ thư viện - thông tin (TVTT) cũng vậy, việc đảm bảo chất lượng dịch vụ luôn là vấn đề được các nhà nghiên cứu và quản lý thư viện chú ý. Vậy chất lượng dịch vụ TVTT là gì? Đã có những biện pháp nào để đánh giá chất lượng loại hình dịch vụ này?

1. Dịch vụ thư viện - thông tin

Do bản chất của hoạt động TVTT là các quá trình thông tin. Các quá trình này tạo thành một vòng tuần hoàn khép kín, sự kết thúc của quá trình này là đầu vào cho quá trình tiếp theo. Cứ như vậy, thông tin được truyền tải thông qua các hình thức tổ chức dịch vụ như: dịch vụ mượn - đọc tài liệu, dịch vụ phổ biến thông tin có chọn lọc, dịch vụ dịch thuật… và giá trị của thông tin ngày càng được gia tăng. Để các quá trình thông tin được vận hành một cách liên tục và thông suốt, thư viện cần phải tổ chức một hệ thống dịch vụ đa dạng và có chất lượng, bao gồm cả các dịch vụ truyền thống và các dịch vụ điện tử. Các quá trình thông tin này sẽ làm kích thích nhu cầu tìm kiếm thông tin/ tài liệu của người sử dụng và làm thoả mãn nhu cầu tin của người sử dụng các dịch vụ TVTT. Như vậy, qua phân tích có thể hiểu: “Dịch vụ TVTT là những quá trình thông tin/ hoạt động thông tin nhằm thoả mãn nhu cầu tin và trao đổi thông tin/ tài liệu của một cá nhân/ tổ chức đang sử dụng các dịch vụ của cơ quan TVTT”.

Với những đặc thù cơ bản của dịch vụ như: tính vô hình, tính không đồng nhất, tính không thể tách rời, tính không thể lưu trữ, cộng với những yếu tố đặc trưng về nguồn lực thông tin, cơ sở vật chất, trang thiết bị và con người trong môi trường thư viện, chất lượng dịch vụ TVTT vẫn là một khái niệm khó định nghĩa, khó đo lường, đánh giá. Nếu chất lượng của những sản phẩm thư viện hữu hình như: danh mục, thư mục, biểu ghi... có thể được đo lường thông qua những quy định cụ thể, rõ ràng về các tiêu chuẩn hình dáng, màu sắc, chất liệu, khả năng phản ánh thông tin... thì dịch vụ TVTT lại trừu tượng hơn bởi những tính chất đặc thù của nó. Trong nhiều năm qua, các nhà nghiên cứu về Khoa học thư viện (Library Information Science - LIS) trên thế giới đã xem xét nhiều biện pháp để đo lường, đánh giá chất lượng dịch vụ TVTT, tuy nhiên vẫn chưa có một định nghĩa nào được thừa nhận như một giá trị đúng đắn nhất về chất lượng dịch vụ TVTT. Các chuyên gia LIS, tuỳ theo từng quan điểm nghiên cứu và hướng tiếp cận đánh giá lại đưa ra một định nghĩa khác nhau. Năm 2001, tác giả Wisniewski [6] trong nghiên cứu của mình cũng đã chỉ ra rằng “Chất lượng dịch vụ thư viện là một khái niệm gây nhiều chú ý và tranh cãi trong các tài liệu nghiên cứu bởi vì các nhà nghiên cứu gặp nhiều khó khăn trong việc định nghĩa và đo lường chất lượng dịch vụ khi không hề có sự thống nhất nào”. Bài viết tìm hiểu các phương pháp đã được nghiên cứu về đánh giá chất lượng dịch vụ TVTT để thấy được những ưu, nhược điểm trong từng quan điểm đánh giá.

2.  Các phương pháp đánh giá chất lượng dịch vụ thư viện - thông tin

Xem xét sự phát triển của công tác đánh giá chất lượng dịch vụ TVTT có thể thấy các nghiên cứu được triển khai theo nhiều phương pháp khác nhau và có thể phân chia thành các hướng tiếp cận sau:

2.1. Phương pháp tiếp cận tài nguyên hệ thống (System resources approach)

Cách tiếp cận tài nguyên hệ thống được coi là việc sử dụng biện pháp đánh giá những yếu tố đầu vào (inputs) để đánh giá dịch vụ TVTT. Áp dụng phương pháp đánh giá này, thư viện đã tập trung vào: quy mô của ngân sách, số lượng và trình độ của viên chức, kích thước và thế mạnh của các bộ sưu tập... Phương pháp tiếp cận này đã được sử dụng để đánh giá dịch vụ TVTT từ rất sớm, những số liệu thống kê thu thập được coi là kết quả cuối cùng. Đặc trưng của phương pháp đánh giá này chính là: Sự nhận thức của các nhà cung cấp dịch vụ (các nhà quản lý thư viện hoặc người làm thư viện); Chú trọng mô tả về hiện tượng (có bao nhiêu tài liệu được lưu thông trong một thời gian nhất định? Số lượng lưu thông hàng ngày là bao nhiêu? Câu hỏi trả lời tham khảo nhiều không? Sách đặt hàng và mục lục theo ngày, tháng hoặc năm?…). Ngoài ra, cách đánh giá này tập trung vào việc thống kê bộ sưu tập.

alt 

Sơ đồ: Mô hình hệ thống (Systems Model)

Đánh giá chất lượng dịch vụ bằng phương pháp tiếp cận hệ thống có thể cung cấp cho các nhà quản lý và người làm thư viện các thông tin có giá trị (như sự gia tăng của các con số truy cập/ sử dụng dịch vụ). Tuy nhiên, các số liệu thống kê như thế chỉ mang tính chất đơn lẻ và không cung cấp bất kỳ hướng dẫn có ý nghĩa cho việc cải tiến hệ thống dịch vụ; không có những phân tích sâu hơn hay làm rõ những biện pháp đã được thực hiện. Có thể nói đây là cách tiếp cận đánh giá dịch vụ TVTT truyền thống, bởi nó chỉ nhìn vào những giá trị hữu hình hoặc cảm quan dựa trên quan điểm của những người làm thư viện để làm thước đo đánh giá.

2.2. Phương pháp đạt được mục tiêu (Objec- tive aproach)

Phương pháp đạt được mục tiêu là phương pháp mà một tổ chức áp dụng để đánh giá mức độ hoạt động dịch vụ đạt được bao nhiêu so với mục tiêu đề ra. Điều này có nghĩa là các thư viện xác định mục tiêu cho dịch vụ TVTT của họ, sau đó tiến hành đo hiệu suất (promance) và kết quả đầu ra (outputs) của hoạt động dịch vụ TVTT với các mục tiêu đã vạch sẵn từ trước.

alt 

Sơ đồ: Mô hình kết quả (Outcomes Model)

Như vậy, đối với cách tiếp cận đánh giá chất lượng dịch vụ TVTT theo hướng này, các nhà quản lý thư viện cần phải xác định được một hình mẫu và các tiêu chí mà một dịch vụ thư viện cần phải có. Chính vì vậy chất lượng dịch vụ lúc này sẽ phụ thuộc nhiều hơn vào môi trường bên ngoài của thư viện như: trình độ phát triển khoa học kỹ thuật và công nghệ, chính sách ưu tiên của từng đơn vị chủ quản… và tuỳ thuộc vào đặc thù của từng loại hình, từng hệ thống thư viện khác nhau sẽ có những tiêu chí đánh giá khác nhau. Phương pháp đạt được mục tiêu có thể sử dụng để phân tích chất lượng dịch vụ TVTT ở các cấp độ khác nhau. Cách tiếp cận này cho phép các thư viện tự quyết định các tiêu chuẩn chất lượng và mục tiêu cho các dịch vụ TVTT của mình. Thông qua kiểm tra, thanh tra chất lượng, các tổ chức hữu quan sẽ xem xét, đánh giá hệ thống đảm bảo chất lượng của thư viện đó có khả năng giúp thư viện hoàn thành sứ mạng một cách hiệu quả với hiệu suất cao nhất hay không? Mô hình này đặc biệt quan trọng đối với các thư viện có nguồn lực hạn chế, giúp các nhà quản lý có được cơ chế sử dụng hợp lý, hiệu quả những nguồn lực của mình để đạt tới mục tiêu đã định từ trước một cách hiệu quả nhất. Ưu điểm nổi bật của phương pháp này là có thể biến đổi linh hoạt trong từng môi trường thư viện khác nhau. Tuy nhiên hạn chế của phương pháp này chính là rất khó xác định được mục tiêu chung để đánh giá dịch vụ TVTT dẫn tới sự thiếu thống nhất trong việc so sánh về chất lượng dịch vụ của các thư viện khác nhau và ngay cả các thư viện trong cùng một hệ thống. 

2.3. Phương pháp tiếp cận quy trình (Pro- cesses approach)

Cách tiếp cận quy trình là việc xem xét tính liên tục và sự tương tác cả đầu vào cũng như đầu ra của các quá trình. Phương pháp tiếp cận quy trình nhìn vào đo lường hiệu suất và đánh giá như một khía cạnh của hiệu quả, đặc biệt là liên quan đến cách đầu vào được chuyển đổi thành đầu ra. Phương pháp này giúp chuyển đổi sự tập trung từ việc tuân thủ nghiêm ngặt các tiêu chuẩn, văn bản thành việc nắm bắt tư tưởng của sự cải tiến. Đầu vào là yếu tố bắt đầu một quá trình như con người, tài nguyên vật liệu, có thể có cùng lúc nhiều đầu vào và thường xuyên hoạt động tồn tại. Đầu ra là kết quả được chuyển giao từ quy trình nhắm đến sự mong đợi của khách hàng, có thể là bên ngoài hay nội bộ và thông thường đầu ra là một sản phẩm, một dịch vụ hay một đầu vào cho một quy trình khác.

Tiêu biểu cho cách tiếp cận quy trình là việc sử dụng bộ công cụ Quản lý chất lượng toàn diện (Total Quality Management - TQM) để đánh giá chất lượng toàn diện. TQM được áp dụng trong lĩnh vực thư viện bắt đầu vào cuối những năm 1980. Những nguyên tắc cơ bản của TQM là: định hướng khách hàng, huấn luyện nhân viên về quản lý chất lượng, khả năng lãnh đạo của người quản lý, xây dựng kế hoạch chiến lược, quản lý quy trình hoạt động và đánh giá chất lượng hoạt động.

Ưu điểm nổi bật của phương pháp tiếp cận quá trình chính là sự cải tiến liên tục của chất lượng dịch vụ thông qua sự kiểm tra và khắc phục những sai sót trong quá trình tiến hành dịch vụ. Xây dựng được môi trường dịch vụ chuyên nghiệp, giảm chi phí, giảm sai sót trong việc triển khai dịch vụ. Tuy nhiên, nhược điểm của phương pháp này là khó áp dụng ở một tổ chức thư viện nhỏ và khi thực hiện đánh giá chất lượng theo cách tiếp cận này cần có sự đồng thuận, tự giác của mỗi nhân viên trong thư viện. Vì đánh giá chất lượng dựa trên con người, không có một tiêu chuẩn nào được đặt ra, nó đòi hỏi sự trách nhiệm và thái độ nghiêm túc của mỗi nhân viên trong thư viện. Phương pháp này nghiêng về tổ chức, quản lý thư viện nhiều hơn là đánh giá chất lượng của các dịch vụ TVTT, chưa xây dựng được những khía cạnh cụ thể cho đánh giá chất lượng dịch vụ TVTT mà mới nhấn mạnh về sự cải thiện các quy trình dịch vụ. Chính vì vậy, hiện nay cách tiếp cận này ít được các nhà nghiên cứu sử dụng.

2.4. Phương pháp tiếp cận tiêu chuẩn (Stan- dardisation approach)

Phương pháp tiếp cận tiêu chuẩn được tiến hành bằng cách tạo ra các thông số kỹ thuật phản ánh những đặc tính cần có của các loại hình dịch vụ thư viện. Điều này có nghĩa tiêu chuẩn được xem là công cụ đo lường, hoặc bộ thước đo - một phương tiện trung gian để miêu tả những đặc tính cần có của một dịch vụ TVTT nhất định. Chất lượng dịch vụ sẽ được đo bằng sự phù hợp của nó với các thông số hay tiêu chuẩn được quy định trước đó.

Tiêu biểu cho phương pháp tiếp cận này cần phải kể đến: Bộ tiêu chuẩn ISO được áp dụng ở Việt Nam để đánh giá chất lượng ở nhiều lĩnh vực khác nhau trong đó có hoạt động dịch vụ TVTT. Một số tiêu chuẩn đo lường chất lượng các dịch vụ TVTT đã được xây dựng và triển khai áp dụng trong thực tế, chẳng hạn như: ISO 10160:1997 (Thông tin và tài liệu - liên kết các hệ thống mở - Xác định các dịch vụ mượn liên thư viện); ISO 23950:1998 (Thông tin và tư liệu - Tra cứu thông tin (Z39.50) - Định nghĩa dịch vụ ứng dụng và đặc tả giao thức); ISO 11620:2014 (Thông tin và tư liệu - Chỉ số hiệu suất thư viện); ISO 2789:2013 (Thông tin và tư liệu - Thống kê thư viện quốc tế); ISO/TR 20983:2003 (Thông tin và tư liệu - Các chỉ số hoạt động cho các dịch vụ thư viện điện tử)...

Ngoài ra còn có các “Hướng dẫn quốc tế” về đo lường hiệu suất trong thư viện được công bố bởi Liên đoàn Quốc tế các hội và cơ quan thư viện (IFLA) cũng là một công cụ áp dụng cho các thư viện trường đại học. Để đưa các tiêu chuẩn này vào môi trường thư viện, các đơn vị quản lý thư viện thường ban hành những văn bản hướng dẫn thư viện. Các tiêu chuẩn của Hiệp hội các thư viện nghiên cứu (Association Reasearch Library - ARL); Hiệp hội Thư viện Mỹ (American Library Association - ALA) đã ban hành các tiêu chuẩn sau đây về đánh giá chất lượng dịch vụ TVTT: Tiêu chuẩn dành cho thư viện đại học: Đánh giá hiệu suất (Standards for University Libraries: Evaluation of Performance -  1989); Chỉ dẫn về dịch vụ nghe nhìn trong các thư viện đại học (Guidelines for Audiovisual Services in Academic Libraries - 1987); Chỉ dẫn về tài nguyên truyền thông trong các thư viện đại học: Bản thảo (Guidelines for Media Resources in Academic Libra- ries: A Draft - 1998)…

Trong môi trường thư viện, cách tiếp cận đánh giá dịch vụ theo tiêu chuẩn đã tạo điều kiện cho các thư viện lựa chọn các tiêu chuẩn phù hợp nhất với thư viện của mình và phấn đấu theo các chuẩn đó. Tuy nhiên, rất khó khăn để triển khai các tiêu chuẩn đánh giá trên thực tế bởi cơ sở xây dựng tiêu chuẩn chưa thực sự xuất phát từ hiện trạng của mỗi thư viện nói riêng và từng hệ thống thư viện nói chung. Hơn nữa thuật ngữ “tiêu chuẩn” cho ta ý niệm về một khái niệm tĩnh, nghĩa là một khi các thông số kỹ thuật đã được xác định thì không phải xem xét hoặc rất ít khi thay đổi chúng. Trong khi đó khu vực dịch vụ là khu vực phát triển năng động nhất, hơn nữa dịch vụ TVTT lại gắn liền với những tiến bộ về khoa học, kỹ thuật và công nghệ, hệ thống thông tin, tri thức ngày càng có những biến đổi to lớn thì “tiêu chuẩn” của chất lượng các dịch vụ thư viện không thể là một khái niệm tĩnh.

2.5. Phương pháp tiếp cận sự hài lòng của người tham gia (Approach the satisfaction of contributor/ Disconfirmation)

Trong những thập niên gần đây, chất lượng dịch vụ không chỉ là sự phù hợp với các thông số kỹ thuật hay tiêu chuẩn cho trước, mà còn là sự đáp ứng nhu cầu của người sử dụng dịch vụ đó. Vì vậy, khi thiết kế một dịch vụ, yếu tố quyết định là xác định nhu cầu của đối tượng sử dụng dịch vụ, để dịch vụ có được những đặc tính mà người sử dụng mong muốn. Theo quan điểm này, cơ quan thư viện cần nhận ra những nhu cầu, ưu tiên và thông tin phản hồi khác nhau của người sử dụng thư viện. Tất cả dịch vụ thư viện hiện tại và tương lai phải lấy người sử dụng thư viện làm trung tâm. Thư viện không nên hoạt động trong sự tách biệt mong đợi của người sử dụng và thư viện nên biết những kỳ vọng của người sử dụng để cải thiện chất lượng dịch vụ cung cấp. Chính vì vậy, mặc dù vẫn còn một số hạn chế và các chỉ trích như khó phân biệt được sự cảm nhận và sự mong đợi của người sử dụng, chưa chú ý nhiều đến chức năng kỹ thuật của thư viện... Song hướng tiếp cận theo quan điểm đánh giá chất lượng từ phía người sử dụng thư viện vẫn là một hướng thu hút được nhiều sự quan tâm, nghiên cứu và áp dụng của các thư viện trên thế giới để cải thiện chất lượng dịch vụ của mình.

Kết luận

Các phương pháp tiếp cận trên cho thấy đánh giá chất lượng dịch vụ TVTT là đa chiều. Mỗi một phương pháp đánh giá các dịch vụ TVTT từ góc độ riêng của nó. Các thư viện khác nhau có các đặc điểm, cơ chế chính sách, nguồn lực thông tin, đối tượng người sử dụng, cơ sở vật chất, nguồn nhân lực… khác nhau, ngay cả các biện pháp phát triển và thực hiện đánh giá chất lượng cũng phải phù hợp với dịch vụ được cung cấp. Vì vậy, sử dụng một phương pháp duy nhất hay kết hợp một số phương pháp tiếp cận để đánh giá chất lượng dịch vụ TVTT cho toàn bộ hệ thống thư viện không phải là điều đơn giản. Cần tìm ra phương pháp tối ưu nhất và có những giải pháp hiệu quả để làm giảm đi những hạn chế của nó là điều mà các công trình nghiên cứu về đánh giá chất lượng dịch vụ TVTT hướng tới.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Huỳnh Đình Chiến, Huỳnh Thị Xuân Phương. Nâng cao chất lượng các dịch vụ thông tin - thư viện nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của cán bộ giảng viên và sinh viên Đại học Huế // Kỷ yếu hội thảo “Xây dựng thư viện hiện đại, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo trong các trường đại học ở Việt Nam hiện nay”. - Đà Nẵng, 2008.

2. Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 10274:2013. Hoạt động thư viện - Thuật ngữ và định nghĩa chung. - H., 2013. - 46tr.

3. Childers, T. and Van House, N. What's Good: Describing Your Public Library's Effectiveness. - Chicago: American Library Association, 1993.

4. Hernon, P. and Nitecki, D. A. Service quality: a concept not fully explored // Library Trends. - 2001. - Vol. 49. - No. 4. - P. 687-708.

5. Hernon, Peter and Calvert, Philip J. Methods for measuring service quality in University Libraries in New Zealand // The Journal of Academic Librarianship. - 1996. - Vol. 22 (5). - P. 387-391.

6. Mik Wisniewski. Using Servqual to assess customer satisfaction with public sector services // Managing Service Quality: An International Journal. - 2001. - Vol. 11 Iss: 6. - P. 380-388.

7. Ninh K.T. Quality management in university libraries in Vietnam: A framework for development and implementation. - Phd in Information Technology Monash University, 2013. - 376p.

8. Nitecki, D. Changing the concept and measure of service quality in academic libraries // The Journal of Academic Librarianship. - 1996. - Vol 22. - P. 181-190.

9. Quinn, B. Adapting service quality concepts to academic libraries // The Journal of Academic Librarianship. - 1997. - No. 23 (5). - P. 359-369.

10. Shi, X. and Levy, S. Theory-guided approach to library services assessment // College and Research Libraries. - 2005. - Vol. 66. - No. 3. - P. 266-277.

11. Van House, Nancy A., Weil, Beth T. andMcClure, Charles R. Measuring academic library peformance: A practical approach. - Chicago: American Library Association, 1990.

___________

ThS. Bùi Thị Thanh Diệu

Đại học Khánh Hoà

Nguồn: Tạp chí Thư viện Việt Nam. - 2017. - Số 4. - Tr. 26-30.​

9/13/2018 11:00 AMĐã ban hành/Shared Documents/2018-09/cntt1_HCGT.jpg
Quản lý dữ liệu nghiên cứu: Một cách tiếp cận quản trị dữ liệu cho các thư viện Việt NamQuản lý dữ liệu nghiên cứu: Một cách tiếp cận quản trị dữ liệu cho các thư viện Việt Nam

Giới thiệu chung

Sử dụng dữ liệu làm cơ sở cho các bài báo nghiên cứu ngày càng trở nên quan trọng. Với sự hỗ trợ của công nghệ xuất bản trực tuyến thì thông tin ngày càng trở nên có sẵn và các dịch vụ thông tin trở nên nở rộ để hỗ trợ người dùng một cách tốt nhất, thông tin vì thế được sử dụng và tái sử dụng để kết hợp với các dữ liệu khác. Trên thế giới hiện nay, xu thế "dữ liệu lớn" (big data) trong các lĩnh vực khác nhau đang được sử dụng, tái sử dụng và chia sẻ để rút ngắn thời gian không chỉ nghiên cứu và còn rút ngắn được quá trình hình thành nên công trình và sản phẩm. Cùng với đó, việc khai thác tiềm năng ở mức độ sâu sắc hơn về các dữ liệu nghiên cứu, chia sẻ và quản trị các dữ liệu này đã trở thành một vấn đề mang tính chất toàn cầu. Và cũng chính vì tiềm năng khai thác, sử dụng, chia sẻ và tái sử dụng dữ liệu thô/ dữ liệu nghiên cứu (DLNC) đang trở thành vấn đề được nhiều cơ quan tổ chức quốc tế đã điều chỉnh chính sách của mình để khuyến khích, tài trợ, thậm chí uỷ quyền cho các nhà nghiên cứu, các viện và tổ chức nghiên cứu để làm cho dữ liệu này có sẵn và truy cập mở.

Khái niệm dữ liệu nghiên cứu

Khái niệm về DLNC hiện nay còn nhiều tranh luận để đưa ra một khái niệm thống nhất, vì hình thức và nội dung của dữ liệu ở các lĩnh vực khác nhau thì khác nhau.

Khái niệm về DLNC cũng có thể được hiểu và diễn giải ở nhiều cách khác nhau, năm 2005, Quỹ Khoa học Quốc gia [3] đã xuất bản tập báo cáo có tựa đề "Phát triển bộ sưu tập số mang tính chất dài hạn: khuyến khích nghiên cứu và phát triển giáo dục trong thế kỷ XXI" (Long-Lived Digital Data Collections: Enabling Research and Education in the 21st Century) đã đề cập tới việc có thể phân chia DLNC bởi nguồn gốc của chúng được tạo ra, bởi vì các dữ liệu này có thể là các dữ liệu về thí nghiệm, máy tính hay quan sát. Trong đó dữ liệu quan sát có thể là các quan trắc về nhiễu độ hay quan sát về thái độ của người bỏ phiếu trước cuộc tổng tuyển cử. Dữ liệu về máy tính có thể là kết quả từ thực hiện mô hình mô phỏng hoặc có thể là các thông tin về cấu hình như phần cứng, phần mềm. Dữ liệu về nghiên cứu, thí nghiệm ví dụ các mẫu biểu hiện gen hay tốc độ phản ứng hoá học.

Trong quá trình vòng đời nghiên cứu, DLNC được tạo ra từ những quá trình đầu tiên của việc tiến hành xem xét, xử lý, phân tích, bảo quản, truy cập và tái sử dụng dữ liệu để tạo ra thông tin mới. Theo Hiệp hội lưu trữ dữ liệu của Vương quốc Anh [6], vòng đời nghiên cứu được hình thành và liên kết với nhau tạo thành một liên kết vòng tròn hỗ trợ nhau.

alt

Trong một số trường hợp, DLNC được định nghĩa là các biểu ghi, hay các bằng chứng, dẫn chứng về nội dung của thông tin có thể ở các hình thức vật lý dạng in ấn, điện tử hay các hình thức khác. Cơ quan Phát triển và Hợp tác về Kinh tế và Giáo dục của Liên minh châu Âu [4] đã cho rằng rất khó để phân biệt DLNC và dữ liệu sơ cấp, trong một số trường hợp dễ làm người nghiên cứu nhầm lẫn. Cơ quan này cho rằng "DLNC là những biểu ghi, dữ liệu thực tế mà có thể ở chữ số, ký hiệu, chữ viết, hình ảnh, âm thanh được sử dụng như một nguồn dữ liệu thứ cấp cho nghiên cứu được chấp nhận rộng rãi trong cộng đồng nghiên cứu để kiểm tra lại các kết quả nghiên cứu".

Theo Đại học Boston [1], DLNC không giống như các loại hình thông tin khác, chúng được thu thập, quan sát hay tạo ra cho các mục đích phân tích để sản xuất ra các kết quả nghiên cứu. DLNC có thể được tạo ra cho các mục đích khác nhau thông qua các quá trình khác nhau và có thể được chia thành các nhóm dữ liệu khác nhau, tuy nhiên mỗi nhóm dữ liệu này yêu cầu một kế hoạch quản trị dữ liệu cũng khác nhau:

- Dữ liệu về quan sát: Dữ liệu được thu nhận trong cuộc sống hiện tại, không thể thay thế được như: dữ liệu thu về từ các cảm biến, quan trắc, dữ liệu phỏng vấn, hay các hình ảnh về quan sát từ vũ trụ gửi về trái đất.

- Dữ liệu về các thí nghiệm: Dữ liệu thu thập trực tiếp từ các phòng thí nghiệm, thường có thể tái sử dụng nhiều lần, nhưng khá đắt đỏ như: các chuỗi gen người, hay dữ liệu từ trường.

- Dữ liệu mô phỏng: Dữ liệu được tạo ra từ các mô hình thử nghiệm như: mô hình thử nghiệm kinh tế, mô hình thử nghiệm thời tiết.

DLNC có thể ở các hình thức sau:

- Văn bản, tài liệu, chữ, hay các bảng tính.

- Ghi chú trong phòng thí nghiệm, đi thực nghiệm, nhật ký.

- Bảng câu hỏi, bản ghi chép tay.

- Băng ghi âm, ghi hình.

- Hình ảnh, phim ảnh.

- Phản ứng thí nghiệm.

- Slide, hiện vật, mẫu vật, mẫu.

- Bộ sưu tập các đối tượng số được tạo ra và thu thập trong quá trình nghiên cứu.

- Hồ sơ dữ liệu.

- Nội dung cơ sở dữ liệu bao gồm cả hình ảnh, âm thanh, văn bản.

- Thuật toán, các kịch bản.

- Các phương pháp và quy trình công việc.

- Các quy trình tiêu chuẩn và giao thức.

Tuỳ thuộc vào mỗi cơ quan mục đích sử dụng khác nhau sẽ có sự phân biệt và sử dụng DLNC khác nhau. Chính vì điều này đã phân biệt sự khác nhau giữa dữ liệu xuất bản và DLNC ở bảng dưới đây [2]:

alt

Sự khác nhau giữa thông tin xuất bản và DLNC

Vai trò của việc quản lý DLNC đối với các cơ quan, tổ chức và cơ quan thư viện - thông tin

Phải nói rằng, đứng sau thành công của các nhà khoa học là thành công của các cơ quan nghiên cứu, tổ chức đã đồng hành cùng các nhà nghiên cứu đó. Đối với các trường đại học và các viện nghiên cứu, việc đưa ra một chiến lược cụ thể trong việc quản lý nguồn tài nguyên có giá trị này đem lại rất nhiều lợi ích về mặt kinh tế cũng như tiếng tăm. Theo tác giả Elsevier điều này có thể được nhìn thấy ở một vài khía cạnh sau [1]:

- Quản lý DLNC đem tới sự cải thiện về chất lượng và số lượng của các kết quả đầu ra vì tốc độ nghiên cứu sẽ tăng lên cùng với độ tin cậy của các bài báo nghiên cứu sẽ cải thiện khi DLNC được truy cập mở, sẵn có cho việc đánh giá.

- Tăng việc xuất bản và tăng chỉ số ảnh hưởng: Sự sẵn có của DLNC sẽ làm tăng việc xuất bản, dẫn tới sự bùng nổ tranh luận của nhiều quan điểm, chia sẻ dẫn tới làm tăng sự ảnh hưởng của bài viết, tạo ra nhiều trích dẫn.

- Tăng cường việc hợp tác: Dữ liệu được chia sẻ là một khởi đầu cho việc hợp tác, như các nhà nghiên cứu tìm kiếm để hiểu làm thế nào kết quả được thu thập và trao đổi các quan điểm trong việc phân tích và giải thích một vấn đề.

Để có thể khai thác toàn bộ tiềm năng của DLNC, đòi hỏi mỗi cơ quan, trung tâm thông tin - thư viện cần phải đưa ra những chiến lược phát triển và hợp tác hợp lý, trong đó đề cao việc thực hiện chiến lược và chính sách truy cập mở, đảm bảo việc hanh thông về tài chính và hỗ trợ về mặt công nghệ để tài liệu được truy cập mở và dễ dàng tìm thấy. Tuy nhiên, cùng một lúc cũng đảm bảo có các chính sách về bảo hộ quyền sở hữu và thông tin cá nhân, quyền riêng tư cùng với các tiêu chuẩn về an ninh, an toàn dữ liệu để xây dựng hệ thống phục vụ việc sử dụng và tra cứu dữ liệu. Ngoài ra, cần phải có chiến lược tái sử dụng thông tin, phục vụ hoạt động DLNC sẽ được phát hiện và tái sử dụng thông qua các xuất bản phẩm, trong đó hoạt động cốt lõi là thực hiện một giải pháp xuất bản phẩm tiên tiến xem xét việc công bố các dữ liệu, phần mềm và phương pháp trích dẫn. Quá trình kiểm duyệt, cài đặt và tạo ra các định danh đối tượng số duy nhất cho các dữ liệu và dữ liệu có liên quan. Hơn thế nữa, nhiệm vụ của các trung tâm, cơ quan thư viện - thông tin trong hoạt động này là phải đảm bảo dữ liệu được kết nối với nhau, nên chúng có thể dễ dàng được tìm kiếm bởi người dùng hoặc các đối tác trong cơ quan đó hay cộng đồng người dùng ngoài cơ quan. Để thúc đẩy dữ liệu có thể được tìm thấy, các chương trình liên kết dữ liệu cần phải được cài đặt và thiết lập. Ví dụ, trường Đại học Havard liên kết những bài báo của các nhà nghiên cứu trong trường với các cơ sở dữ liệu ở cả viện nghiên cứu và các cơ quan lưu trữ mà có liên kết với nhau về nhiều ngành nghề. Việc hỗ trợ tìm kiếm một lúc trên nhiều cơ sở dữ liệu hiệu quả cũng là một vấn đề cần phải được xem xét.

Vậy lợi ích của hoạt động quản lý DLNC đối với các nhà nghiên cứu là gì? Đơn giản với những nhà nghiên cứu, có một lý lẽ được đặt ra là có lẽ không cần phải thuyết phục với họ tầm quan trọng của DLNC là gì bởi vì hơn ai hết họ hiểu được việc này, tuy nhiên có nhiều nhà nghiên cứu vẫn không hiểu được tầm quan trọng và tiềm năng của việc chia sẻ nguồn tài liệu này với cộng đồng nghiên cứu mà có thể được liệt kê ở những điểm chính sau:

- Tăng cường sự hợp tác: Chia sẻ là hợp tác và đặc biệt điều này giúp cho việc kiểm soát, thẩm định lại kết quả của các nghiên cứu.

- Tăng các chỉ số ảnh hưởng và hoạt động xuất bản: Việc chia sẻ các DLNC và quản lý chúng một cách hiệu quả giúp quá trình nghiên cứu được rút ngắn, nhiều công trình được xuất bản hơn, nâng tầm nghiên cứu, tăng các chỉ số trích dẫn tài liệu và uy tín của nhà nghiên cứu.

- Tăng sự phân phối của các nghiên cứu: Truy cập tới các nguồn DLNC giúp tăng việc phân phối các nghiên cứu này tới nhiều cơ sở dữ liệu khác nhau, thúc đẩy sự trao đổi và tái sử dụng dữ liệu.

Để hiểu rõ hơn về quy trình quản lý và trách nhiệm của các bên liên quan, hệ thống quản lý, dịch vụ lưu trữ và chia sẻ DLNC tại Thư viện trường Đại học Oslo, Na Uy được lấy làm ví dụ.

Thư viện trường Đại học Oslo, Na Uy với sự ra đời một hệ thống bao gồm trang thiết bị cơ sở vật chất và nguồn nhân lực để quản lý và chia sẻ DLNC. Hệ thống quản lý và dịch vụ lưu trữ, chia sẻ DLNC tại Thư viện trường Đại học Oslo được chia thành hai phần chính: dịch vụ lưu trữ DLNC cho các cá nhân là các nhà nghiên cứu, cho các nhóm dự án nghiên cứu và cho các cơ quan tổ chức ở ngoài; và sử dụng các công cụ để lưu trữ dữ liệu dưới nhiều ngành nghề khác nhau. Tại Đại học Oslo có nhiều nguồn lực khác nhau trong hoạt động phân phối và kiểm soát DLNC.

- USIT (Trung tâm tin học của Đại học Oslo) đã thiết lập các hệ thống cho dịch vụ quản lý dữ liệu nhạy cảm tuỳ thuộc vào các chuyên ngành như y tế và giáo dục ở trong trường. Trong đó quản lý dữ liệu và mức độ truy cập dữ liệu tới từng đối tượng người sử dụng dịch vụ.

- Bên cạnh đó còn có Trung tâm quốc gia về dịch vụ dữ liệu khoa học xã hội (Norwegian Social Science Data Service) đảm bảo rằng việc duy trì các dịch vụ này phải đúng theo pháp luật. Tuy nhiên, khi người dùng sử dụng dịch vụ này để lưu trữ các DLNC ở hình thức tài liệu nghe, nhìn có liên quan tới các nhóm dự án nhất định, tất cả các thông tin liên quan tới cá nhân, tổ chức, các thông tin nhạy cảm đặc biệt được làm không rõ danh tính vì liên quan tới DLNC, đôi khi về sức khoẻ hay thông tin y tế thì thường hay nhạy cảm, nên tất cả các thông tin lưu trữ phục vụ mục đích nghiên cứu lâu dài phải loại bỏ hết tên, hay các thông tin đời tư khác. Tất cả các thông tin liên quan tới dự án phải được xoá bỏ, nếu là băng đĩa thì phải tiêu huỷ sau khi dự án kết thúc vì liên đới tới trách nhiệm của cơ quan tổ chức khác và để đảm bảo vấn đề về cá nhân.

- Norstore: Là một cơ sở hạ tầng quốc gia cho việc lưu trữ dữ liệu khoa học. Đây là cơ quan đầu tiên của Na Uy tiến hành hoạt động đưa DLNC được truy cập mở vì nhu cầu của cộng đồng, những nhà nghiên cứu cần một nơi để lưu trữ dữ liệu an toàn, phục vụ hoạt động nghiên cứu, xuất bản, quản lý DLNC và có thể truy cập mở một phần.

Hình dưới đây sẽ chỉ rõ ra trách nhiệm cũng như vai trò của các cơ quan có liên quan trong hoạt động quản lý nguồn DLNC tại Đại học Oslo [7].

alt

Hình vẽ phác thảo mô hình thu, nhận, chia sẻ và quản lý DLNC được chia ra thành bốn khu vực. Trong đó hai khu vực đầu tiên thể hiện trách nhiệm của các bên liên quan trong hoạt động đảm bảo DLNC không chỉ đơn thuần được truy cập bởi các nhà nghiên cứu mà được chia sẻ ở một mức độ mở nhất định. Và mức độ mở ấy của dữ liệu sẽ được quy định bởi một số các yếu tố như là yếu tố về mặt pháp lý, bản quyền hoặc yêu cầu thương mại.

Ở mức độ 2, đại diện cho giải pháp trung tâm để lưu trữ và chia sẻ DLNC dựa trên tiêu chí an toàn đầu tiên, sau đó dễ dàng tiếp cận trên các nền tảng, hệ thống dữ liệu khác nhau của người dùng. Do đó, các hệ thống khác nhau này cũng đem lại những khó khăn nhất định trong việc truy cập nguồn dữ liệu. Ngoài ra, một số chức năng cần thiết trong hệ thống để đảm bảo các siêu dữ liệu trong DLNC được truy cập ở một mức độ nhất định cũng đem lại những khó khăn cho người truy cập tới nguồn này. Tại Thư viện trường Đại học Oslo, hệ thống này sẽ được đặt trực tiếp trong thư viện để tạo ra một giải pháp kết nối sử dụng DLNC ở mức độ 1 và hướng tới thiết lập hệ thống lưu trữ DLNC cuối cùng ở mức độ 3.

Mức độ 3 có liên quan tới việc các DLNC được phân tích và đưa ra các đánh giá phục vụ cộng đồng nghiên cứu, việc này sẽ được xác nhận có lưu trữ dữ liệu này hay không. Ở cấp độ này, một số dữ liệu được lưu trữ sẽ được gắn một mã định danh đối tượng số (DOI) duy nhất, ở đó nội dung của DLNC phải được đảm bảo về mặt chất lượng, siêu dữ liệu (metadata) phải được điền đầy đủ thông tin các trường. Ở cấp độ quốc gia, sẽ có Trung tâm quốc gia về dịch vụ dữ liệu khoa học xã hội, NORSTORE (Trung tâm lưu trữ dữ liệu tại Na Uy) có thể có cả Trung tâm lưu trữ quốc gia Na Uy tham gia vào hoạt động lưu trữ và truy cập mở cho DLNC.

Truy cập tới DLNC để phục vụ nhu cầu của người dùng, sau đó dữ liệu được tái sử dụng và lưu trữ, vì vậy luôn đòi hỏi các siêu dữ liệu có chất lượng cao và đi kèm là công nghệ lưu trữ tân tiến, phục vụ mọi loại hình DLNC và nội dung của nó. Hiểu được tầm quan trọng của hoạt động này, các trung tâm nghiên cứu và dịch vụ, trường đại học và viện nghiên cứu ở Na Uy đã liên kết thiết lập nên hệ thống này và vai trò của sự liên kết, hợp tác là việc tìm ra các giải pháp để khắc phục khó khăn phát sinh đi kèm với khó khăn về mặt cơ sở vật chất hạ tầng. Ngày nay, DLNC được chia sẻ dưới nhiều kênh thông tin khác nhau từ email cho tới Dropbox, điều này có thể dẫn tới một số các vấn đề nguy hiểm nếu bị mất dữ liệu hoặc mật khẩu bị lấy cắp.

Tình hình lưu trữ dữ liệu của nghiên cứu sinh tại Việt Nam hiện nay

Theo dữ liệu thu về từ việc điều tra qua bảng hỏi của 100 nghiên cứu sinh được chọn lọc ở các ngành học khác nhau trong 5 trường đại học thành viên của Đại học Quốc gia Hà Nội cho thấy, quan điểm của nghiên cứu sinh và cách họ lưu trữ các DLNC được thể hiện ở biểu đồ sau đây:

alt

Các hình thức lưu trữ dữ liệu của nghiên cứu sinh

Nhìn vào dữ liệu cho thấy, trong 100 phiếu thu về thì số lượng các nghiên cứu sinh sử dụng dịch vụ lưu trữ ở nước ngoài với hình thức trả tiền đi kèm theo các dịch vụ bảo đảm trọn đời dữ liệu được bảo quản an toàn, được sao lưu tại nhiều nơi, giảm thiểu khả năng mất mát, hỗ trợ khả năng tìm kiếm nhanh gọn dễ dàng, với mỗi hình thức dữ liệu sẽ có gắn một mã định danh đối tượng số duy nhất và có thể truy cập trực tuyến chỉ chiếm 1%. Trong đó có 4% sử dụng các dịch vụ lưu trữ của thư viện, có thể là thư viện ở trường đại học và thư viện ở các viện nghiên cứu, hình thức này ngoài việc an toàn và bảo mật thông tin được đảm bảo thì gần như các cơ quan nói trên không hỗ trợ hình thức tìm kiếm tài liệu trực tuyến. Tuy nhiên, cũng phải kể tới 5% các nghiên cứu sinh sử dụng dịch vụ lưu trữ của các doanh nghiệp trong nước như Cloud Storage của Viettel IDC, hay Datacenter, ngoài những tiện ích của các dịch vụ này như tính an toàn, bảo mật cao, dung lượng không giới hạn, tốc độ tối đa giúp sao lưu phục hồi nhanh chóng, đơn giản dễ sử dụng thì dịch vụ này nhìn chung còn khá đắt tại Việt Nam. Có 15% trong số đó khẳng định nếu họ tham gia dự án trong quá trình làm nghiên cứu sinh thì sẽ trực tiếp sử dụng hình thức lưu trữ của dự án, trong đó mỗi cá nhân chỉ được cấp một mật khẩu và truy cập DLNC có phân cấp. Thực tế là các hình thức lưu trữ dữ liệu chủ yếu là tự lưu trữ dữ liệu trên các thẻ nhớ, ổ cứng, hay sử dụng các dịch vụ miễn phí, nhưng giới hạn về dung lượng, việc lưu trữ trên các thiết bị tự do chiếm đa số tới 80%, lưu trữ không giới hạn về dung lượng nhưng việc phải lưu nhiều lần trên các hình thức lưu trữ khác nhau, không đảm bảo về mặt an toàn và bảo mật dữ liệu, khi tìm lại dữ liệu có thể gây khó khăn, thông tin dễ bị lấy cắp, là một trong những hạn chế đáng kể của hình thức này.

Hình thức lưu trữ dữ liệu tại các trung tâm thông tin - thư viện ở Việt Nam

Tại Việt Nam, hình thức lưu trữ DLNC còn khá mới mẻ, theo khảo sát tại một số các trung tâm thông tin - thư viện và viện nghiên cứu cho thấy, đa số chưa có hình thức dịch vụ lưu trữ này. Các dịch vụ thư viện vẫn còn dừng lại ở hình thức phục vụ người dùng tin sử dụng và tra cứu thông tin như: dịch vụ cung cấp tài liệu theo yêu cầu, đăng ký sử dụng thư viện, số hoá tài liệu, bảo quản tài liệu. Với xu thế hiện nay, việc các nhà nghiên cứu tại các đơn vị và viện nghiên cứu phát triển được đem lại nguồn lợi về cả vật chất và danh tiếng cho cơ quan đó, vì vậy, mỗi trung tâm thông tin - thư viện cần phải hiểu được tầm quan trọng của DLNC là một nguồn dữ liệu có giá trị, nhưng đi kèm với đó là yêu cầu của nguồn nhân lực có kỹ năng và trình độ cao, tài chính để duy trì và tạo ra chúng. Để đi cùng xu thế phát triển, các trung tâm thông tin - thư viện cần lên kế hoạch chi tiết cho việc hỗ trợ hoạt động thu thập và quản lý nguồn dữ liệu này bằng cách xác định các mục tiêu sau:

- Những dữ liệu nghiên cứu nào sẽ được tạo ra và sẽ thu thập.

- Ai sẽ chịu trách nhiệm cho mỗi khía cạnh của hoạt động quản lý mà nhà nghiên cứu sẽ giao nộp dữ liệu.

- Cần có những chính sách gì bao gồm cả hoạt động tài chính và pháp lý sẽ áp dụng lên dữ liệu đó.

- Dữ liệu sẽ được tổ chức theo hình thức nào.

- Những trang thiết bị nào sẽ cần thiết: phần cứng, phần mềm, sao lưu dữ liệu, lưu trữ và bảo quản.

- Ai sẽ có quyền sở hữu và truy cập.

- DLNC sẽ được bảo quản và truy cập mở trong thời gian như thế nào.

Kết luận

Với sự phát triển không ngừng của các tiến bộ khoa học kỹ thuật, ngày càng có nhiều những nghiên cứu mới ra đời phục vụ nhu cầu và sự phát triển của con người, điều này cũng đặt ra thách thức mới cho các trung tâm thông tin - thư viện là làm thế nào để quản lý nguồn DLNC được hiệu quả, thúc đẩy quá trình nghiên cứu và rút ngắn thời gian nghiên cứu. Các nhà nghiên cứu, khoa học, học giả và các nhà yêu thích khoa học đang ngày đêm tạo ra một khối lượng dữ liệu mới, điều này đặt ra thách thức với các trung tâm thông tin - thư viện phải đầu tư cơ sở hạ tầng và nguồn nhân lực để thu thập và quản lý nguồn dữ liệu có giá trị này.

Tài liệu tham khảo

1. Elsevier. Research data management. http:// www.elsevier.com/about/open-science/research-data/research-data-management. Retrieved 24/2/2017.

2. Kuula, A. andBorg, S. Open Access to and Reuse of Research Data -The State of the Art in Finland. http://www.fsd.uta.fi/fi/julkaisut/julkaisusarja/FSDjs07_OECD_en.pdf.

3. National Science Foundation. Long-Lived Digital data collections: Enabling research and education in the 21st century. http://www.nsf.gov/pubs/ 2005/nsb0540/nsb0540.pdf.

4. OECD. Principles and Guidelines for Access to Research Data from Public Funding. http://www.oecd.org/science/sci-tech/38500813.pdf.

5. Research Data Management. http://www.bu.edu/datamanagement/. Retrieved 24/2/2017.

6. UK Data Archive. Research data lifecycle. http:// www.data-archive.ac.uk/create-manage/life-cycle. Retrieved 6/2/2017.

7. University of Oslo. The data explosion - a major challenge, and a great opportunity! 

http://www.uio.no/english/for-employees/support/research/research-data/ engelskversjonrapport. pdf. Retrieved 6/2/2017.

_____________

ThS. Nguyễn Thị Kim Lân

Khoa Thông tin - Thư viện, trường ĐH KHXH&NV, Đại học Quốc gia Hà Nội

​ 

4/2/2020 9:00 AMĐã ban hành/Shared Documents/2020-04/big.png
Tình hình kinh tế - xã hội quý I năm 2020Tình hình kinh tế - xã hội quý I năm 2020

Kinh tế - xã hội nước ta ba tháng đầu năm 2020 diễn ra trong bối cảnh kinh tế thế giới tăng trưởng chậm, những nền kinh tế lớn như Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản, Cộng đồng chung châu Âu đang chứng kiến tình trạng suy giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế; giá dầu thô giảm mạnh do căng thẳng giữa A-rập Xê-út và Liên bang Nga, chiến tranh thương mại Mỹ - Trung vẫn tiếp diễn, căng thẳng địa chính trị gia tăng giữa Mỹ và Iran, cùng với biến đổi khí hậu và đặc biệt là dịch viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của vi rút Corona (Covid-19) bùng phát mạnh trên toàn cầu đã tác động tiêu cực đến kinh tế của các quốc gia trên thế giới[1]. Cục dự trữ Liên bang Mỹ (FED) liên tục cắt giảm lãi suất cho thấy dấu hiệu suy giảm sâu của kinh tế Mỹ, nhiều nước châu Âu đóng cửa biên giới nhằm ngăn chặn dịch bệnh lây lan đã đe dọa chuỗi cung ứng và làm tăng nguy cơ thiếu hụt nguyên liệu sản xuất, sản phẩm tiêu dùng. Trong nước, bên cạnh những thuận lợi từ kết quả tăng trưởng tích cực năm 2019, kinh tế vĩ mô ổn định nhưng phải đối mặt với không ít khó khăn, thách thức, dịch Covid-19 diễn biến phức tạp, khó lường làm tăng trưởng ở hầu hết các ngành, lĩnh vực chậm lại, tỷ lệ thất nghiệp, thiếu việc làm tăng cao. Bên cạnh đó, thời tiết những tháng đầu năm không thuận lợi, hạn hán, xâm nhập mặn diễn ra sớm ảnh hưởng đến năng suất và sản lượng cây trồng, dịch tả lợn châu Phi chưa được khống chế hoàn toàn.
Trước tình hình đó, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã kịp thời chỉ đạo quyết liệt các bộ, ngành, địa phương thực hiện đồng bộ, hiệu quả các giải pháp vừa phòng chống dịch bệnh, bảo đảm sức khỏe người dân, vừa phòng chống suy giảm kinh tế và giữ vững ổn định xã hội, nỗ lực phấn đấu cao nhất thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2020. Ngày 4/3/2020, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 11/CT-TTg về các nhiệm vụ, giải pháp cấp bách tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, bảo đảm an sinh xã hội ứng phó với dịch Covid-19. Kết quả đạt được của các ngành, lĩnh vực trong quý I năm nay như sau:
I. TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
1. Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước
Tổng sản phẩm trong nước (GDP) quý I/2020 ước tính tăng 3,82% so với cùng kỳ năm trước, là mức tăng thấp nhất của quý I các năm trong giai đoạn 2011-2020[2]. Trong bối cảnh dịch Covid-19 diễn biến phức tạp, ảnh hưởng tiêu cực tới
mọi lĩnh vực kinh tế - xã hội, toàn bộ hệ thống chính trị, Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ đặt ưu tiên hàng đầu lên phòng chống và dập dịch, hy sinh lợi ích kinh tế để đảm bảo tính mạng và sức khỏe của nhân dân thì nền kinh tế nước ta tiếp tục duy trì tăng trưởng, không rơi vào tình trạng tăng trưởng âm là thắng lợi của các cấp, các ngành, cộng đồng doanh nghiệp và người dân trong cuộc chiến đẩy lùi dịch bệnh, đồng thời vẫn duy trì các hoạt động sản xuất kinh doanh. Trong mức tăng chung của toàn nền kinh tế, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 0,08%, đóng góp 0,2% vào mức tăng trưởng chung; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 5,15%, đóng góp 58,4%; khu vực dịch vụ tăng 3,27%, đóng góp 41,4%.
Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản trong quý I/2020 tăng thấp so với cùng kỳ năm trước do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, dịch Covid-19 và dịch tả lợn châu Phi. Trong đó, ngành nông nghiệp tăng trưởng âm 1,17%, chỉ cao hơn mức tăng trưởng âm 2,69% của quý I/2016 trong giai đoạn 2011-2020[3], làm giảm 0,1 điểm phần trăm mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế; ngành lâm nghiệp tăng 5,03% nhưng chiếm tỷ trọng thấp nên chỉ đóng góp 0,04 điểm phần trăm; ngành thủy sản tăng 2,79%, thấp hơn mức tăng 4,96% và 5,42% của cùng kỳ các năm 2018 và 2019, đóng góp 0,07 điểm phần trăm.
Trong khu vực công nghiệp và xây dựng, ngành công nghiệp quý I/2020 tăng 5,28% so với cùng kỳ năm trước, thấp hơn nhiều mức tăng 10,45% của quý I/2018 và 9% của quý I/2019, đóng góp 1,89 điểm phần trăm vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm toàn nền kinh tế. Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 7,12%, chỉ cao hơn mức tăng 4,38% và 5,97% của cùng kỳ các năm 2013 và 2014 trong giai đoạn 2011-2020[4], đóng góp 1,64 điểm phần trăm. Ngành khai khoáng tăng trưởng âm 3,18%, làm giảm 0,21 điểm phần trăm mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế do sản lượng dầu thô khai thác giảm 10,9% và khí đốt tự nhiên giảm 9,9%. Ngành xây dựng tăng 4,37%, cao hơn mức tăng 0,35% và 1,18% của quý I năm 2011 và năm 2012 trong giai đoạn 2011-2020[5], đóng góp 0,25 điểm phần trăm.
Trong những tháng đầu năm 2020, dịch Covid-19 đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động thương mại, dịch vụ và xuất nhập khẩu. Khu vực dịch vụ trong quý I/2020 đạt mức tăng thấp nhất của cùng kỳ các năm 2011-2020[6]. Trong khu vực dịch vụ, đóng góp của một số ngành dịch vụ thị trường có tỷ trọng lớn vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của quý I như sau: Bán buôn và bán lẻ tăng 5,69% so với cùng kỳ năm trước, là ngành đóng góp lớn nhất vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm toàn nền kinh tế (0,7 điểm phần trăm); hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm tăng 7,19%, đóng góp 0,33 điểm phần trăm; ngành vận tải, kho bãi giảm 0,9%, làm giảm 0,03 điểm phần trăm; ngành dịch vụ lưu trú và ăn uống giảm 11,04%, làm giảm 0,53 điểm phần trăm.
Về cơ cấu nền kinh tế quý I/2020, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng 10,11%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 35,52%; khu vực dịch vụ chiếm 43,71%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 10,66% (Cơ cấu tương ứng của cùng kỳ năm 2019 là: 10,15%; 35,31%; 43,99%; 10,55%).
Trên góc độ sử dụng GDP quý I/2020, tiêu dùng cuối cùng tăng 3,07% so với cùng kỳ năm 2019; tích lũy tài sản tăng 2,20%; xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 1,59%; nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 1,05%.
  Tổng sản phẩm trong nước quý I năm 2020

 
  2. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản
Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản quý I/2020 gặp nhiều khó khăn do ảnh hưởng của dịch tả lợn châu Phi; hạn hán, xâm nhập mặn tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long; dịch cúm gia cầm có nguy cơ bùng phát và dịch Covid-19 diễn biến phức tạp, tác động tiêu cực tới hoạt động sản xuất, xuất nhập khẩu sản phẩm nông sản. Sản xuất lâm nghiệp phát triển ổn định; sản xuất thủy sản quý I/2020 tăng thấp hơn cùng kỳ năm trước.
a) Nông nghiệp
Tính đến trung tuần tháng Ba, cả nước gieo trồng được 2.998,7 nghìn ha lúa đông xuân, bằng 97% cùng kỳ năm trước, trong đó các địa phương phía Bắc đạt 1.076,8 nghìn ha, bằng 98,9%; các địa phương phía Nam đạt 1.921,9 nghìn ha, bằng 96%. Tại các địa phương phía Bắc, thời tiết nắng ấm cùng nguồn nước tưới được cung ứng hợp lý tạo điều kiện thuận lợi cho việc gieo trồng lúa. Hiện nay, cây lúa đang trong giai đoạn đẻ nhánh, làm đòng, sinh trưởng và phát triển tốt. Tuy nhiên dự báo thời tiết sẽ nắng nóng, sâu bệnh gây hại diễn biến phức tạp, cần theo dõi sát diễn biến tình hình sâu bệnh và xử lý kịp thời các ổ bệnh để không ảnh hưởng đến sự phát triển của cây lúa. Sản xuất lúa đông xuân ở các địa phương phía Nam gặp khó khăn do tình trạng hạn hán và xâm nhập mặn nghiêm trọng, riêng diện tích gieo trồng lúa đông xuân vùng Đồng bằng sông Cửu Long năm nay đạt 1.546,4 nghìn ha, giảm 57,9 nghìn ha so với cùng kỳ năm trước. Một số địa phương có diện tích lúa giảm nhiều là: Bình Thuận giảm 15,5 nghìn ha; Sóc Trăng giảm 15,4 nghìn ha; Trà Vinh giảm 8,2 nghìn ha; Ninh Thuận giảm 5,1 nghìn ha. Đến nay, các địa phương phía Nam đã thu hoạch 1.143,1 nghìn ha lúa đông xuân, bằng 105,9% cùng kỳ năm trước, trong đó vùng Đồng bằng sông Cửu Long thu hoạch 1.121 nghìn ha, bằng 105,9% với năng suất ước tính đạt 68,6 tạ/ha, tăng 0,8 tạ/ha so với vụ đông xuân năm trước. Có được kết quả này là do ngành Nông nghiệp đã chủ động triển khai các giải pháp phòng chống và ứng phó với tình trạng xâm nhập mặn, sử dụng các loại giống lúa ít bị nhiễm sâu bệnh cho năng suất cao. Xâm nhập mặn ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long đang có xu hướng tăng cao, tính đến ngày 20/3/2020 có 33,8 nghìn ha lúa đông xuân bị nhiễm mặn, trong đó diện tích mất trắng là 20,2 nghìn ha, chiếm 1,3% diện tích gieo trồng. Một số địa phương có diện tích lúa đông xuân bị thiệt hại nhiều do xâm nhập mặn: Trà Vinh 6,8 nghìn ha, Bến Tre 5,3 nghìn ha, Sóc Trăng 3,6 nghìn ha.
Đến trung tuần tháng Ba, vùng Đồng bằng sông Cửu Long kết thúc thu hoạch lúa vụ mùa 2019-2020. Theo báo cáo sơ bộ của các địa phương, diện tích gieo trồng lúa mùa của toàn vùng ước tính đạt 169,2 nghìn ha, giảm 2,5 nghìn ha so với cùng kỳ năm trước; năng suất đạt 44,5 tạ/ha, giảm 0,9 tạ/ha; sản lượng đạt 753,2 nghìn tấn, giảm 26,6 nghìn tấn. Diện tích lúa bị nhiễm mặn làm năng suất lúa mùa giảm, đồng thời việc chuyển đổi diện tích trồng lúa mùa sang nuôi trồng thủy sản ở một số địa phương đã ảnh hưởng tới kết quả sản xuất vụ mùa của toàn vùng. Một số địa phương có diện tích gieo trồng lúa mùa giảm so với cùng kỳ năm trước: Cà Mau giảm 2,1 nghìn ha; Kiên Giang giảm 1,5 nghìn ha, Bến Tre giảm 0,8 nghìn ha.
Tính đến giữa tháng Ba, các địa phương trong cả nước đã gieo trồng được 312,9 nghìn ha ngô, bằng 98,7% cùng kỳ năm trước; 56 nghìn ha khoai lang, bằng 91,1%; 13,4 nghìn ha đỗ tương, bằng 89,3%; 113 nghìn ha lạc, bằng 93,5%; 543,8 nghìn ha rau đậu, bằng 101,5%.
Trong quý I/2020, một số cây công nghiệp lâu năm đã cho thu hoạch, trong đó: Sản lượng điều đạt 149,8 nghìn tấn, tăng 6% so với cùng kỳ năm trước; hồ tiêu đạt 137,6 nghìn tấn, tăng 2%; cao su đạt 115,1 nghìn tấn, tăng 3,5%. Sản lượng một số loại cây ăn quả tăng: Bưởi đạt 140 nghìn tấn, tăng 12%; thanh long đạt 390 nghìn tấn, tăng 10%; cam đạt 229,3 nghìn tấn, tăng 8%; xoài đạt 107,7 nghìn tấn, tăng 4,5%; dứa đạt 245,3 nghìn tấn, tăng 3%; nhãn đạt 82,6 nghìn tấn, tăng 3%; chôm chôm đạt 41,9 nghìn tấn, tăng 1,9%; chuối đạt 592,4 nghìn tấn, tăng 1,3%.
Chăn nuôi trâu bò nhìn chung ổn định. Đàn trâu cả nước tiếp tục xu hướng giảm do hiệu quả kinh tế không cao; đàn bò phát triển khá do thị trường tiêu thụ ổn định, giá bán thịt bò hơi ở mức cao nên người nuôi có lãi. Ước tính tháng 3/2020, đàn trâu của cả nước giảm 2% so với cùng thời điểm năm trước; đàn bò tăng 3,6%. Sản lượng thịt trâu hơi xuất chuồng trong quý I/2020 đạt 27,5 nghìn tấn, tăng 3,2% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng thịt bò hơi xuất chuồng đạt 106,5 nghìn tấn, tăng 7,3%; sản lượng sữa bò tươi đạt 257,1 nghìn tấn, tăng 5%. Chăn nuôi lợn có xu hướng dần hồi phục trở lại, dịch tả lợn châu Phi tiếp tục được kiểm soát với 41/63 địa phương công bố hết dịch. Ước tính tổng đàn lợn cả nước tháng Ba giảm 17,5% so với cùng thời điểm năm 2019; sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng quý I/2020 đạt 811 nghìn tấn, giảm 19,3% so với cùng kỳ năm trước.
Chăn nuôi gia cầm tiếp tục phát triển do các hộ chăn nuôi mở rộng quy mô, tuy nhiên dịch cúm gia cầm còn xuất hiện ở một số địa phương và thời tiết mưa ẩm là điều kiện thuận lợi cho vi rút cúm tồn tại, lây lan nên cần có biện pháp để phòng, chống dịch hiệu quả. Ước tính tổng đàn gia cầm của cả nước tháng Ba tăng 15% so với cùng thời điểm năm 2019; sản lượng thịt gia cầm hơi xuất chuồng quý I/2020 đạt 383,4 nghìn tấn, tăng 17,6% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng trứng gia cầm đạt 4,1 tỷ quả, tăng 14,1%.
Tính đến ngày 25/3/2020, cả nước không còn dịch tai xanh và dịch tả lợn châu Phi không phát sinh thêm ổ dịch mới, có 6 ổ dịch cúm gia cầm A/H5N6 tại 5 địa phương[7] và 6 ổ dịch lở mồm long móng tại 4 tỉnh[8] chưa qua 21 ngày.
Lâm nghiệp
Sản xuất lâm nghiệp trong tháng tập trung chủ yếu vào công tác trồng rừng và chăm sóc rừng ở các địa phương trên cả nước. Trong tháng Ba, diện tích rừng trồng tập trung của cả nước ước tính đạt 17,1 nghìn ha, tăng 4,3% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng gỗ khai thác đạt 1.095,3 nghìn m3, tăng 7,3%; số cây trồng phân tán đạt 11 triệu cây, giảm 2,5%. Tính chung quý I/2020, diện tích rừng trồng tập trung cả nước ước tính đạt 32,6 nghìn ha, tăng 2,8% so với cùng kỳ năm trước; số cây lâm nghiệp trồng phân tán đạt 21,7 triệu cây, giảm 0,5%; sản lượng gỗ khai thác đạt 2.881 nghìn m3, tăng 5%; sản lượng củi khai thác đạt 4,6 triệu ste, tăng 0,2%.
Diện tích rừng bị thiệt hại trong tháng 3/2020 là 263,5 ha, trong đó diện tích rừng bị cháy là 194,1 ha; diện tích bị chặt phá là 69,4 ha. Tính chung quý I/2020, diện tích rừng bị thiệt hại là 348,3 ha, gấp 2,3 lần cùng kỳ năm trước, trong đó diện tích rừng bị cháy là 217,1 ha, gấp 4 lần; diện tích rừng bị chặt phá là 131,2 ha, tăng 37%.
c) Thủy sản
Sản lượng thủy sản tháng Ba ước tính đạt 502,2 nghìn tấn, tăng 1,2% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm cá đạt 368,4 nghìn tấn, tăng 0,8%; tôm đạt 51,8 nghìn tấn, tăng 3,8%; thủy sản khác đạt 82 nghìn tấn, tăng 1,4%.
Sản lượng thủy sản nuôi trồng trong tháng ước tính đạt 160,1 nghìn tấn, tăng 0,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó cá đạt 104,9 nghìn tấn, giảm 2,1%; tôm đạt 37,4 nghìn tấn, tăng 7,8%. Nuôi cá tra đang gặp khó khăn và chưa có dấu hiệu phục hồi, giá cá tra hiện ở mức thấp nhất trong 10 năm qua, người nuôi lo ngại nên không mạnh dạn thả nuôi. Ngoài ra, ảnh hưởng của dịch Covid-19 làm xuất khẩu cá da trơn sang các thị trường chủ yếu sụt giảm[9]. Sản lượng cá tra tháng Ba ước tính đạt 74,7 nghìn tấn, giảm 8,8% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung quý I/2020, sản lượng cá tra ước tính đạt 242,8 nghìn tấn, giảm 3,7% so với cùng kỳ năm trước. Một số địa phương có sản lượng cá tra giảm: Đồng Tháp đạt 97,8 nghìn tấn, giảm 1,1%; An Giang đạt 77,8 nghìn tấn, giảm 4,7%; Cần Thơ 33,2 nghìn tấn, giảm 8,9%. Nuôi tôm nước lợ những tháng đầu năm 2020 đối mặt với nhiều khó khăn như tình trạng hạn hán, xâm nhập mặn; độ mặn và nhiệt độ thay đổi làm giảm sức đề kháng của tôm; giá tôm thẻ chân trắng không ổn định. Riêng giá tôm sú trong quý I/2020 ở mức cao hơn so với cùng kỳ năm trước, mô hình nuôi tôm sú đã chuyển từ quảng canh sang quảng canh cải tiến. Sản lượng tôm sú tháng Ba ước tính đạt 18,8 nghìn tấn, tăng 3,8% so với cùng kỳ năm trước, sản lượng tôm thẻ chân trắng đạt 8,7 nghìn tấn, tăng 10,2%. Tính chung quý I/2020, sản lượng tôm sú ước tính đạt 45 nghìn tấn, tăng 3,7% so với cùng kỳ năm trước, sản lượng tôm thẻ chân trắng đạt 49,8 nghìn tấn, tăng 8,5%.
Sản lượng thủy sản khai thác tháng Ba ước tính đạt 342,1 nghìn tấn, tăng 1,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó sản lượng cá đạt 263,5 nghìn tấn, tăng 2%; tôm đạt 14,4 nghìn tấn, giảm 5,3%, thủy sản khác đạt 64,2 nghìn tấn, tăng 0,6%. Sản lượng thủy sản khai thác biển đạt 334 nghìn tấn, tăng 1,4%.
Tính chung quý I/2020, sản lượng thủy sản ước tính đạt 1.503,1 nghìn tấn, tăng 2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó sản lượng thủy sản nuôi trồng đạt 662,1 nghìn tấn, tăng 2,1%; sản lượng thủy sản khai thác đạt 841 nghìn tấn, tăng 1,9% (sản lượng thủy sản khai thác biển đạt 806,2 nghìn tấn, tăng 2%).
  Sản xuất nông nghiệp đến ngày 15 tháng 3 năm 2020


  Sản phẩm chăn nuôi


  Kết quả sản xuất lâm nghiệp


  Sản lượng thủy sản


   3. Sản xuất công nghiệp
Ngành công nghiệp quý I/2020 chịu ảnh hưởng từ dịch Covid-19 nên đạt mức tăng trưởng thấp 5,28% so với cùng kỳ năm trước; trong đó công nghiệp chế biến, chế tạo có mức tăng thấp nhất giai đoạn 2016-2020[10]; sản xuất và phân phối điện tăng trưởng ổn định; ngành khai khoáng giảm sâu chủ yếu do khai thác dầu thô và khí đốt tự nhiên giảm mạnh.
Giá trị tăng thêm toàn ngành công nghiệp quý I/2020 ước tính tăng 5,28% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 7,12%, đóng góp 1,64 điểm phần trăm vào mức tăng trưởng chung của toàn nền kinh tế; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 7,46%, đóng góp 0,41 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 6,67%, đóng góp 0,05 điểm phần trăm; ngành khai khoáng giảm 3,18% do khai thác dầu thô và khí đốt tự nhiên giảm mạnh, làm giảm 0,21 điểm phần trăm.
Xét theo công dụng sản phẩm công nghiệp, chỉ số sản xuất sản phẩm trung gian (phục vụ cho quá trình sản xuất tiếp theo) quý I/2020 tăng 6% so với cùng kỳ năm trước; sản phẩm phục vụ cho sử dụng cuối cùng tăng 3,6% (sản phẩm là tư liệu sản xuất tăng 0,6% và sản phẩm phục vụ cho tiêu dùng của dân cư tăng 4,5%).
Dịch Covid-19 diễn biến phức tạp, bùng phát mạnh tại một số quốc gia đã ảnh hưởng đến nguồn nguyên liệu nhập khẩu phục vụ cho sản xuất công nghiệp, đặc biệt là ngành chế biến, chế tạo. Ngoài ra, Nghị định số 100/2019/NĐ-CP của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt có hiệu lực ngày 1/1/2020 đã thay đổi thói quen uống rượu, bia của người dân, từ đó ảnh hưởng đến ngành sản xuất đồ uống. Trong các ngành công nghiệp cấp II, một số ngành có chỉ số sản xuất quý I/2020 giảm hoặc tăng thấp so với cùng kỳ năm trước: Sản xuất máy móc, thiết bị chưa được phân vào đâu giảm 15,4%; khai thác dầu thô và khí đốt tự nhiên giảm 10,4% (khai thác dầu thô giảm 10,9%; khai thác khí đốt tự nhiên giảm 9,9%); sản xuất đồ uống giảm 9%; hoạt động dịch vụ hỗ trợ và khai thác mỏ, quặng giảm 8,2%; sửa chữa, bảo dưỡng và lắp đặt máy móc thiết bị giảm 7%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa giảm 4,2%; ngành sản xuất trang phục chịu tác động nặng nhất từ dịch Covid-19 với mức giảm 3%, đây cũng là lần đầu tiên ngành này sụt giảm; sản xuất xe có động cơ giảm 2,5%; sản xuất thiết bị điện giảm 2,3%; sản xuất kim loại tăng 2,8%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 4%. Bên cạnh đó, một số ngành có chỉ số sản xuất quý I/2020 tăng cao so với cùng kỳ năm trước: Sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 28,3%; sản xuất than cốc, sản phẩm dầu mỏ tinh chế và khai thác quặng kim loại cùng tăng 22,4%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 14,3%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 8,9%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 8,4%.
Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu quý I/2020 tăng thấp hoặc giảm so với cùng kỳ năm trước: Phân u rê tăng 3,6%; sữa tươi tăng 3%; alumin tăng 2,7%; ti vi tăng 0,2%; xe máy giảm 0,9%; quần áo mặc thường giảm 3,1%; phân hỗn hợp NPK giảm 3,7%; thép cán giảm 4,3%; thức ăn cho gia súc giảm 4,4%; sắt, thép thô giảm 4,5%; sữa bột giảm 7,1%; khí đốt thiên nhiên dạng khí giảm 9,9%; ô tô giảm 10,4%; dầu thô khai thác giảm 10,9%; đường kính giảm 17%; bia giảm 18,9%. Một số sản phẩm tăng cao: Linh kiện điện thoại tăng 34,7%; xăng, dầu các loại tăng 17,4%; thép thanh, thép góc tăng 17,2%; bột ngọt tăng 12,3%; vải dệt từ sợi tự nhiên tăng 11,3%; điện thoại di động tăng 11,1% (điện thoại thông minh giảm 2,7%); giày, dép da tăng 8,5%; nước máy thương phẩm tăng 8,1%; than sạch tăng 7,9%; điện sản xuất tăng 7,2%.
Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 3/2020 tăng 11,6% so với tháng trước và tăng 5,8% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung quý I/2020, chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng thấp ở mức 2,8% so với quý I/2019 (thấp hơn nhiều so với mức tăng 8% của quý I/2019), trong đó một số ngành có chỉ số tiêu thụ tăng cao: Sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 27,3%; sản xuất than cốc, sản phẩm dầu mỏ tinh chế tăng 24,7%; công nghiệp chế biến, chế tạo khác tăng 22,8%; dệt tăng 13,4%; sản xuất sản phẩm thuốc lá tăng 12,5%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 9,5%. Một số ngành có chỉ số tiêu thụ tăng thấp hoặc giảm: Sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn tăng 2,6%; sản xuất giường, tủ, bàn ghế tăng 2%; sản xuất chế biến thực phẩm tăng 1,4%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic giảm 0,7%; sản xuất kim loại giảm 1%; sản xuất trang phục giảm 3,2%; sản xuất thiết bị điện giảm 4,3%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học giảm 6,6%; sản xuất đồ uống giảm 12,2%.
Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ước tính tại thời điểm 31/3/2020 tăng 24,9% so với cùng thời điểm năm trước (cùng thời điểm năm 2019 tăng 15,6%), trong đó một số ngành có chỉ số tồn kho tăng thấp hơn mức tăng chung hoặc giảm: In, sao chép bản ghi các loại tăng 4%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 4,5%; sản xuất thiết bị điện giảm 6,2%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan giảm 9,7%; công nghiệp chế biến, chế tạo khác giảm 16,5%; sản xuất máy móc, thiết bị chưa được phân vào đâu giảm 39,4%. Một số ngành có chỉ số tồn kho tăng cao so với cùng thời điểm năm trước: Sản xuất chế biến thực phẩm tăng 27,5%; dệt tăng 36,2%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn tăng 45,4%; sản xuất than cốc, sản phẩm dầu mỏ tinh chế tăng 47,2%; sản xuất kim loại tăng 48,8%; sản xuất xe có động cơ tăng 122,5%.
Tỷ lệ tồn kho toàn ngành chế biến, chế tạo bình quân quý I/2020 đạt 78,4% (cùng kỳ năm trước là 72,9%), trong đó một số ngành có tỷ lệ tồn kho cao: Dệt 115%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất 104,6%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác 104,5%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa 103%; sản xuất chế biến thực phẩm 93%; sản xuất thiết bị điện 88,7%.
Số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 1/3/2020 tăng 1,2% so với cùng thời điểm tháng trước và tăng 1,4% so với cùng thời điểm năm trước, trong đó lao động khu vực doanh nghiệp Nhà nước giảm 2,7%; doanh nghiệp ngoài Nhà nước không đổi và doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng 2,8%. Tại thời điểm trên, số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp ngành khai khoáng giảm 2,7% so với cùng thời điểm năm trước; ngành chế biến, chế tạo tăng 1,6%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 0,1%; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 0,4%.
  Chỉ số sản xuất công nghiệp


  Một số sản phẩm chủ yếu của ngành công nghiệp


  Chỉ số tiêu thụ và tồn kho ngành công nghiệp chế biến, chế tạo


  Chỉ số sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp


  Chỉ số sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp phân theo địa phương


   4. Hoạt động của doanh nghiệp
Khu vực doanh nghiệp gặp khó khăn hơn trong quý I/2020 do chịu ảnh hưởng trực tiếp từ dịch Covid-19. Trong 3 tháng đầu năm, cả nước có 29,7 nghìn doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, tăng 4,4% so với cùng kỳ năm trước; 14,8 nghìn doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, giảm 1,6%; đáng chú ý là số doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh có thời hạn lên tới 18,6 nghìn doanh nghiệp, tăng 26%. Tuy nhiên, kết quả điều tra xu hướng kinh doanh của các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo cho thấy các doanh nghiệp kỳ vọng dịch Covid-19 sẽ kết thúc sớm nên dự báo tình hình sản xuất kinh doanh trong quý II khả quan hơn quý I.
a) Tình hình đăng ký doanh nghiệp[11]
Trong tháng 3/2020, cả nước có 12.272 doanh nghiệp thành lập mới với số vốn đăng ký là 131,4 nghìn tỷ đồng và số lao động đăng ký là 86,2 nghìn lao động, tăng 33,9% về số doanh nghiệp, tăng 35,7% về vốn đăng ký và tăng 17,9% về số lao động so với tháng 2/2020[12]. Vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới trong tháng đạt 10,7 tỷ đồng, tăng 1,3% so với tháng trước và tăng 4,2% so với cùng kỳ năm trước. Trong tháng, cả nước còn có 3.423 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, giảm 5,7% so với tháng trước và giảm 29,8% so với cùng kỳ năm trước; 2.452 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng kinh doanh có thời hạn, giảm 46,3% và tăng 78,6%; 2.785 doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể, giảm 27,5% và tăng 48%; 1.316 doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, tăng 11% và tăng 37,1%; 5.918 doanh nghiệp không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký, tăng 167,2% và tăng 59,9%.
Tính chung quý I/2020[13], cả nước có 29,7 nghìn doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng số vốn đăng ký là 351,4 nghìn tỷ đồng và tổng số lao động đăng ký là 243,7 nghìn lao động, tăng 4,4% về số doanh nghiệp, giảm 6,4% về vốn đăng ký và giảm 23,3% về số lao động so với cùng kỳ năm trước. Vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới trong quý I/2020 đạt 11,8 tỷ đồng, giảm 10,4% so với cùng kỳ năm trước. Nếu tính cả 552,4 nghìn tỷ đồng vốn đăng ký tăng thêm của 9,1 nghìn doanh nghiệp thay đổi tăng vốn thì tổng số vốn đăng ký bổ sung vào nền kinh tế trong quý I/2020 là 903,8 nghìn tỷ đồng, giảm 17,7% so với cùng kỳ năm trước. Bên cạnh đó, còn có 14,8 nghìn doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, giảm 1,6% so với quý I/2019, nâng tổng số doanh nghiệp thành lập mới và doanh nghiệp quay trở lại hoạt động trong quý I/2020 lên 44,5 nghìn doanh nghiệp, trung bình mỗi tháng có 14,8 nghìn doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động.
Theo khu vực kinh tế, quý I/2020 có 426 doanh nghiệp thành lập mới thuộc khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, tăng 6,2% so với cùng kỳ năm trước; 8,1 nghìn doanh nghiệp thuộc khu vực công nghiệp và xây dựng, tăng 4,2%; 21,2 nghìn doanh nghiệp thuộc khu vực dịch vụ, tăng 4,5%. Một số ngành, lĩnh vực hoạt động có số doanh nghiệp thành lập mới tăng: bán buôn, bán lẻ, sửa chữa ô tô, xe máy có 10.015 doanh nghiệp, tăng 6,9% so với cùng kỳ năm 2019; xây dựng 3.941 doanh nghiệp, tăng 3,7%; công nghiệp chế biến, chế tạo 3.685 doanh nghiệp, tăng 2%; khoa học, công nghệ, dịch vụ tư vấn, thiết kế, quảng cáo và chuyên môn khác 2.788 doanh nghiệp, tăng 17,5%; vận tải, kho bãi 1.289 doanh nghiệp, tăng 1,3%; thông tin và truyền thông 932 doanh nghiệp, tăng 15,5%; sản xuất phân phối điện, nước, gas 341 doanh nghiệp, tăng 39,8%; tài chính, ngân hàng và bảo hiểm 316 doanh nghiệp, tăng 9%; y tế và hoạt động trợ giúp xã hội 191 doanh nghiệp, tăng 2,1%; khai khoáng 143 doanh nghiệp, tăng 11,7%. Có 6 lĩnh vực có số doanh nghiệp thành lập mới giảm so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: dịch vụ việc làm, du lịch, cho thuê máy móc thiết bị, đồ dùng và các dịch vụ hỗ trợ khác 1.672 doanh nghiệp, giảm 0,4%; kinh doanh bất động sản 1.363 doanh nghiệp, giảm 12%; dịch vụ lưu trú và ăn uống 1.281 doanh nghiệp, giảm 1%; giáo dục và đào tạo 833 doanh nghiệp, giảm 2,2%; nghệ thuật, vui chơi, giải trí 220 doanh nghiệp, giảm 22,5%; hoạt động dịch vụ khác 274 doanh nghiệp, giảm 12,2%.
Trong quý I/2020, số doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh có thời hạn là 18,6 nghìn doanh nghiệp, tăng 26% so với cùng kỳ năm trước; số doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể là 12,2 nghìn doanh nghiệp, giảm 20,6%, trong đó có 2.629 doanh nghiệp bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp; 4.343 doanh nghiệp đăng thông báo giải thể và 5.206 doanh nghiệp chờ làm thủ tục giải thể với cơ quan thuế.
Trong quý I/2020 có 4,1 nghìn doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, tương đương với cùng kỳ năm trước, trong đó có gần 3,7 nghìn doanh nghiệp có quy mô vốn dưới 10 tỷ đồng, giảm 1,3%; 62 doanh nghiệp có quy mô vốn trên 100 tỷ đồng, tăng 21,6%. Doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể tập trung chủ yếu ở các lĩnh vực: bán buôn, bán lẻ, sửa chữa ô tô, xe máy có 1,5 nghìn doanh nghiệp; công nghiệp chế biến, chế tạo có 488 doanh nghiệp; xây dựng có 353 doanh nghiệp; khoa học, công nghệ, dịch vụ tư vấn thiết kế, quảng cáo và chuyên môn khác có 256 doanh nghiệp; dịch vụ lưu trú và ăn uống có 244 doanh nghiệp; dịch vụ việc làm, du lịch, cho thuê máy móc thiết bị, đồ dùng và các dịch vụ hỗ trợ khác có 241 doanh nghiệp; kinh doanh bất động sản có 218 doanh nghiệp; vận tải, kho bãi có 169 doanh nghiệp; giáo dục và đào tạo có 164 doanh nghiệp; thông tin và truyền thông có 162 doanh nghiệp. Trong quý I/2020, trên cả nước còn có 11,4 nghìn doanh nghiệp không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký, tăng 20,2% so với cùng kỳ năm trước.
b) Xu hướng kinh doanh của doanh nghiệp
Kết quả điều tra xu hướng kinh doanh của các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong quý I/2020 cho thấy: Có 20,9% số doanh nghiệp đánh giá tình hình sản xuất kinh doanh quý I/2020 tốt hơn quý IV/2019; 42% số doanh nghiệp đánh giá gặp khó khăn và 37,1% số doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh ổn định[14]. Dự kiến quý II/2020 so với quý I/2020, có 38,8% số doanh nghiệp đánh giá xu hướng sẽ tốt lên; 25,9% số doanh nghiệp dự báo khó khăn hơn và 35,3% số doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh sẽ ổn định. Trong đó, khu vực doanh nghiệp Nhà nước lạc quan nhất với 77,9% số doanh nghiệp dự báo tình hình sản xuất kinh doanh quý II/2020 tốt hơn và giữ ổn định so với quý I/2020; tỷ lệ này ở khu vực doanh nghiệp ngoài Nhà nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài lần lượt là 74% và 73,8%.
Trong các yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp quý I/2020, có 55,8% số doanh nghiệp cho rằng khả năng cạnh tranh cao của hàng hóa trong nước là yếu tố ảnh hưởng lớn nhất đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp; 48% số doanh nghiệp cho rằng do nhu cầu thị trường trong nước thấp; 31,3% số doanh nghiệp cho rằng thiếu nguyên, nhiên, vật liệu; 30,7% số doanh nghiệp cho rằng gặp khó khăn về tài chính; 28,5% số doanh nghiệp cho rằng không tuyển được lao động theo yêu cầu; 26,6% số doanh nghiệp cho rằng lãi suất vay vốn cao; 24,4% số doanh nghiệp cho rằng nhu cầu thị trường quốc tế thấp; 22,6% số doanh nghiệp cho rằng tính cạnh tranh của hàng nhập khẩu cao; 21,1% số doanh nghiệp cho rằng thiết bị công nghệ lạc hậu.
Về khối lượng sản xuất, có 22,7% số doanh nghiệp đánh giá khối lượng sản xuất của doanh nghiệp quý I/2020 tăng so với quý IV/2019; 39,5% số doanh nghiệp đánh giá khối lượng sản xuất giảm và 37,8% số doanh nghiệp cho rằng ổn định[15]. Xu hướng quý II/2020 so với quý I/2020, có 40,3% số doanh nghiệp dự báo khối lượng sản xuất tăng; 22,8% số doanh nghiệp dự báo giảm và 36,9% số doanh nghiệp dự báo ổn định.
Về đơn đặt hàng, có 19,8% số doanh nghiệp có đơn đặt hàng quý I/2020 cao hơn quý IV/2019; 38,6% số doanh nghiệp có đơn đặt hàng giảm và 41,6% số doanh nghiệp có số đơn đặt hàng ổn định[16]. Xu hướng quý II/2020 so với quý I/2020, có 36,7% số doanh nghiệp dự kiến có đơn hàng tăng lên; 22,8% số doanh nghiệp dự kiến đơn hàng giảm và 40,5% số doanh nghiệp dự kiến có đơn hàng ổn định.
Về đơn đặt hàng xuất khẩu, quý I/2020 so với quý IV/2019, có 17,9% số doanh nghiệp khẳng định số đơn hàng xuất khẩu mới cao hơn; 37,5% số doanh nghiệp có đơn hàng xuất khẩu mới giảm và 44,6% số doanh nghiệp có đơn hàng xuất khẩu mới ổn định. Xu hướng quý II/2020 so với quý I/2020, có 30,7% số doanh nghiệp dự kiến tăng đơn hàng xuất khẩu mới; 23,7% số doanh nghiệp dự kiến giảm và 45,6% số doanh nghiệp dự kiến ổn định.
  Một số chỉ tiêu về doanh nghiệp


  Doanh nghiệp đăng ký thành lập mới(*)


  Doanh nghiệp quay trở lại hoạt động


  Doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh có thời hạn


  Doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể


    5. Hoạt động dịch vụ
a) Bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng
Ảnh hưởng tiêu cực của dịch Covid-19 tác động tâm lý người tiêu dùng hạn chế mua sắm nơi công cộng, đi du lịch và ăn uống ngoài gia đình do lo ngại dịch lây lan nên tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng Ba giảm 0,8% so với cùng kỳ năm trước, đây là mức giảm đầu tiên trong giai đoạn 2016-2020[17]. Tính chung quý I/2020, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng đạt mức tăng thấp so với cùng kỳ năm trước (4,7%), cầu tiêu dùng trong dân giảm.
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng Ba ước tính đạt 390 nghìn tỷ đồng, giảm 4% so với tháng trước và giảm 0,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Doanh thu bán lẻ hàng hóa đạt 316,1 nghìn tỷ đồng, giảm 1,5% và tăng 4,7%; doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống đạt 33,9 nghìn tỷ đồng, giảm 18,4% và giảm 26,8%; doanh thu du lịch lữ hành đạt 1,3 nghìn tỷ đồng, giảm 44,7% và giảm 62,3%; doanh thu dịch vụ khác đạt 38,7 nghìn tỷ đồng, giảm 7,1% và giảm 6,5%.
Tính chung quý I/2020, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng đạt 1.246,1 nghìn tỷ đồng, tăng 4,7% so với cùng kỳ năm trước, nếu loại trừ yếu tố giá tăng 1,6% (cùng kỳ năm 2019 tăng 9,3%).
Xét theo ngành hoạt động, doanh thu bán lẻ hàng hóa quý I năm nay ước tính đạt 985,8 nghìn tỷ đồng, chiếm 79,1% tổng mức và tăng 7,7% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, lương thực, thực phẩm tăng 9,3%; xăng, dầu tăng 8,4%; đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình tăng 7,7%; may mặc tăng 6,6%; phương tiện đi lại tăng 5,4%; vật phẩm văn hoá, giáo dục tăng 2%. Trong tình hình dịch Covid-19 diễn biến phức tạp, doanh thu bán lẻ hàng hóa quý I vẫn tăng do hình thức mua sắm trực tuyến được người tiêu dùng ưa chuộng trong thời gian gần đây, trong khi nguồn cung hàng hóa dồi dào, không có tình trạng thiếu hàng, sốt giá. Một số địa phương có mức doanh thu bán lẻ hàng hóa tăng khá so với cùng kỳ năm trước: Hải Phòng tăng 11%; Hà Nội tăng 9,3%; Bà Rịa - Vũng Tàu tăng 8,1%; thành phố Hồ Chí Minh tăng 8%; Cần Thơ tăng 7,3%; Thanh Hóa tăng 6,9%.
Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống quý I/2020 ước tính đạt 126,2 nghìn tỷ đồng, chiếm 10,1% tổng mức và giảm 9,6% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2019 tăng 11,3%) do ảnh hưởng của dịch Covid-19 nên nhiều cơ sở kinh doanh nhà hàng, khách sạn không hoạt động cùng với lượng khách du lịch giảm. Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống quý I năm nay so với cùng kỳ năm trước giảm ở hầu hết các địa phương, trong đó Khánh Hòa giảm 38,2%; thành phố Hồ Chí Minh giảm 30,3%; Đà Nẵng giảm 23,7%; Thanh Hóa giảm 20,4%; Hà Nội giảm 20,2%; Cần Thơ giảm 17%; Lâm Đồng giảm 16,8%; Quảng Bình giảm 14,5%; Quảng Ninh giảm 12,4%; Hải Phòng giảm 8,9%.
Doanh thu du lịch lữ hành quý I ước tính đạt 7,8 nghìn tỷ đồng, chiếm 0,6% tổng mức và giảm 27,8% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2019 tăng 13,2%) do nhiều địa điểm tham quan du lịch ngừng hoạt động, lượng khách du lịch trong nước và quốc tế đã hủy tour du lịch do lo ngại dịch bệnh lây lan trên diện rộng. Một số địa phương có doanh thu du lịch lữ hành quý I giảm so với cùng kỳ năm trước: Thanh Hóa giảm 49,9%; Bà Rịa - Vũng Tàu giảm 48,3%; Quảng Ninh giảm 47,1%; Khánh Hòa giảm 43,9%; thành phố Hồ Chí Minh giảm 39,9%; Bình Định giảm 24,4%; Đà Nẵng giảm 19,5%; Hà Nội giảm 18,7%; Hải Phòng giảm 14,9%.
Doanh thu dịch vụ khác quý I/2020 ước tính đạt 126,3 nghìn tỷ đồng, chiếm 10,2% tổng mức và tăng 1,5% so với cùng kỳ năm 2019, trong đó doanh thu của Cần Thơ tăng 2,3%; Thái Nguyên tăng 1,2%; Đà Nẵng giảm 1,4%; Hà Nội giảm 1,7%; Hải Phòng giảm 6,3%; thành phố Hồ Chí Minh giảm 7,4%.
 
  Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 3 và quý I năm 2019

 
b) Vận tải và viễn thông
Diễn biến phức tạp của dịch Covid-19 tác động trực tiếp tới hoạt động vận tải quý I/2020, trong đó vận tải hành khách chịu ảnh hưởng lớn khi lượng khách vận chuyển tháng Ba giảm 21,4% so với cùng kỳ năm trước, tính chung 3 tháng giảm 6,1% do tác động của các vận động, khuyến cáo về phòng chống dịch bệnh cùng với việc tạm dừng cấp thị thực cho người nước ngoài nhập cảnh vào Việt Nam.
Vận tải hành khách tháng Ba ước tính đạt 334,4 triệu lượt khách vận chuyển, giảm 8,8% so với tháng trước và luân chuyển 14,8 tỷ lượt khách.km, giảm 15,1%. Tính chung quý I/2020, vận tải hành khách đạt 1.190,7 triệu lượt khách vận chuyển, giảm 6,1% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2019 tăng 10,8%) và luân chuyển 55,9 tỷ lượt khách.km, giảm 8% (cùng kỳ năm trước tăng 10%), trong đó vận tải trong nước đạt 1.187,7 triệu lượt khách, giảm 6,1% và 46,4 tỷ lượt khách.km, giảm 3,5%; vận tải ngoài nước đạt 3 triệu lượt khách, giảm 30,3% và 9,6 tỷ lượt khách.km, giảm 24,9%. Xét theo ngành vận tải, tất cả các ngành đường đều bị ảnh hưởng do nhu cầu đi lại của người dân giảm mạnh, vận tải hành khách đường bộ quý I đạt 1.128,3 triệu lượt khách, giảm 6,3% so với cùng kỳ năm trước và 38,5 tỷ lượt khách.km, giảm 7,2%; đường thủy nội địa đạt 47,7 triệu lượt khách, giảm 1,3% và 1,1 tỷ lượt khách.km, giảm 0,4%; đường biển đạt 1,3 triệu lượt khách, giảm 23,2% và 109,4 triệu lượt khách.km, giảm 5,8%; đường sắt đạt 1,5 triệu lượt khách, giảm 27,8% và 0,7 tỷ lượt khách.km, giảm 23,8%; hàng không là ngành chịu ảnh hưởng rõ rệt nhất bởi dịch Covid-19 khi các hãng tạm dừng khai thác các đường bay quốc tế, vận tải hàng không quý I năm nay đạt 11,9 triệu lượt khách, giảm 8% và 15,6 tỷ lượt khách.km, giảm 9,5% (riêng tháng Ba vận chuyển giảm 28,8% và luân chuyển giảm 35,9%).
Vận tải hàng hóa tháng Ba ước tính đạt 138,2 triệu tấn hàng hóa vận chuyển, giảm 2,9% so với tháng trước và luân chuyển 26,9 tỷ tấn.km, giảm 3,8%. Tính chung quý I/2020, vận tải hàng hóa đạt 435,6 triệu tấn hàng hóa vận chuyển, tăng 1,1% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2019 tăng 8,6%) và luân chuyển 84,4 tỷ tấn.km, tăng 0,1% (cùng kỳ năm trước tăng 6,5%), trong đó vận tải trong nước đạt 427 triệu tấn, tăng 1,2% và 47,2 tỷ tấn.km, tăng 2,3%; vận tải ngoài nước đạt 8,7 triệu tấn, giảm 4% và 37,2 tỷ tấn.km, giảm 2,6%. Xét theo ngành vận tải, vận tải hàng hóa đường bộ quý I đạt 340,6 triệu tấn, tăng 1,5% so với cùng kỳ năm trước và 23,9 tỷ tấn.km, tăng 0,7%; đường thủy nội địa đạt 73,8 triệu tấn, giảm 0,1% và 15,8 tỷ tấn.km, giảm 0,1%; đường biển đạt 19,9 triệu tấn, giảm 0,7% và 42,1 tỷ tấn.km, tăng 0,9%; đường sắt đạt 1,2 triệu tấn, giảm 4,4% và 0,8 tỷ tấn.km, giảm 3,2%; đường hàng không đạt 91,2 nghìn tấn, giảm 2,8% và 1,6 tỷ tấn.km, giảm 21,5%.
Hoạt động viễn thông quý I/2020 nhìn chung ổn định với doanh thu ước tính đạt 98,1 nghìn tỷ đồng, tăng 5,8% so với cùng kỳ năm trước (nếu loại trừ yếu tố giá tăng 5,2%). Tổng số thuê bao điện thoại tại thời điểm cuối tháng 3/2020 ước tính đạt 129,2 triệu thuê bao, giảm 6% so với cùng thời điểm năm trước, trong đó số thuê bao di động là 125,5 triệu thuê bao, giảm 5,9% chủ yếu do các nhà mạng tiếp tục thực hiện quy định của Bộ Thông tin và Truyền thông về việc xử lý sim rác, quản lý thuê bao điện thoại di động và nhu cầu sử dụng điện thoại cố định ngày càng giảm. Số thuê bao truy nhập internet băng rộng cố định tại thời điểm cuối tháng Ba ước tính đạt 15,2 triệu thuê bao, tăng 13% so với cùng thời điểm năm trước, trong đó thuê bao truy nhập qua hệ thống cáp quang (FTTH) và qua hệ thống cáp truyền hình (CATV) vẫn tăng nhanh, thuê bao truy nhập qua hình thức xDSL tiếp tục giảm.
 
  Vận tải hành khách

 
  Vận tải hàng hoá

 
  c) Khách quốc tế đến Việt Nam
Số lượng khách quốc tế đến nước ta trong tháng Ba giảm mạnh 63,8% so với tháng trước và giảm 68,1% so với cùng kỳ năm trước do ảnh hưởng của dịch Covid-19. Tính chung 3 tháng đầu năm nay, khách quốc tế đến nước ta đạt gần 3,7 triệu lượt người, giảm 18,1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó giảm ở hầu hết các thị trường, mức giảm mạnh nhất tập trung ở các thị trường lớn như Trung Quốc, Hàn Quốc, Mỹ...
Khách quốc tế đến nước ta trong tháng Ba ước tính đạt 449,9 nghìn lượt người, giảm 63,8% so với tháng trước, trong đó khách đến bằng đường hàng không giảm 62,3%; bằng đường bộ giảm 65,9%; bằng đường biển giảm 83,6%. So với cùng kỳ năm trước, khách quốc tế đến nước ta trong tháng Ba giảm 68,1%, trong đó khách đến bằng đường hàng không giảm 65,7%; bằng đường bộ giảm 77,9% và bằng đường biển giảm 55,2%; khách đến từ châu Á giảm 77,2%; từ châu Âu giảm 27,5%; từ châu Úc giảm 49,9%; từ châu Mỹ giảm 67,9%; từ châu Phi giảm 37,8%.
Tính chung quý I/2020, khách quốc tế đến nước ta ước tính đạt 3.686,8 nghìn lượt người, giảm 18,1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khách đến bằng đường hàng không đạt 2.991,6 nghìn lượt người, chiếm 81,1% lượng khách quốc tế đến Việt Nam, giảm 14,9%; bằng đường bộ đạt 551,1 nghìn lượt người, chiếm 15% và giảm 39,4%; bằng đường biển đạt 144,1 nghìn lượt người, chiếm 3,9% và tăng 92,1%.
Trong 3 tháng đầu năm, khách đến từ châu Á đạt 2.674,4 nghìn lượt người, chiếm 72,5% tổng số khách quốc tế đến nước ta, giảm 21,1% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khách đến từ hầu hết các thị trường chính đều giảm mạnh: Trung Quốc đạt 871,8 nghìn lượt người, giảm 31,9% so với cùng kỳ năm trước; Hàn Quốc 819,1 nghìn lượt người, giảm 26,1%; Nhật Bản 200,3 nghìn lượt người, giảm 14,1%; Đài Loan 192,2 nghìn lượt người, giảm 7,2%; Ma-lai-xi-a 116,2 nghìn lượt người, giảm 19,1%. Bên cạnh đó, một số quốc gia và vùng lãnh thổ có số khách đến nước ta vẫn tăng trong quý I: Thái Lan 125,7 nghìn lượt người, tăng 0,9% so với cùng kỳ năm trước; Cam-pu-chia đạt 120,4 nghìn lượt người, tăng 254,3%; Lào đạt 36,8 nghìn lượt người, tăng 38,5%.
Khách đến từ châu Âu trong quý I ước tính đạt 664,3 nghìn lượt người, giảm 3,1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khách đến từ Vương quốc Anh 81,4 nghìn lượt người, giảm 9,4%; Pháp 74,5 nghìn lượt người, giảm 14,7%; Đức 61,5 nghìn lượt người, giảm 14,9%; riêng khách đến từ Liên bang Nga tăng 13,6% với 245 nghìn lượt người. Khách đến từ châu Mỹ ước tính đạt 234 nghìn lượt người, giảm 20,2% so với cùng kỳ năm trước, chủ yếu là khách đến từ Hoa Kỳ đạt 172,7 nghìn lượt người, giảm 21,4%. Khách đến từ châu Úc đạt 102,2 nghìn lượt người, giảm 14,4%, trong đó khách đến từ Ôx-trây-li-a đạt 92,2 nghìn lượt người, giảm 15%. Khách đến từ châu Phi đạt 11,9 nghìn lượt người, tăng 2% so với cùng kỳ năm 2019.
 
  Khách quốc tế đến Việt Nam

 
II. ỔN ĐỊNH KINH TẾ VĨ MÔ, KIỂM SOÁT LẠM PHÁT
1. Hoạt động ngân hàng, bảo hiểm, chứng khoán
Hoạt động của hệ thống tổ chức tín dụng trong quý I/2020 chịu ảnh hưởng của dịch Covid-19, tăng trưởng tín dụng tính đến thời điểm 20/3/2020 đạt mức thấp nhất so với cùng thời điểm của các năm 2016-2020[18]. Hoạt động kinh doanh bảo hiểm quý I/2020 tăng trưởng khá với nhiều sản phẩm bảo hiểm phong phú đáp ứng nhu cầu của người dân trước tình hình dịch bệnh; thị trường chứng khoán giảm mạnh với tổng mức huy động vốn cho nền kinh tế giảm 65% so với cùng kỳ năm trước.
Tính đến thời điểm 20/3/2020, tổng phương tiện thanh toán tăng 1,55% so với cuối năm 2019 (cùng kỳ năm trước tăng 2,54%); huy động vốn của các tổ chức tín dụng tăng 0,51% (cùng kỳ năm 2019 tăng 1,72%); tín dụng của nền kinh tế tăng 0,68% (cùng kỳ năm trước tăng 1,9%), cho thấy các doanh nghiệp đang gặp nhiều khó khăn, phải thu hẹp hoạt động sản xuất kinh doanh do bị ảnh hưởng từ dịch Covid-19.
Trước ảnh hưởng nghiêm trọng của dịch Covid-19 đối với nền kinh tế, để phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ mô, thị trường tài chính quốc tế và tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, ngày 16/3/2020, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã quyết định điều chỉnh các mức lãi suất. Theo đó, lãi suất tái cấp vốn giảm từ 6,0%/năm xuống 5,0%/năm; lãi suất tái chiết khấu giảm từ 4,0%/năm xuống 3,5%/năm; lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng và cho vay bù đắp thiếu hụt vốn trong thanh toán bù trừ của Ngân hàng Nhà nước đối với các ngân hàng thương mại giảm từ 7,0%/năm xuống 6,0%/năm; lãi suất chào mua giấy tờ có giá qua nghiệp vụ thị trường mở giảm từ 4,0%/năm xuống 3,5%/năm. Hiện tại, lãi suất huy động đồng Việt Nam phổ biến ở mức 0,2%-0,8%/năm đối với tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 1 tháng; 4,3%-5,0%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6 tháng; 5,3%-7%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 6 tháng đến dưới 12 tháng; kỳ hạn từ 12 tháng trở lên ở mức 6,6%-7,5%/năm. Mặt bằng lãi suất cho vay đồng Việt Nam phổ biến ở mức 6%-9%/năm đối với ngắn hạn; 9,0%-11%/năm đối với trung và dài hạn.
Hoạt động kinh doanh bảo hiểm quý I/2020 đạt mức tăng cao, ước tính tăng 16% so với cùng kỳ năm trước, trong đó doanh thu phí bảo hiểm lĩnh vực nhân thọ tăng 21%, lĩnh vực bảo hiểm phi nhân thọ tăng 8%. Trước diễn biến phức tạp của dịch Covid-19, các công ty Bảo hiểm nhân thọ đã cung cấp nhiều gói sản phẩm linh hoạt mang tính thời điểm, tăng gói hỗ trợ nhằm thu thút khách hàng sở hữu các hợp đồng bảo hiểm phù hợp. Trong đó, các gói bảo hiểm như: Corona Care của công ty Bảo hiểm Viễn Đông, Corona ++ dành cho người Việt từ 16-60 tuổi của Bảo hiểm PVI, ENCOVY của Bảo hiểm Sài Gòn - Hà Nội là những chương trình bảo hiểm nhằm mục đích cùng với Chính phủ và cộng đồng đẩy lùi dịch bệnh của các công ty Bảo hiểm.
Thị trường chứng khoán quý I/2020 gặp nhiều bất lợi do diễn biến phức tạp của dịch Covid-19, giá dầu thế giới giảm mạnh và Cục dự trữ Liên bang Mỹ tiếp tục cắt giảm lãi suất. Tổng mức huy động vốn cho nền kinh tế của thị trường chứng khoán trong quý I năm nay chỉ đạt 29,5 nghìn tỷ đồng, giảm 65% so với cùng kỳ năm trước.
Trên thị trường cổ phiếu, tính đến ngày 23/3/2020, chỉ số VNIndex đạt 657,43 điểm, giảm 25,5% so với cuối tháng trước và giảm 31,6% so với cuối năm 2019; mức vốn hóa thị trường đạt 3.302 nghìn tỷ đồng, giảm 24,7% so với cuối năm 2019. Giá trị giao dịch bình quân trong tháng Ba đạt 5.608 tỷ đồng/phiên, tăng 24% so với tháng trước. Tính chung quý I/2020, giá trị giao dịch bình quân trên thị trường cổ phiếu đạt 4.676 tỷ đồng/phiên, tăng 0,04% so với bình quân năm 2019. Hiện nay, thị trường cổ phiếu có 756 cổ phiếu và chứng chỉ quỹ niêm yết; 883 cổ phiếu đăng ký giao dịch trên sàn UPCoM với tổng giá trị niêm yết và đăng ký giao dịch đạt gần 1.414 nghìn tỷ đồng, tăng 0,8% so với cuối năm 2019.
 Trên thị trường trái phiếu, hiện có 483 mã trái phiếu niêm yết với giá trị niêm yết đạt 1.163 nghìn tỷ đồng, giảm 0,8% so với cuối năm 2019. Giá trị giao dịch bình quân trên thị trường trái phiếu tháng Ba đạt 13.863 tỷ đồng/phiên, tăng 32,2% so với tháng trước. Tính chung quý I/2020, giá trị giao dịch bình quân đạt 11.025 tỷ đồng/phiên, tăng 19,7% so với bình quân năm 2019.
Trên thị trường chứng khoán phái sinh, khối lượng giao dịch bình quân trong tháng Ba đạt 168.829 hợp đồng/phiên, tăng 28% so với tháng trước. Tính chung quý I/2020, khối lượng giao dịch bình quân đạt 122.436 hợp đồng/phiên, tăng 38% so với bình quân năm trước. Tại thời điểm cuối tháng 2/2020, số lượng tài khoản giao dịch phái sinh đạt 97.427 tài khoản, tăng 7% so với cuối năm 2019.
2. Đầu tư
Vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện quý I/2020 tăng 2,2% so với cùng kỳ năm 2019, mức tăng thấp nhất trong giai đoạn 2016-2020[19] do ảnh hưởng tiêu cực của dịch Covid-19 đến tất cả các hoạt động sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên, vốn thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước quý I/2020 đạt mức khá 13,2% kế hoạch năm[20] mặc dù kế hoạch vốn ngân sách Nhà nước năm 2020 cao hơn 18% so với năm 2019 và tăng 16,4% so với cùng kỳ năm trước. Đây là tín hiệu tích cực phản ánh kết quả việc Chính phủ thực hiện quyết liệt các giải pháp thúc đẩy giải ngân vốn đầu tư công. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện 3 tháng ước tính đạt 3,9 tỷ USD, giảm 6,6% so với cùng kỳ năm trước, đây là lần giảm đầu tiên trong giai đoạn 2016-2020[21].
Vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện quý I/2020 theo giá hiện hành ước tính đạt 367,9 nghìn tỷ đồng, tăng 2,2% so với cùng kỳ năm trước và bằng 31% GDP, bao gồm: Vốn khu vực Nhà nước đạt 112,1 nghìn tỷ đồng, chiếm 30,5% tổng vốn và tăng 5,8%; khu vực ngoài Nhà nước đạt 166,5 nghìn tỷ đồng, chiếm 45,2% và tăng 4,2%; khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt 89,3 nghìn tỷ đồng, chiếm 24,3% và giảm 5,4%.
Tốc độ phát triển và cơ cấu vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện
quý I giai đoạn 2016-2020 (Theo giá hiện hành)
%
  Tổng số Khu vực
Nhà nước Khu vực
ngoài Nhà nước Khu vực có
vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
 
Tốc độ phát triển
Năm 2016 110,9 105,9 114,5 112,8
Năm 2017 109,5 105,3 115,0 107,1
Năm 2018 110,0 103,0 117,2 108,1
Năm 2019 109,1 102,6 114,8 107,5
Năm 2020 102,2 105,8 104,2 94,6
Cơ cấu
Năm 2016 100,0 34,7 37,6 27,7
Năm 2017 100,0 33,4 39,5 27,1
Năm 2018 100,0 31,3 42,1 26,6
Năm 2019 100,0 29,4 44,4 26,2
Năm 2020 100,0 30,5 45,2 24,3
 
Trong vốn đầu tư của khu vực Nhà nước, vốn từ ngân sách Nhà nước thực hiện quý I/2020 ước tính đạt 59,5 nghìn tỷ đồng, bằng 13,2% kế hoạch năm và tăng 16,4% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2019 bằng 13,3% và tăng 3,7%), gồm có: Vốn trung ương quản lý đạt 8,6 nghìn tỷ đồng, bằng 11,1% kế hoạch năm và tăng 32,1% so với cùng kỳ năm trước; vốn địa phương quản lý đạt 50,9 nghìn tỷ đồng, bằng 13,6% kế hoạch năm và tăng 14,2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh đạt 33,7 nghìn tỷ đồng, bằng 13% kế hoạch năm và tăng 12,3%; vốn ngân sách Nhà nước cấp huyện đạt 14,3 nghìn tỷ đồng, bằng 14,4% và tăng 17,7%; vốn ngân sách Nhà nước cấp xã đạt 2,9 nghìn tỷ đồng, bằng 18% và tăng 18,5%.
Tổng vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam tính đến ngày 20/3/2020 bao gồm vốn đăng ký cấp mới, vốn đăng ký điều chỉnh và giá trị góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài đạt gần 8,6 tỷ USD, giảm 20,9% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó có 758 dự án được cấp phép mới với số vốn đăng ký đạt 5,5 tỷ USD, giảm 3,4% về số dự án và tăng 44,8% về số vốn đăng ký so với cùng kỳ năm trước; có 236 lượt dự án đã cấp phép từ các năm trước đăng ký điều chỉnh vốn đầu tư với số vốn tăng thêm đạt 1,1 tỷ USD, giảm 18%; có 2.523 lượt góp vốn mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài với tổng giá trị góp vốn gần 2 tỷ USD, giảm 65,6%. Trong tổng số lượt góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài có 455 lượt góp vốn, mua cổ phần làm tăng vốn điều lệ của doanh nghiệp với giá trị góp vốn là 0,71 tỷ USD và 2.068 lượt nhà đầu tư nước ngoài mua lại cổ phần trong nước mà không làm tăng vốn điều lệ với giá trị 1,25 tỷ USD. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện quý I/2020 ước tính đạt 3,9 tỷ USD, giảm 6,6% so với cùng kỳ năm trước, trong đó công nghiệp chế biến, chế tạo đạt 2,8 tỷ USD, chiếm 73,7% tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện; hoạt động kinh doanh bất động sản đạt 405,4 triệu USD, chiếm 10,5%; sản xuất, phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí đạt 337,7 triệu USD, chiếm 8,8%.
Trong quý I/2020, ngành sản xuất, phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí được cấp phép mới đầu tư trực tiếp nước ngoài lớn nhất với số vốn đăng ký đạt 4 tỷ USD, chiếm 72,3% tổng vốn đăng ký cấp mới; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đạt 1,2 tỷ USD, chiếm 21,4%; các ngành còn lại đạt 346,7 triệu USD, chiếm 6,3%. Nếu tính cả vốn đăng ký bổ sung của các dự án đã cấp phép từ các năm trước thì vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đạt hơn 2 tỷ USD, chiếm 30,7% tổng vốn đăng ký; ngành sản xuất, phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí không có vốn đăng ký bổ sung giữ mức 4 tỷ USD, chiếm 60,7%; các ngành còn lại đạt 570,2 triệu USD, chiếm 8,6%. Đối với hình thức góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài, vốn đầu tư vào ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đạt 699 triệu USD, chiếm 35,7% giá trị góp vốn; ngành bán buôn và bán lẻ, sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác đạt 441,4 triệu USD, chiếm 22,6%; hoạt động chuyên môn khoa học và công nghệ đạt 176 triệu USD, chiếm 9%; hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm đạt 174,1 triệu USD, chiếm 8,9%; các ngành còn lại 465,4 triệu USD, chiếm 23,8%.
Trong số 45 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư được cấp phép mới tại Việt Nam trong quý I năm nay, Xin-ga-po là nhà đầu tư lớn nhất với 4.204,7 triệu USD, chiếm 76% tổng vốn đăng ký cấp mới; tiếp đến là Trung Quốc 455,9 triệu USD, chiếm 8,2%; Hàn Quốc 284,4 triệu USD, chiếm 5,1%; Đặc khu hành chính Hồng Công (TQ) 245,9 triệu USD, chiếm 4,4%; Nhật Bản 120,3 triệu USD, chiếm 2,2%; Đài Loan 64,5 triệu USD, chiếm 1,2%; Hà Lan 37,8 triệu USD, chiếm 0,7%; Ma-lai-xi-a 34,4 triệu USD, chiếm 0,6%.
Đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài trong 3 tháng đầu năm 2020 có 27 dự án được cấp mới giấy chứng nhận đầu tư với tổng số vốn của phía Việt Nam là 22,9 triệu USD; có 6 lượt dự án điều chỉnh vốn với số vốn tăng thêm 26,4 triệu USD. Tính chung tổng vốn đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài (vốn cấp mới và tăng thêm) đạt 49,3 triệu USD, trong đó lĩnh vực dịch vụ lưu trú và ăn uống đạt 14,7 triệu USD, chiếm 29,9% tổng vốn đầu tư; hoạt động chuyên môn khoa học và công nghệ đạt 12 triệu USD, chiếm 24,4%; công nghiệp chế biến, chế tạo đạt 9 triệu USD, chiếm 18,3%; bán buôn và bán lẻ, sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác đạt 5,2 triệu USD, chiếm 10,6%; hoạt động kinh doanh bất động sản đạt 5 triệu USD, chiếm 10,2%. Trong quý I/2020 có 13 quốc gia và vùng lãnh thổ nhận đầu tư của Việt Nam, trong đó Hoa kỳ là nước dẫn đầu với 20,1 triệu USD, chiếm 40,8%; Xin-ga-po 12,8 triệu USD, chiếm 26%; Cam-pu-chia 9,5 triệu USD, chiếm 19,3%; Cuba 5 triệu USD, chiếm 10,1%.
  Vốn đầu tư phát triển toàn xã hội thực hiện theo giá hiện hành


  Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước


  Đầu tư trực tiếp của nước ngoài được cấp phép từ 01/01- 20/3/2020


 
 
  3. Thu, chi ngân sách Nhà nước
Dịch Covid-19 diễn biến phức tạp tác động tới sản xuất, kinh doanh và hoạt động xuất nhập khẩu, từ đó ảnh hưởng đến nguồn thu ngân sách Nhà nước trong những tháng đầu năm 2020. Chi ngân sách Nhà nước tập trung bảo đảm các nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, y tế, quản lý Nhà nước và thanh toán các khoản nợ đến hạn.
Tổng thu ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến thời điểm 15/3/2020 ước tính đạt 311,3 nghìn tỷ đồng, bằng 20,6% dự toán năm, trong đó thu nội địa đạt 256,8 nghìn tỷ đồng, bằng 20,3%; thu từ dầu thô 12,1 nghìn tỷ đồng, bằng 34,5%; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu 42,4 nghìn tỷ đồng, bằng 20,4%. Trong thu nội địa, thu từ khu vực doanh nghiệp Nhà nước đạt 29,3 nghìn tỷ đồng, bằng 16,5% dự toán năm; thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (không kể dầu thô) 48,9 nghìn tỷ đồng, bằng 21,4%; thu thuế công, thương nghiệp và dịch vụ ngoài Nhà nước 54,3 nghìn tỷ đồng, bằng 20%; thu thuế thu nhập cá nhân 28,1 nghìn tỷ đồng, bằng 21,9%; thu thuế bảo vệ môi trường 9,7 nghìn tỷ đồng, bằng 14,4%; thu tiền sử dụng đất 29,7 nghìn tỷ đồng, bằng 30,9%.
Tổng chi ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến thời điểm 15/3/2020 ước tính đạt 278,1 nghìn tỷ đồng, bằng 15,9% dự toán năm, trong đó chi thường xuyên đạt 201,2 nghìn tỷ đồng, bằng 19%; chi đầu tư phát triển 47,7 nghìn tỷ đồng, bằng 10,1%; chi trả nợ lãi 28,6 nghìn tỷ đồng, bằng 24,2%.
4. Xuất, nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ
Dịch Covid-19 lây lan mạnh ở các nước đối tác thương mại hàng đầu của Việt Nam như Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, EU và Hoa Kỳ đã ảnh hưởng không nhỏ đến kim ngạch xuất, nhập khẩu của nhiều mặt hàng. Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu tháng Ba ước tính đạt 39 tỷ USD, giảm 11,1% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung quý I, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa đạt 115,34 tỷ USD, giảm 0,7%, trong đó xuất khẩu đạt 59,08 tỷ USD, tăng 0,5%; nhập khẩu đạt 56,26 tỷ USD, giảm 1,9%. Xuất siêu quý I năm nay đạt 2,8 tỷ USD.
a) Xuất khẩu hàng hóa
Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu thực hiện tháng 2/2020 đạt 20.854 triệu USD, cao hơn 2.254 triệu USD so với số ước tính, trong đó điện thoại và linh kiện cao hơn 670 triệu USD; hàng dệt may cao hơn 184 triệu USD; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng cao hơn 151 triệu USD; sắt thép cao hơn 146 triệu USD; gỗ và sản phẩm gỗ cao hơn 97 triệu USD; thủy sản cao hơn 81 triệu USD.
Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu tháng 3/2020 ước tính đạt 20 tỷ USD, giảm 4,1% so với tháng trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 6,16 tỷ USD, giảm 1%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 13,84 tỷ USD, giảm 5,4%. Hầu hết các mặt hàng xuất khẩu trong tháng Ba có kim ngạch giảm so với tháng trước: Dầu thô giảm 20,8%; sắt thép giảm 20,3%; hàng dệt may giảm 19,4%; giày dép giảm 19,1%. So với cùng kỳ năm trước, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu tháng Ba giảm 12,1%, trong đó khu vực kinh tế trong nước giảm 3,7%, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) giảm 15,4%. Một số mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu giảm mạnh: Hàng dệt may giảm 29%; phương tiện vận tải và phụ tùng giảm 26,1%; sắt thép giảm 16,4%; giày dép giảm 15,9%; thủy sản giảm 11,9%; điện thoại và linh kiện giảm 10,8%.
Tính chung quý I/2020, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu ước tính đạt 59,08 tỷ USD, tăng 0,5% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 18,65 tỷ USD, tăng 8,7%, chiếm 31,6% tổng kim ngạch xuất khẩu; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 40,43 tỷ USD, giảm 2,9%, chiếm 68,4%.
Trong quý I có 8 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD, chiếm 70,6% tổng kim ngạch xuất khẩu, trong đó điện thoại và linh kiện có kim ngạch xuất khẩu lớn nhất, đạt 12,4 tỷ USD, chiếm 20,9% tổng kim ngạch xuất khẩu, tăng 2% so với cùng kỳ năm trước; điện tử, máy tính và linh kiện đạt 8,2 tỷ USD, tăng 16,2%; hàng dệt may đạt 6,5 tỷ USD, giảm 8,9%; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng đạt 4,7 tỷ USD, tăng 17,7%; giày dép đạt 3,9 tỷ USD, giảm 1,9%; gỗ và sản phẩm gỗ đạt 2,5 tỷ USD, tăng 9,5%; phương tiện vận tải và phụ tùng đạt 2 tỷ USD, giảm 5,5%; thủy sản đạt 1,6 tỷ USD, giảm 11,2%. Nhìn chung, tỷ trọng xuất khẩu của một số mặt hàng chủ lực vẫn thuộc về khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, trong đó: Điện thoại và linh kiện chiếm 92,1%; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng chiếm 77,2%; giày dép chiếm 75,5%; hàng dệt may 57,1%. Kim ngạch xuất khẩu một số mặt hàng nông sản quý I năm nay giảm so với cùng kỳ năm trước: Rau quả đạt 831 triệu USD, giảm 11,5%; cà phê đạt 794 triệu USD, giảm 6,4% (lượng giảm 3,9%); cao su đạt 331 triệu USD, giảm 26,1% (lượng giảm 33%); hạt tiêu đạt 156 triệu USD, giảm 17,6% (lượng giảm 0,9%). Riêng gạo và hạt điều tăng cả lượng và giá trị, gạo đạt 653 triệu USD, tăng 7,9% (lượng tăng 1,1%); hạt điều đạt 644 triệu USD, tăng 0,8% (lượng tăng 14,3%).
Về cơ cấu nhóm hàng xuất khẩu quý I/2020, nhóm hàng công nghiệp nặng và khoáng sản ước tính đạt 32 tỷ USD, tăng 2,3% so với cùng kỳ năm trước; chiếm 54,2% tổng kim ngạch hàng hóa xuất khẩu (tăng 1 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước). Nhóm hàng công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công nghiệp ước tính đạt 20,8 tỷ USD, giảm 0,2% và chiếm 35,3% (giảm 0,2 điểm phần trăm). Nhóm hàng nông, lâm sản đạt 4,6 tỷ USD, giảm 4,5% và chiếm 7,8% (giảm 0,4 điểm phần trăm). Nhóm hàng thủy sản đạt 1,6 tỷ USD, giảm 11,2% và chiếm 2,7% (giảm 0,4 điểm phần trăm).
Về thị trường hàng hóa xuất khẩu quý I/2020, Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch đạt 15,5 tỷ USD, tăng 16,2% so với cùng kỳ năm trước. Tiếp đến là Trung Quốc đạt 8,4 tỷ USD, tăng 11,5% (do mặt hàng điện thoại và linh kiện tăng 187,5%). Thị trường EU đạt 7,5 tỷ USD, giảm 14,9%. Thị trường ASEAN đạt 6 tỷ USD, giảm 5,2%. Nhật Bản đạt 4,8 tỷ USD, tăng 3,5%. Hàn Quốc đạt 4,5 tỷ USD, giảm 2,7%.
b) Nhập khẩu hàng hóa
Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu thực hiện tháng 2/2020 đạt 18.579 triệu USD, cao hơn 79 triệu USD so với số ước tính, trong đó ô tô cao hơn 116 triệu USD; điện tử, máy tính và linh kiện cao hơn 56 triệu USD; vải thấp hơn 41 triệu USD; điện thoại và linh kiện thấp hơn 60 triệu USD.
Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu tháng Ba ước tính đạt 19 tỷ USD, tăng 2,3% so với tháng trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 7,7 tỷ USD, tăng 4,1%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 11,3 tỷ USD, tăng 1%. Kim ngạch nhập khẩu một số mặt hàng tăng so với tháng trước: Điện thoại và linh kiện tăng 17%; vải tăng 12,8%; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng tăng 7,9%; điện tử, máy tính và linh kiện tăng 1%. So với cùng kỳ năm trước, kim ngạch hàng hóa nhập khẩu tháng Ba giảm 10,1%, trong đó khu vực kinh tế trong nước giảm 14%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài giảm 7,2%. Một số mặt hàng có kim ngạch giảm mạnh so với cùng kỳ năm trước: Xăng dầu giảm 58,8%; vải giảm 25,9%; sắt thép giảm 20,4%; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng giảm 14,2%.
Tính chung quý I/2020, kim ngạch hàng hóa nhập khẩu ước tính đạt 56,26 tỷ USD, giảm 1,9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 23,08 tỷ USD, giảm 3,4%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 33,18 tỷ USD, giảm 0,8%.
Trong quý I có 14 mặt hàng nhập khẩu đạt trị giá trên 1 tỷ USD, chiếm tỷ trọng 72,9% tổng kim ngạch nhập khẩu, trong đó: Điện tử, máy tính và linh kiện đạt 13,2 tỷ USD (chiếm 23,4% tổng kim ngạch nhập khẩu), tăng 11,8% so với cùng kỳ năm trước; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng đạt 7,8 tỷ USD, giảm 8,6%; điện thoại và linh kiện đạt 3,2 tỷ USD, tăng 14,1%; vải đạt 2,4 tỷ USD, giảm 17,7%; chất dẻo đạt 2 tỷ USD, giảm 6,1%; sắt thép đạt 1,9 tỷ USD, giảm 16%; sản phẩm chất dẻo đạt 1,6 tỷ USD, tăng 8,1%; dầu thô đạt 1,5 tỷ USD; tăng 67,9%; ô tô đạt 1,4 tỷ USD, giảm 24,4%; kim loại thường đạt 1,4 tỷ USD; giảm 7,9%; sản phẩm hóa chất đạt 1,3 tỷ USD, tăng 11,7%; hóa chất đạt 1,2 tỷ USD, giảm 0,9%; nguyên phụ liệu dệt, may, giày dép đạt 1,1 tỷ USD, giảm 14,5%; xăng dầu đạt 1,02 tỷ USD, giảm 17,6%.
Về cơ cấu hàng hóa nhập khẩu quý I, nhóm hàng tư liệu sản xuất ước tính đạt 52,6 tỷ USD, giảm 1,2% so với cùng kỳ năm trước và chiếm 93,5% tổng kim ngạch hàng hóa nhập khẩu (tăng 0,6 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước), trong đó nhóm hàng máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng đạt 26,4 tỷ USD, tăng 3,9% và chiếm 46,9% (tăng 2,6 điểm phần trăm); nhóm hàng nguyên, nhiên, vật liệu đạt 26,2 tỷ USD, giảm 5,9% và chiếm 46,6% (giảm 2 điểm phần trăm). Nhóm hàng tiêu dùng ước tính đạt 3,66 tỷ USD, giảm 10,6% và chiếm 6,5% (giảm 0,6 điểm phần trăm).
Về thị trường hàng hóa nhập khẩu quý I, Trung Quốc vẫn là thị trường nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch đạt 13,3 tỷ USD, giảm 18% so với cùng kỳ năm trước. Tiếp theo là thị trường Hàn Quốc đạt 11,7 tỷ USD, tăng 2,4%. Thị trường ASEAN đạt 7,2 tỷ USD, giảm 8,3%. Nhật Bản đạt 4,9 tỷ USD, tăng 15,8%. Thị trường EU đạt 3,4 tỷ USD, tăng 5,2%. Hoa Kỳ đạt 3,4 tỷ USD, tăng 13%.
Cán cân thương mại hàng hóa thực hiện tháng Hai xuất siêu 2,3 tỷ USD[22]; 2 tháng xuất siêu 1,8 tỷ USD; tháng Ba ước tính xuất siêu 1 tỷ USD. Tính chung quý I/2020, cán cân thương mại hàng hóa tiếp tục xuất siêu 2,8 tỷ USD[23] (cùng kỳ năm trước xuất siêu 1,5 tỷ USD), trong đó khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 4,4 tỷ USD; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) xuất siêu 7,2 tỷ USD.
c) Xuất, nhập khẩu dịch vụ
Trong quý I/2020, kim ngạch xuất khẩu dịch vụ ước tính đạt 3,34 tỷ USD, giảm 19,6% so với cùng kỳ năm trước, trong đó dịch vụ du lịch đạt 2,4 tỷ USD (chiếm 71,9% tổng kim ngạch), giảm 18,6%; dịch vụ vận tải đạt 510 triệu USD (chiếm 15,3%), giảm 31,9%. Kim ngạch nhập khẩu dịch vụ quý I ước tính đạt 4,27 tỷ USD, giảm 4,9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó dịch vụ vận tải đạt 2 tỷ USD (chiếm 46,8% tổng kim ngạch), giảm 7%; dịch vụ du lịch đạt 1,4 tỷ USD (chiếm 31,6%), giảm 2,9%. Nhập siêu dịch vụ trong quý I/2020 là 930 triệu USD (cùng kỳ năm trước nhập siêu 335 triệu USD), bằng 27,8% kim ngạch xuất khẩu dịch vụ.
  Hàng hóa xuất khẩu


  Hàng hóa nhập khẩu


  Xuất, nhập khẩu dịch vụ


 
5. Chỉ số giá
Ảnh hưởng của dịch Covid-19, giá xăng dầu thế giới giảm mạnh và nguồn cung gia cầm dồi dào là những nguyên nhân chính làm chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 3/2020 giảm 0,72% so với tháng trước, đây là chỉ số CPI thấp nhất trong giai đoạn 2016-2020[24]. Tuy nhiên, chỉ số giá tiêu dùng tháng 3 và bình quân quý I/2020 so với cùng kỳ năm trước đều ở mức cao nhất trong giai đoạn 2016-2020[25], tăng lần lượt 4,87% và 5,56%. Tỷ giá thương mại hàng hóa lần đầu tiên giảm trong 3 năm gần đây, phản ánh giá xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam ra nước ngoài không được thuận lợi so với giá nhập khẩu hàng hóa từ nước ngoài về Việt Nam.
a) Chỉ số giá tiêu dùng
Trong mức giảm 0,72% của chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 3/2020 so với tháng trước có 7/11 nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá giảm, trong đó: Nhóm giao thông giảm nhiều nhất với 4,87%, chủ yếu do tác động của điều chỉnh giảm giá xăng, dầu vào thời điểm 29/2/2020 và 15/3/2020 làm giá xăng, dầu giảm 9,83% (tác động làm CPI chung giảm 0,43%) và giá dịch vụ giao thông công cộng giảm[26]. Nhóm văn hóa, giải trí và du lịch giảm 1,4% do nhu cầu đi lại, du lịch, lễ hội của người dân giảm mạnh bởi ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19[27]. Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,43%, trong đó: lương thực tăng 1,09%[28]; thực phẩm giảm 0,89%[29]; ăn uống ngoài gia đình giảm 0,01%. Nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng giảm 0,25% (giá gas giảm 5,91% do giá gas trong nước điều chỉnh giảm làm CPI chung giảm 0,07% và giá dầu hỏa giảm 12,08%); may mặc, mũ nón, giày dép giảm 0,15%; đồ uống và thuốc lá giảm 0,11%; bưu chính viễn thông giảm 0,06%. Các nhóm hàng hóa và dịch vụ khác có chỉ số giá tăng gồm: thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,09% do giá dịch vụ giúp việc gia đình tăng 0,64% và nhu cầu sử dụng các loại vật phẩm tiêu dùng gia đình[30] trong mùa dịch Covid-19 tăng; nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,05%; nhóm giáo dục tăng 0,04%; nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,16%.
CPI bình quân quý I/2020 so với cùng kỳ năm 2019 tăng 5,56%; CPI tháng 3/2020 tăng 0,34% so với tháng 12/2019 và tăng 4,87% so với cùng kỳ năm 2019. CPI quý I năm nay tăng so với cùng kỳ năm trước do một số nguyên nhân chủ yếu: (i) Nhu cầu về nhiều loại mặt hàng trong dịp Tết Nguyên đán tăng cao so với cùng kỳ năm trước như: lương thực tăng 1,51% (tác động làm CPI chung tăng 0,07%), thực phẩm tăng 13,21% (tác động làm CPI chung tăng 2,99%), trong đó: giá thịt lợn tăng 58,81% (đóng góp 2,47% vào mức tăng CPI chung); giá các mặt hàng đồ uống, thuốc lá tăng 1,8%; giá các loại quần áo may sẵn tăng 1,19%; giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng 2,52% (tác động làm CPI chung tăng 0,04%); (ii) Ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19 làm giá rau trong quý I/2020 tăng 4,14% do rau, quả Trung Quốc không xuất được sang Việt Nam; đồng thời làm giá các mặt hàng thuốc y tế, điện sinh hoạt và nước sinh hoạt tăng cao, lần lượt là 1,43%; 9,89% và 4,75%.
Bên cạnh các nguyên nhân làm tăng CPI quý I/2020, có một số yếu tố góp phần kiềm chế CPI: (i) Giá xăng dầu được điều chỉnh giảm 5 đợt kể từ đầu năm với giá xăng A95 giảm 4.180 đồng/lít, giá xăng E5 giảm 3.830 đồng/lít, giá dầu diesel giảm 3.560 đồng/lít; (ii) Ảnh hưởng của dịch Covid-19 và nhu cầu đi lại, du lịch của người dân sau Tết giảm làm giá của nhóm du lịch trọn gói giảm 1,74% so với cùng kỳ năm trước; giá cước vận tải của các loại phương tiện như tàu hỏa, máy bay giảm[31]; (iii) Các cấp, các ngành tích cực triển khai thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ để ngăn chặn diễn biến phức tạp của dịch bệnh Covid-19 và ổn định thị trường.
Lạm phát cơ bản tháng 3/2020 giảm 0,06% so với tháng trước và tăng 2,95% so với cùng kỳ năm trước. Lạm phát cơ bản bình quân quý I/2020 tăng 3,05% so với bình quân cùng kỳ năm trước.
b) Chỉ số giá vàng và đô la Mỹ
Giá vàng trong nước biến động trái chiều với giá vàng thế giới do các nhà đầu tư trong nước có xu hướng nắm giữ vàng trong thời điểm chứng khoán, bất động sản không ổn định. Bình quân giá vàng thế giới đến ngày 24/3/2020 giảm 1,13% so với tháng 2/2020. Trong nước, chỉ số giá vàng tháng 3/2020 tăng 3,87% so với tháng trước; tăng 11,37% so với tháng 12/2019 và tăng 25,31% so với cùng kỳ năm trước.
Trong bối cảnh thị trường tài chính thế giới có dấu hiệu suy giảm, các nhà đầu tư có xu hướng nắm giữ tiền mặt nên đồng đô la Mỹ trên thị trường thế giới tăng; Cục dự trữ Liên bang Mỹ (FED) đã điều chỉnh lãi suất xuống biên độ 0% - 0,25% và tuyên bố sẽ mua không giới hạn lượng trái phiếu Chính phủ Mỹ nhằm hỗ trợ thị trường tài chính và đối phó với những thiệt hại do dịch bệnh Covid-19 gây ra cho nền kinh tế Mỹ. Trong nước, lượng dự trữ ngoại tệ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam dồi dào đáp ứng nhu cầu về ngoại tệ của các doanh nghiệp nhập khẩu. Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 3/2020 tăng 0,17% so với tháng trước; tăng 0,51% so với tháng 12/2019 và tăng 0,17% so với cùng kỳ năm 2019.
c) Chỉ số giá sản xuất
Chỉ số giá sản xuất sản phẩm nông, lâm nghiệp và thủy sản quý I/2020 tăng 4,45% so với quý IV/2019 và tăng 5,97% so với cùng kỳ năm trước, trong đó chỉ số giá sản xuất sản phẩm nông nghiệp tăng 5,17% và tăng 7,83%; lâm nghiệp tăng 0,06% và giảm 0,1%; thủy sản tăng 2,75% và tăng 1,1%.
Chỉ số giá sản xuất sản phẩm công nghiệp quý I/2020 giảm 0,03% so với quý IV/2019 và tăng 1,05% so với cùng kỳ năm trước, trong đó chỉ số giá sản xuất sản phẩm khai khoáng tăng 1,36% và tăng 6,35%; sản phẩm công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 0,15% và tăng 0,57%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí giảm 2,49% và tăng 3,94%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 0,8% và tăng 2,34%.
Chỉ số giá sản xuất dịch vụ quý I/2020 giảm 0,25% so với quý IV/2019 và tăng 2,28% so với cùng kỳ năm trước, trong đó chỉ số giá dịch vụ vận tải, kho bãi giảm 2,01% và giảm 1,91%; dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 0,6% và tăng 2,37%; thông tin và truyền thông giảm 0,03% và tăng 0,49%; giáo dục và đào tạo tăng 0,12% và tăng 4,15%; y tế và trợ giúp xã hội tăng 0,06% và tăng 3,58%.
d) Chỉ số giá xuất, nhập khẩu hàng hóa
Chỉ số giá xuất khẩu hàng hoá quý I/2020 giảm 0,28% so với quý IV/2019 và giảm 0,53% so với cùng kỳ năm trước, trong đó chỉ số giá nhóm nông sản, thực phẩm tăng 0,27% và giảm 1,4%; nhóm nhiên liệu giảm 5,51% và giảm 9,25%; nhóm hàng hóa chế biến, chế tạo khác giảm 0,14% và giảm 0,05%. Chỉ số giá xuất khẩu quý I/2020 so với quý IV/2019 và so với cùng kỳ năm trước của một số mặt hàng như sau: Dầu thô giảm 6,59% và giảm 12,49%; xăng dầu giảm 4,12% và giảm 2,22%; cà phê giảm 2,55% và giảm 6,11%; sản phẩm từ cao su tăng 3,88% và tăng 2,27%; chè tăng 2,47% và tăng 6,41%; cao su tăng 2,16% và tăng 5,2%; máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ tùng khác tăng 0,49% và tăng 2,4%.
Chỉ số giá nhập khẩu hàng hoá quý I năm nay giảm 0,16% so với quý IV/2019 và tăng 0,08% so với cùng kỳ năm trước, trong đó chỉ số giá nhập khẩu nhóm nông sản, thực phẩm tăng 0,52% và tăng 1%; nhóm nhiên liệu tăng 0,56% và tăng 4,75%; nhóm hàng hóa chế biến, chế tạo khác giảm 0,23% và giảm 0,19%. Chỉ số giá nhập khẩu quý I/2020 của một số mặt hàng: Hóa chất giảm 2,32% so với quý IV/2019 và giảm 5,91% so với cùng kỳ năm trước; kim loại thường khác giảm 1,55% và giảm 0,71%; nguyên phụ liệu thuốc lá giảm 1,36% và giảm 4,07%; ô tô nguyên chiếc các loại giảm 1,05% và giảm 1,05%; khí đốt hóa lỏng tăng 13,2% và tăng 6,31%; sản phẩm từ giấy tăng 8,87% và tăng 11,22%; hàng rau quả tăng 1,59% và tăng 8,15%; than đá tăng 0,65% và tăng 1,95%.
Tỷ giá thương mại hàng hóa[32] quý I/2020 giảm 0,12% so với quý IV/2019 và giảm 0,61% so với cùng kỳ năm trước, lần đầu tiên tỷ giá thương mại hàng hóa giảm trong 3 năm gần đây[33], trong đó tỷ giá thương mại của rau quả giảm 4,69% và giảm 4,5%; xăng dầu giảm 3,49% và giảm 7,05%; hóa chất tăng 2,37% và tăng 6,28%; cao su tăng 2,11% và tăng 8,85%; gỗ và sản phẩm từ gỗ tăng 0,82% và tăng 2,61%.
 
  Chỉ số giá tiêu dùng, chỉ số giá vàng, chỉ số giá đô la Mỹ và lạm phát cơ bản tháng 3 năm 2020


  Chỉ số giá sản xuất


  Chỉ số giá nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu dùng cho sản xuất


  Chỉ số giá vận tải, kho bãi


  Chỉ số giá xuất khẩu hàng hóa


  Chỉ số giá nhập khẩu hàng hóa


  Tỷ giá thương mại hàng hóa


    III. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI
1. Lao động, việc làm
Tình hình lao động, việc làm quý I/2020 chịu ảnh hưởng tiêu cực của dịch Covid-19, tỷ lệ tham gia lực lượng lao động thấp kỷ lục, tỷ lệ thất nghiệp tăng cao, tỷ lệ thiếu việc làm của lực lượng lao động trong độ tuổi tăng cao nhất trong 5 năm trở lại đây[34] do nhu cầu thị trường lao động sụt giảm.
Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên của cả nước quý I/2020 ước tính là 55,3 triệu người, giảm 673,1 nghìn người so với quý trước và giảm 144,2 nghìn người so với cùng kỳ năm 2019 do trong quý thị trường lao động giảm ở hầu hết các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trên cả nước và ở các ngành, nghề lao động. Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động quý I/2019 ước tính đạt 75,4%, giảm 1,2 điểm phần trăm so với quý trước và giảm 1,3 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước, đây là mức thấp nhất 10 năm qua. Lực lượng lao động trong độ tuổi lao động quý I/2020 ước tính là 48,9 triệu người, giảm 351,2 nghìn người so với quý trước và tăng 4 nghìn người so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Lao động nam 26,9 triệu người, chiếm 55% tổng số và lao động nữ 22 triệu người, chiếm 45%; khu vực thành thị 16,5 triệu người, chiếm 33,7% và khu vực nông thôn là 32,4 triệu người, chiếm 66,3%.
Lao động 15 tuổi trở lên đang làm việc trong quý I/2020 ước tính là 54,2 triệu người, bao gồm 18,2 triệu người đang làm việc ở khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, chiếm 33,5% tổng số (giảm 1,7 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước); khu vực công nghiệp và xây dựng 16,5 triệu người, chiếm 30,5% (tăng 1,3 điểm phần trăm); khu vực dịch vụ 19,5 triệu người, chiếm 36% (tăng 0,4 điểm phần trăm).
Tỷ lệ thất nghiệp chung cả nước quý I/2020 ước tính là 2,02%, trong đó tỷ lệ thất nghiệp khu vực thành thị là 2,95%; khu vực nông thôn là 1,57%. Tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi quý I/2020 là 2,22%, trong đó khu vực thành thị là 3,18%; khu vực nông thôn là 1,73%. Tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên (từ 15-24 tuổi) quý I/2020 ước tính là 7,01%, trong đó khu vực thành thị là 9,91%; khu vực nông thôn là 5,77%.
Tỷ lệ thiếu việc làm của lao động trong độ tuổi quý I/2020 ước tính là 2%, trong đó tỷ lệ thiếu việc làm khu vực thành thị là 0,97%; khu vực nông thôn là 2,52% (tỷ lệ thiếu việc làm của quý I/2019 tương ứng là 1,17%; 0,6%; 1,45%).
Tỷ lệ lao động có việc làm phi chính thức ngoài hộ nông, lâm nghiệp, thủy sản[35] quý I/2020 ước tính là 55,3%, trong đó khu vực thành thị là 47,3%; khu vực nông thôn là 61,7%. Tỷ lệ lao động có việc làm phi chính thức ngoài hộ nông, lâm nghiệp, thủy sản quý I/2019 tương ứng là 55,9%; 47,9%; 62,2%.
Thu nhập bình quân tháng của lao động làm công hưởng lương trong quý I/2020 ước tính là 7,4 triệu đồng/tháng, tăng hơn 616 nghìn đồng so với quý trước và tăng 476,5 nghìn đồng so với cùng kỳ năm trước, trong đó thu nhập của lao động nam là 7,8 triệu đồng/tháng, lao động nữ là 6,8 triệu đồng/tháng, lao động thành thị là 8,7 triệu đồng/tháng, lao động nông thôn là 6,5 triệu đồng/tháng.
 
  Một số chỉ tiêu lao động

 
  Tỷ lệ thất nghiệp và tỷ lệ thiếu việc làm quý I năm 2020

 
2. Đời sống dân cư và công tác an sinh xã hội
Đời sống dân cư tháng Ba gặp khó khăn do ảnh hưởng của dịch Covid-19 và do tác động của đầu kỳ giáp hạt. Trong tháng, cả nước có 5 tỉnh phát sinh thiếu đói là Yên Bái, Cao Bằng, Hà Giang, Lai Châu và Lạng Sơn với hơn 8,6 nghìn hộ thiếu đói, tương ứng với 36,3 nghìn nhân khẩu thiếu đói, gấp 9 lần số hộ thiếu đói, gấp 11 lần số nhân khẩu thiếu đói so với tháng trước và cùng gấp 5 lần số hộ và số nhân khẩu thiếu đói so với cùng kỳ năm trước. Tính chung quý I, cả nước có 12,4 nghìn lượt hộ thiếu đói, giảm 56,4% so với cùng kỳ năm trước, tương ứng với 49,7 nghìn lượt nhân khẩu thiếu đói, giảm 52,8%. Để khắc phục tình trạng thiếu đói, từ đầu năm, các cấp, các ngành, các tổ chức từ Trung ương đến địa phương đã hỗ trợ các hộ thiếu đói 243,3 tấn gạo.
Công tác an sinh xã hội được chính quyền các cấp quan tâm thực hiện. Theo báo cáo sơ bộ, tổng kinh phí cho hoạt động an sinh xã hội và giảm nghèo trong 3 tháng đầu năm là hơn 4,8 nghìn tỷ đồng (trong đó quà cho đối tượng chính sách, người có công là 2,9 nghìn tỷ đồng; người nghèo là 1,3 nghìn tỷ đồng; cứu đói, cứu trợ khác là 0,6 nghìn tỷ đồng), hơn 17,5 triệu thẻ BHYT/sổ/thẻ khám chữa bệnh miễn phí được phát, tặng cho các đối tượng thụ hưởng.
3. Giáo dục, đào tạo
Công tác giáo dục, đào tạo đang gặp khó khăn khi dịch Covid-19 bùng phát và diễn biến phức tạp trong những tháng đầu năm. Để phòng chống dịch lây lan, đảm bảo sức khỏe cho người dân, hầu hết các địa phương trên cả nước cho học sinh và sinh viên nghỉ học (Bao gồm 5 triệu trẻ em bậc mầm non; 17 triệu học sinh phổ thông và trên 1,5 triệu học sinh, sinh viên đại học, cao đẳng, trung cấp[36]). Quyết định cho học sinh và sinh viên nghỉ học không những ảnh hưởng đến kế hoạch, nền nếp dạy và học của nhà trường và học sinh, sinh viên mà còn ảnh hưởng đến các bậc phụ huynh, đặc biệt là phụ huynh học sinh ở cấp mầm non và tiểu học.
Trước tình hình trên, ngành Giáo dục và Đào tạo đã điều chỉnh khung kế hoạch thời gian năm học 2019-2020 phù hợp với diễn biến tình hình dịch bệnh; rà soát, tinh giản nội dung dạy học, triển khai các hình thức dạy học qua internet và trên truyền hình đảm bảo nội dung chương trình và kiến thức cho học sinh, đặc biệt là học sinh cuối cấp.
Đối với giáo dục nghề nghiệp, tính đặc thù là học lý thuyết tại trường kết hợp với thực hành tại xưởng, nhà máy, xí nghiệp nhưng do yêu cầu phòng, chống dịch Covid-19 cần tránh tập trung đông người nên việc tổ chức đào tạo nghề cũng như công tác tuyển sinh thời điểm này gặp nhiều khó khăn, ảnh hưởng đến kế hoạch đào tạo trong năm học. Ngoài ra, dịch bùng phát còn ảnh hưởng đến đời sống của nhiều giáo viên; mất cân đối thu chi ở các cơ sở giáo dục nghề nghiệp; nhiều hoạt động đánh giá, cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia cũng như các hoạt động phong trào hỗ trợ học sinh, sinh viên bị gián đoạn, chậm tiến độ.
4. Tình hình dịch bệnh, ngộ độc thực phẩm
Trong tháng (19/2-18/3/2020), cả nước có 4.986 trường hợp mắc bệnh sốt xuất huyết; 879 trường hợp mắc bệnh tay chân miệng; 16 trường hợp mắc bệnh viêm màng não do vi rút và 1.097 trường hợp sốt phát ban nghi sởi, trong đó có 17 trường hợp dương tính. Tính chung 3 tháng đầu năm, cả nước có 19,7 nghìn trường hợp mắc bệnh sốt xuất huyết (1 trường hợp tử vong); 4.019 trường hợp mắc bệnh tay chân miệng; 67 trường hợp mắc bệnh viêm màng não do vi rút; 1 trường hợp mắc bệnh viêm màng não do não mô cầu và 2.427 trường hợp sốt phát ban nghi sởi, trong đó có 76 trường hợp dương tính.
Dịch Covid-19 trên thế giới diễn biến ngày càng phức tạp[37]. Trước tình hình đó, Việt Nam huy động cả hệ thống chính trị vào cuộc, "tăng cường tốc độ ứng phó" tình hình dịch bệnh. Tính đến 7h30 ngày 27/3/2020 có 153 trường hợp mắc (17 trường hợp đã được chữa khỏi).
Tổng số người nhiễm HIV của cả nước hiện còn sống tính đến thời điểm 18/3/2020 là 210,3 nghìn người; số người đã chuyển sang giai đoạn AIDS là 97.106 người và số người tử vong do HIV/AIDS của cả nước tính đến thời điểm trên là 98.622 người.
Về ngộ độc thực phẩm, trong tháng Ba xảy ra 4 vụ với 20 người bị ngộ độc (3 người tử vong). Tính chung 3 tháng đầu năm, cả nước xảy ra 15 vụ với 242 người bị ngộ độc (5 người tử vong).
5. Hoạt động văn hóa, thể thao
Trước tình hình diễn biến phức tạp của dịch Covid-19 nhiều địa phương thể hiện tinh thần khẩn trương, nghiêm túc trong việc dừng các lễ hội lớn cũng như các hoạt động tụ tập đông người. Phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa" tiếp tục được triển khai rộng khắp trên cả nước đã tạo dựng được môi trường văn hóa lành mạnh, giúp người dân có điều kiện nâng cao chất lượng cuộc sống, đồng thời góp phần gìn giữ, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc.
Một số hoạt động thể thao được lùi thời gian tổ chức do ảnh hưởng của dịch Covid-19, trong đó có hoạt động Ngày chạy Olympic vì sức khỏe toàn dân năm 2020. Về thể thao thành tích cao của Việt Nam, trong 3 tháng đầu năm giành được nhiều kết quả nổi bật: Đội tuyển Cử tạ Việt Nam giành 13 huy chương vàng, 6 huy chương bạc và 2 huy chương đồng tại giải Vô địch cử tạ thanh thiếu niên và trẻ châu Á 2020; giành 10 huy chương vàng, 2 huy chương bạc và 2 huy chương đồng tại giải Vô địch cử tạ Cúp thế giới; giành được 1 huy chương đồng tại giải Cúp Thể dục dụng cụ thế giới; giành được 1 huy chương đồng tại giải Boxing vòng loại Olympic khu vực châu Á; giành 3 huy chương vàng, 3 huy chương bạc và 2 huy chương đồng tại giải Cúp bắn cung châu Á. Tính chung quý I/2020, đoàn thể thao Việt Nam đã có 5 suất chính tham dự Olympic Tokyo 2020 gồm các môn: Bắn cung, boxing, thể dục dụng cụ và bơi.
6. Tai nạn giao thông
Trong tháng (từ 15/2 đến 14/3), trên địa bàn cả nước đã xảy ra 1.101 vụ tai nạn giao thông, bao gồm 621 vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên và 480 vụ va chạm giao thông, làm 514 người chết, 315 người bị thương và 473 người bị thương nhẹ. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giao thông tháng Ba giảm 8,9% (số vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên tăng 0,3% và số vụ va chạm giao thông giảm 18,5%); số người chết giảm 6,4%; số người bị thương giảm 20,3% và số người bị thương nhẹ giảm 18%. Đáng lưu ý là trong tháng đã xảy ra một số vụ tai nạn giao thông nghiêm trọng: Vụ tai nạn xảy ra ngày 23/2 tại Bình Dương giữa 2 xe máy đã làm 1 người chết và 2 người bị thương; vụ tai nạn ô tô xảy ra ngày 27/2 tại Bà Rịa - Vũng Tàu làm 1 người chết và 6 người bị thương; vụ tai nạn xảy ra ngày 3/3 tại thành phố Hồ Chí Minh giữa xe tải và xe container làm 3 người chết; vụ tai nạn xảy ra ngày 4/3 tại Bạc Liêu giữa xe buýt và xe đạp làm 3 người chết ; vụ tai nạn xảy ra ngày 8/3 tại Hải Phòng giữa xe đầu kéo và xe máy làm 2 người chết; vụ tai nạn xảy ra ngày 8/3 tại Nghệ An giữa xe tải và xe máy làm 2 người chết.
Tình hình tai nạn giao thông trong 3 tháng đầu năm có nhiều cải thiện do hiệu quả của Nghị định số 100/2019/NĐ-CP ngày 30/12/2019 của Chính phủ về quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt. Trong quý I/2020, trên địa bàn cả nước xảy ra 3.469 vụ tai nạn giao thông, bao gồm 1.942 vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên và 1.527 vụ va chạm giao thông, làm 1.639 người chết, 1.004 người bị thương và 1.565 người bị thương nhẹ. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giao thông trong 3 tháng đầu năm 2020 giảm 13,9% (số vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên giảm 9,6%; số vụ va chạm giao thông giảm 18,9%); số người chết giảm 14%; số người bị thương giảm 17% và số người bị thương nhẹ giảm 19%. Bình quân 1 ngày trong 3 tháng đầu năm, trên địa bàn cả nước xảy ra 38 vụ tai nạn giao thông, gồm 21 vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên và 17 vụ va chạm giao thông, làm 18 người chết, 11 người bị thương và 17 người bị thương nhẹ.
7. Thiệt hại do thiên tai 
Thiệt hại do thiên tai trong tháng Ba chủ yếu do ảnh hưởng của gió mạnh trên biển, mưa đá, mưa lớn, giông lốc, xâm nhập mặn và sạt lở sụt lún đất làm 9 người chết và 17 người bị thương, gần 24,3 nghìn ha lúa và hơn 6 nghìn ha hoa màu bị hư hỏng; 18 ngôi nhà bị sập đổ, cuốn trôi và 7,3 nghìn ngôi nhà bị ngập, sạt lở và tốc mái. Theo báo cáo sơ bộ từ các địa phương, tổng giá trị thiệt hại về tài sản do thiên tai gây ra trong tháng là 758,8 tỷ đồng. Một số địa phương chịu thiệt hại nhiều do thiên tai như: Cà Mau 5 người chết, 1.245 ha lúa và hoa màu bị hư hỏng, 11 ngôi nhà bị sập đổ và hư hỏng, thiệt hại về tài sản ước tính 533 triệu đồng; Hà Giang 2 người chết và 10 người bị thương; Tiền Giang 4,2 nghìn ha lúa và 5,6 nghìn ha hoa màu bị hư hỏng, thiệt hại về tài sản ước tính 245,5 tỷ đồng; Bến Tre hơn 4,6 nghìn ha lúa và hoa màu bị hư hỏng, thiệt hại về tài sản ước tính 113,4 tỷ đồng. Tính chung 3 tháng đầu năm, thiên tai làm 9 người chết; 18 người bị thương; 39,3 nghìn ha lúa và gần 7 nghìn ha hoa màu bị hư hỏng; 24 ngôi nhà bị sập đổ, cuốn trôi; hơn 23 nghìn ngôi nhà bị hư hỏng. Tổng giá trị thiệt hại về tài sản do thiên tai gây ra trong quý I ước tính gần 934,4 tỷ đồng, gấp 9 lần so với cùng kỳ năm 2019.
8. Bảo vệ môi trường và phòng chống cháy nổ
Trong tháng Ba, cơ quan chức năng đã phát hiện 1.179 vụ vi phạm môi trường, trong đó xử lý 1.102 vụ với tổng số tiền phạt là 41,3 tỷ đồng. Tính chung 3 tháng đầu năm đã phát hiện 2.545 vụ vi phạm môi trường trên địa bàn cả nước, trong đó xử lý 2.246 vụ với tổng số tiền phạt 58,5 tỷ đồng.
Trong tháng (từ ngày 16/2 đến ngày 15/3), trên địa bàn cả nước xảy ra 279 vụ cháy, nổ, làm 10 người chết và 16 người bị thương, tài sản thiệt hại ước tính gần 97 tỷ đồng. Tính chung 3 tháng đầu năm (từ ngày 16/12/2019 đến ngày 15/3/2020), cả nước xảy ra 791 vụ cháy, nổ, làm 25 người chết và 61 người bị thương, tài sản thiệt hại ước tính là 197,4 tỷ đồng.
  Một số chỉ tiêu xã hội - môi trường

Khái quát lại, trong bối cảnh dịch Covid-19 bùng phát mạnh mẽ, diễn biến phức tạp trên toàn cầu, kinh tế thế giới suy giảm nhanh và ngày càng nghiêm trọng, bức tranh kinh tế - xã hội Việt Nam quý I/2020 duy trì được ổn định là nhờ sự chỉ đạo, điều hành kịp thời, quyết liệt của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và nỗ lực của các cấp, các ngành, địa phương, cộng đồng doanh nghiệp và nhân dân cả nước. Kinh tế quý I năm nay tuy chỉ đạt mức tăng trưởng 3,82%, thấp nhất trong 10 năm qua nhưng trong bối cảnh hiện nay, đây là mức tăng trưởng khá so với các nước trong khu vực và trên thế giới. Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chịu ảnh hưởng nặng nề của biến đổi khí hậu, hạn hán, xâm nhập mặn và dịch bệnh nhưng duy trì được mức tăng trưởng dương. Công nghiệp chế biến, chế tạo tuy không tăng cao nhưng tiếp tục giữ vai trò là động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế quý I. Cung cầu hàng hóa trong nước được bảo đảm, tiêu dùng và xuất khẩu tăng nhẹ. Tiến độ giải ngân vốn đầu tư công được cải thiện rõ rệt. Tuy nhiên, bước sang quý II, kinh tế - xã hội Việt Nam sẽ phải đối mặt với nhiều thách thức, nhất là nền kinh tế nước ta có độ mở lớn nên chịu tác động đan xen nhiều mặt bởi tình hình kinh tế quốc tế ngày càng phức tạp, khó lường. Dịch Covid-19 đang diễn biến rất nhanh, khó dự báo thời điểm đỉnh dịch và thời điểm kết thúc, có nguy cơ ảnh hưởng nặng nề đến tất cả các lĩnh vực kinh tế - xã hội. Doanh nghiệp đứng trước nguy cơ thiếu nguyên liệu sản xuất, thu hẹp quy mô và tạm dừng hoạt động. Các ngành thương mại, du lịch, vận tải và xuất nhập khẩu gặp nhiều khó khăn do chịu tác động trực tiếp của dịch bệnh. Áp lực kiểm soát lạm phát, tình trạng thất nghiệp, thiếu việc làm tăng cao sẽ ảnh hưởng đến an sinh xã hội. Do đó, kinh tế Việt Nam năm 2020 đối mặt với nhiều khó khăn, việc đạt mục tiêu tăng trưởng 6,8% là thách thức lớn, cần có sự chung sức, đồng lòng của Chính phủ, doanh nghiệp và người dân, sự hỗ trợ và chia sẻ gánh vác trách nhiệm giữa các thực thể trong nước trong giai đoạn khó khăn này. Trước mắt, cần thực hiện quyết liệt các giải pháp phòng, chống dịch Covid-19, không để dịch lây lan, ưu tiên cao nhất cho ngăn chặn và dập dịch sớm nhất có thể, bảo đảm an toàn sức khỏe cho người dân. Đồng thời, tập trung vào một số nội dung chủ yếu sau:
Một là, hỗ trợ cộng đồng doanh nghiệp, đặc biệt doanh nghiệp vừa và nhỏ và khu vực hộ kinh doanh cá thể bị ảnh hưởng nặng nề của dịch Covid-19 để tìm thị trường nhập khẩu nguyên, nhiên, vật liệu, phụ tùng, linh kiện thay thế, tháo gỡ khó khăn, duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh,; có chính sách đặc biệt hỗ trợ cho các ngành nông nghiệp, giao thông, du lịch; thực hiện chính sách thuế như miễn, dãn, khoanh nợ, giảm thuế xuất/nhập khẩu; trợ cấp việc làm và bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động. Đồng thời, vận động người dân ưu tiên dùng hàng trong nước, ủng hộ doanh nghiệp sản xuất, tiêu thụ sản phẩm trong giai đoạn khó khăn.
Hai là, tập trung xử lý các điểm nghẽn, nút thắt về đất đai, thủ tục hành chính, thể chế để đẩy nhanh giải ngân vốn đầu tư công, tháo gỡ khó khăn cho các dự án chậm giải ngân, đặc biệt là các dự án trọng điểm, quy mô lớn, có sức lan tỏa, nâng cao năng lực sản xuất của nền kinh tế như mở rộng Cảng hàng không quốc tế Tân Sơn Nhất, Nội Bài, xây dựng mới Cảng hàng không quốc tế Long Thành, Đường cao tốc Bắc - Nam...
Ba là, triển khai quyết liệt, đồng bộ các giải pháp phòng, chống dịch tả lợn châu Phi, không để phát sinh ổ dịch mới, khuyến khích các cơ sở, doanh nghiệp chăn nuôi lớn, có kỹ thuật, kinh nghiệm phòng chống dịch bệnh đầu tư tái đàn phục vụ nhu cầu tiêu dùng trong nước và giảm giá thịt lợn góp phần kiểm soát lạm phát. Tận dụng cơ hội từ Hiệp định thương mại tự do châu Âu - Việt Nam (EVFTA) thúc đẩy sản xuất, đặc biệt là các mặt hàng thủy sản, gắn sản xuất với chế biến và tiêu thụ. Khuyến khích đầu tư các vùng trồng cây ăn quả, cây công nghiệp lâu năm, trồng và chăm sóc theo quy trình kỹ thuật đem lại hiệu quả kinh tế cao, đảm bảo truy xuất nguồn gốc phục vụ nguồn cung nông sản xuất khẩu vào thị trường các nước châu Âu.
Bốn là, tăng khả năng đáp ứng nhu cầu sản xuất, tiêu dùng trong nước. Quan tâm khai thác, thúc đẩy thị trường trong nước phát triển, đáp ứng nội nhu của nền kinh tế; có chính sách đưa hàng hóa Việt Nam thay thế hàng hóa nhập khẩu từ nước ngoài. Nâng cao tính phù hợp và tiện ích của hệ thống bán lẻ, đặc biệt ở các vùng sâu, vùng xa. Thực hiện hiệu quả chương trình “Hàng Việt Nam chinh phục người Việt Nam”.
Năm là, điều hành chính sách tiền tệ, lãi suất, tỷ giá linh hoạt, phù hợp với diễn biến thị trường trong nước và quốc tế, phối hợp hài hòa với chính sách tài khóa và các chính sách vĩ mô khác nhằm kiểm soát lạm phát, hỗ trợ sản xuất kinh doanh và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Các tổ chức tín dụng đáp ứng đủ nhu cầu vốn phục vụ sản xuất, kinh doanh, đặc biệt là các ngành hàng có tính mùa vụ, gặp khó khăn trong tiêu thụ. Cần theo dõi sát diễn biến giá cả các mặt hàng trong và ngoài nước phục vụ hoạt động sản xuất và tiêu dùng để có các biện pháp điều hành hợp lý nhằm bình ổn thị trường.
Sáu là, theo dõi chặt chẽ tình hình thời tiết, chủ động phương án phòng chống thiên tai, cảnh báo mưa lũ, sạt lở, tác động của hạn hán, xâm nhập mặn nhằm hạn chế tối đa thiệt hại. Thực hiện có hiệu quả các chính sách an sinh xã hội, lao động, việc làm. Thực hiện tốt công tác trợ giúp đột xuất, bảo đảm người dân khi gặp rủi ro, thiên tai được hỗ trợ kịp thời, khắc phục khó khăn, ổn định cuộc sống. Tăng cường công tác bảo đảm trật tự an toàn giao thông, bảo vệ môi trường và phòng chống cháy nổ./.

4/1/2020 10:00 AMĐã ban hành/Shared Documents/2020-04/tải xuống.jpg
Vấn đề quyền tác giả trong hoạt động thư việnVấn đề quyền tác giả trong hoạt động thư viện

Trong lĩnh vực thư viện, nhiều hoạt động liên quan đến quyền tác giả (bao hàm cả quyền tác giả và quyền liên quan) như sao chụp tài liệu, số hoá tài liệu, mượn liên thư viện... Trong bài viết này chúng tôi muốn bàn về những quy định của pháp luật về sao chép tác phẩm trong hoạt động thư viện ở nước ta.

1. Về quy định sao chép tác phẩm trong thư viện

Mục đích cơ bản nhất của việc ban hành luật về sở hữu trí tuệ, trong đó có quyền tác giả là tác giả được hưởng các lợi ích từ các sản phẩm sáng tạo hoặc đầu tư của họ. Điều đó giúp họ có điều kiện để tiếp tục sáng tạo thêm những tác phẩm mới và các kiến thức, tác phẩm mới lại thúc đẩy phát triển kinh tế, khoa học, xã hội của đất nước và của toàn thế giới. Tuy vậy, trên thực tế không phải mọi người đều có đủ điều kiện để tự mình mua những sản phẩm trí tuệ có bản quyền.

Vì thế, một trong những nguyên tắc cơ bản của luật sở hữu trí tuệ nói chung, luật quyền tác giả nói riêng là nguyên tắc cân bằng lợi ích giữa tác giả, chủ sở hữu tác phẩm với lợi ích của xã hội. Lĩnh vực thể hiện rõ ràng nhất chính sách của Nhà nước trong việc thực hiện nguyên tắc này là lĩnh vực sao chép tác phẩm[1]. Cần khẳng định rằng quyền sao chép tác phẩm là một trong những quyền tài sản cơ bản và quan trọng nhất của tác giả, chủ sở hữu tác phẩm và quyền này được bảo hộ cả từ góc độ pháp luật quốc tế và quốc gia. Tại khoản 5 điều 1 của Nghị định số 85/2011/NĐ-CP đã khẳng định: "Quyền sao chép tác phẩm quy định tại điểm c khoản 1 điều 20 của Luật Sở hữu trí tuệ là một trong các quyền tài sản độc quyền thuộc quyền tác giả, do chủ sở hữu thực hiện hoặc cho phép người khác thực hiện việc tạo ra bản sao tác phẩm bằng bất kỳ phương tiện hay hình thức nào, bao gồm cả việc tạo ra bản sao dưới hình thức điện tử" [6].

Luật pháp quốc tế, luật của nhiều nước khác đều có những quy định tương tự. Để làm việc này, Luật Sở hữu trí tuệ, luật pháp về quyền tác giả của quốc tế và của nhiều nước đã tạo nên một số quy định thường được gọi là "fair use" - "dùng đẹp", "sử dụng đẹp", "sử dụng hợp lý", "nguyên tắc thứ năm", "hạn chế và ngoại lệ": quyền của mọi người sử dụng tài liệu có bản quyền không phải xin phép, không phải trả nhuận bút, thù lao trong một số trường hợp.

Dưới góc độ pháp luật Việt Nam, quyền sao chép tác phẩm được quy định tại Bộ luật Dân sự năm 1995 và tiếp tục được quy định trong Bộ luật Dân sự năm 2005, Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 và Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2009. Tại điều 760 Bộ luật Dân sự năm 2005 và điều 25 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, quy định một trong những trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép, không phải trả tiền nhuận bút, thù lao. Tuy nhiên, Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 đã có những chỉnh sửa bổ sung một số điều vào năm 2009, trong đó có điều 25. Tại điều 6 Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ, điều 25 có một số điểm sau liên quan đến sao chép tác phẩm trong hoạt động thư viện:

1. Các trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép, không phải trả tiền nhuận bút, thù lao bao gồm:

a) Tự sao chép một bản nhằm mục đích nghiên cứu khoa học, giảng dạy của cá nhân;

đ) Sao chép tác phẩm để lưu trữ trong thư viện với mục đích nghiên cứu;

i) Chuyển tác phẩm sang chữ nổi hoặc ngôn ngữ khác cho người khiếm thị.

2. Tổ chức, cá nhân sử dụng tác phẩm quy định tại khoản 1 Điều này không được làm ảnh hưởng đến việc khai thác bình thường tác phẩm, không gây phương hại đến các quyền của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả; phải thông tin về tên tác giả và nguồn gốc, xuất xứ của tác phẩm.

3. Các quy định tại điểm a và điểm đ khoản 1 Điều này không áp dụng đối với tác phẩm kiến trúc, tác phẩm tạo hình, chương trình máy tính [5].

Những quy định trên, theo chúng tôi, có thể gọi là quyền được sao chép tác phẩm, tài liệu. Quyền này là quyền của người dân. Tuy nhiên, trong Nghị định 100/2006/NĐ-CP "Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Dân sự, Luật Sở hữu trí tuệ về quyền tác giả và quyền liên quan tại Điều 25" (Điều 25 tương đương với Điều 761 của Luật Sở hữu trí tuệ về quyền tác giả và quyền liên quan của Bộ luật Dân sự 2005) lại quy định như sau:

1. Tự sao chép một bản quy định tại điểm a khoản 1 điều 25 của Luật Sở hữu trí tuệ áp dụng đối với các trường hợp nghiên cứu khoa học, giảng dạy của cá nhân không nhằm mục đích thương mại.

2. Sao chép tác phẩm để lưu trữ trong thư viện với mục đích nghiên cứu quy định tại điểm đ khoản 1 điều 25 của Luật Sở hữu trí tuệ là việc sao chép không quá một bản.

3. Thư viện không được sao chép và phân phối bản sao tác phẩm tới công chúng, kể cả bản sao kỹ thuật số.

Năm 2009, Luật Sửa đổi, bổ sung của Luật Sở hữu trí tuệ ra đời và năm 2011 Chính phủ ban hành Nghị định số 85/2011/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 100/2006/NĐ-CP ngày 21/9/2006 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Dân sự, Luật Sở hữu trí tuệ về quyền tác giả và quyền liên quan, quy định này vẫn không có gì thay đổi.

Trước hết, chúng tôi muốn bàn về quy định tại khoản 3 của Điều trên. Nếu theo quy định của khoản 3 này thì thư viện không được phép sao chụp tài liệu cho bạn đọc, người sử dụng, cũng như không được phổ biến tài liệu số và các dạng sao chép khác tới công chúng.

Cần khẳng định rằng quy định trên là trái với bản chất của thư viện, trái với thực tiễn, xu hướng phát triển hiện nay của các thư viện trên thế giới và ở Việt Nam.

Về bản chất của thư viện, như trong các văn bản của IFLA đều khẳng định thư viện có chức năng tạo nên sự tiếp cận không có rào cản của người dân tới thông tin. Theo tổ chức nghề nghiệp lớn nhất trong lĩnh vực thư viện thế giới, luận điểm trên là rất quan trọng để đạt tới tự do, bình đẳng, hiểu biết chung và hoà bình trên thế giới. Vì thế, IFLA luôn cho rằng: Tự do trí tuệ - là quyền của mỗi người trong việc hình thành những quan điểm (niềm tin) cá nhân và cả việc tự do trình bày chúng, là quyền tìm kiếm và thu nhận thông tin. Tự do trí tuệ là nền tảng của dân chủ, tự do trí tuệ tồn tại trong nền tảng của hoạt động thư viện. Việc đảm bảo sự tiếp cận tự do tới thông tin, không phụ thuộc vào các phương tiện truyền đạt chúng hoặc biên giới quốc gia, là trách nhiệm chủ yếu của nghề thư viện và thông tin. Các rào cản trên đường đi của dòng tin cần phải được loại bỏ, đặc biệt là những rào cản gây nên tình trạng bất bình đẳng, nghèo đói và tuyệt vọng. Trong các văn bản của IFLA như Tuyên bố về quyền tác giả trong môi trường điện tử, Tuyên bố về Internet... các tổ chức này đều đề nghị luật pháp về quyền tác giả của các nước không quá khắt khe với thư viện, cơ quan thông tin trong cung cấp tài liệu, thông tin đến người sử dụng, chẳng hạn người sử dụng thư viện cần được tạo khả năng đọc hay xem theo chế độ truy cập từ xa, với mục đích cá nhân, không phải trả tiền và thuận lợi đối với các tài liệu hiện bán trên thị trường tự do, được bảo vệ bởi quyền tác giả [2]. Những năm gần đây, IFLA đang tạo ra một hành động quốc tế để các tổ chức về quyền tác giả, đặc biệt là WIPO, đảm bảo những chức năng cơ bản của thư viện và các cơ quan lưu trữ tiếp tục được giữ lại trong các luật về bản quyền. Các cơ quan này cần có những quy chuẩn quốc tế về bản quyền với những giới hạn và ngoại lệ để thực hiện chức năng và nhiệm vụ của mình: cung cấp truy cập tri thức và bảo vệ di sản văn hoá và khoa học [10]. Và những cố gắng này của IFLA đã đạt được những kết quả bước đầu nhưng đáng khích lệ: Năm 2010, Uỷ ban Thường trực của Tổ chức Sở hữu Trí tuệ thế giới – WIPO (IFLA, 2013) đã đồng ý với những ngoại lệ dành cho các thư viện và trung tâm lưu trữ về vấn đề cung cấp bản sao tài liệu cho bạn đọc trong chia sẻ tại liệu. Đó là, các thư viện được quyền tạo ra và cung cấp một bản sao của tài liệu có bản quyền hoặc tài liệu được bảo hộ bởi các quyền liên quan cho bạn đọc của thư viện hoặc thư viện khác theo yêu cầu của bạn đọc cho mục đích giáo dục, nghiên cứu, sử dụng cá nhân theo quy định sử dụng hợp lý của luật mỗi quốc gia [3].

Đối với thực tiễn, để thực hiện chức năng của mình, hàng nghìn năm qua, thư viện trên thế giới và cả ở nước ta, luôn áp dụng các kỹ thuật mới, trong đó có máy photocopy để cung cấp sản phẩm thông tin – thư viện cho bạn đọc. Dịch vụ photocopy mang lại nhiều lợi ích cho bạn đọc, thư viện. Đối với bạn đọc, đây là kênh có thể cung cấp cho họ những tài liệu cần thiết nhất (nhiều khi chỉ chụp một vài trang trong một cuốn sách, một vài bài báo trong một số tạp chí để không phải mượn cả cuốn sách hay cuốn/ tập tạp chí về nhà. Mặt khác, với bản sao đó, người đọc có thể đọc bất cứ lúc nào, ở đâu khi cần.

Thực tế, thư viện các nước trên thế giới đều được trang bị các máy photocopy để sao chụp tài liệu cho bạn đọc hoặc để bạn đọc tự sao chụp tài liệu. Các thư viện của Anh vẫn tiến hành sao chụp tài liệu nếu các tài liệu đó thuộc ngoại lệ được Luật bản quyền quy định và nằm trong phạm vi được phép sao chép, còn mục đích sử dụng của người yêu cầu sao chép là phi thương mại, phục vụ việc học tập, nghiên cứu của bản thân. Ngoài ra, trong một số trường hợp khi không được áp dụng ngoại lệ bản quyền theo Luật, các thư viện Anh có những thương lượng riêng với chủ sở hữu quyền tác giả để đạt được thoả thuận hoặc giấy phép riêng cho phép sao chép từng phần nhất định của tác phẩm, đổi lại thư viện phải trả cho chủ sở hữu tác quyền một khoản tiền bản quyền do việc sao chép tác phẩm của họ. Điều khoản và điều kiện của việc cấp phép này thường sẽ được niêm yết ở vị trí gần thiết bị sao chép (ví dụ, giấy phép CLA cho trường học cho phép sao chép một chương của một cuốn sách hoặc một bài báo từ 01 tờ báo/ tạp chí). ở Ôxtrâylia, người sử dụng tự chịu trách nhiệm về hành vi sao chép tài liệu không vi phạm bản quyền khi yêu cầu sao chép tài liệu của thư viện mà không cần sự cho phép nào thêm của thư viện. Nói cách khác, trước khi sao chép tài liệu, người sử dụng cần chứng minh với người làm thư viện là đã được phép sao chép của tác giả hoặc tác phẩm đó thuộc ngoại lệ bản quyền và không cần xin phép [1]. Pháp luật Phần Lan có những quy định cho phép bạn đọc của thư viện được quyền tự do sao chép tài liệu. Theo Điều 12 Luật Bản quyền của nước này, bất kỳ người nào cũng có thể sao chụp tại thư viện với thiết bị của thư viện một vài bản để sử dụng riêng cho cá nhân (ngoại lệ là chương trình tin học). Vì không có hạn chế nào được đặt ra đối với kỹ thuật nhân bản, các bản sao số hoá do bản thân bạn đọc thực hiện hoặc sao tài liệu bằng máy quét vi phim của thư viện đều có thể được [10].

Về xu hướng phát triển, thư viện trên thế giới những năm gần đây và từ nay về sau là phát triển thư viện số mà bộ phận cơ bản là bộ sưu tập các tài liệu số và cung cấp tài liệu số đó cho người dân sử dụng. Có thể nêu lên 3 điển hình về phát triển bộ sưu tập số sau:

Dự án Ký ức nước Mỹ. Thư viện Quốc hội Mỹ bắt đầu thực hiện sáng kiến Ký ức nước Mỹ từ năm 1990 với mục tiêu số hoá những tài liệu có giá trị nhất được các thế hệ người Mỹ sáng tạo nên, khoảng 5 triệu tài liệu. Từ số tiền ban đầu là 13 triệu USD quyên góp được, sau đó được Quốc hội cấp 15 triệu USD, đồng thời nhận được tài trợ của các doanh nghiệp, các nhà hảo tâm mà kinh phí dành cho dự án này đã tăng lên 45 triệu USD. Từ năm 1996, Thư viện Quốc hội tài trợ cho cuộc thi kéo dài trong 3 năm, với giải thưởng trị giá 2 triệu USD từ Tổng Công ty Ameritech, nhằm khuyến khích cộng đồng, nhà nghiên cứu, thư viện đại học, bảo tàng, tổ chức lịch sử - xã hội và các cơ quan lưu trữ (trừ các tổ chức liên bang) số hoá bộ sưu tập lịch sử liên quan đến nước Mỹ và đưa lên trang web Ký ức nước Mỹ của Thư viện Quốc hội. Cuộc thi đã tạo ra 23 bộ sưu tập số bổ sung cho Ký ức nước Mỹ, góp phần nâng tổng số lên hơn 100 bộ sưu tập chuyên đề. Ký ức nước Mỹ cung cấp truy cập mở và miễn phí trên Internet tới các nguồn tài liệu dưới dạng: văn nói và văn viết, âm thanh, hình ảnh tĩnh, hình ảnh động, bản in, bản đồ và bản nhạc có liên quan đến nước Mỹ và người Mỹ. Đây là hồ sơ số về lịch sử và sự sáng tạo của nước Mỹ, được đánh giá là có đóng góp to lớn cho giáo dục và học tập suốt đời của người dân Hoa Kỳ.

Dự án khu vực châu Âu - Europeana. Đây là một dự án của Uỷ ban châu âu, được hình thành năm 2008. Dự án Europeana được xây dựng nhằm tạo điều kiện cho mọi người có thể truy cập nguồn tài nguyên số được lưu trữ tại các thư viện, bảo tàng và cơ quan lưu trữ tại châu âu, cho người sử dụng khám phá di sản văn hoá và khoa học của châu âu từ thời tiền sử cho đến hiện đại. Europeana.eu là một cổng thông tin, thư viện trên Internet, hoạt động như là một giao diện cho hàng triệu sách, tranh, phim ảnh, các đối tượng bảo tàng và các hồ sơ lưu trữ đã được số hoá trên khắp châu âu. Theo dự định, Thư viện số Europeana sẽ có khoảng 10 triệu tài liệu vào năm 2010. Hiện nay, hơn 2.000 tổ chức trên khắp châu Âu, trong đó có thư viện quốc gia, các bảo tàng và cơ quan Lưu trữ tại châu âu, đã góp tài nguyên của mình vào Europeana. Số lượng tài liệu tập hợp được vô cùng lớn, trên 15 triệu đơn vị gồm: Ảnh, tranh, bản vẽ, bản đồ, hình ảnh của các hiện vật trong bảo tàng; sách, báo, thư tín, nhật ký và tài liệu lưu trữ; âm nhạc và đoạn ghi âm từ băng, đĩa, chương trình radio; phim, chương trình truyền hình… Các đối tượng kỹ thuật số mà người dùng có thể tìm thấy trong Europeana không được lưu trữ trên một máy tính trung tâm, mà lưu trữ trên mạng của các tổ chức văn hoá, các thành viên.

Dự án Thư viện số thế giới. Tháng 6 năm 2005, James Billington - Giám đốc Thư viện Quốc hội Mỹ đề xuất thành lập World Digital Library (WDL), đến tháng 4 năm 2009, WDL mới chính thức giới thiệu ra toàn thế giới. Dự án này nhận được sự đóng góp, hỗ trợ của các cơ quan, tổ chức, quốc gia trên thế giới, đặc biệt của Tổ chức Văn hoá, Khoa học và Giáo dục thuộc Liên hiệp quốc (UNESCO). Dự án xây dựng Thư viện số thế giới sẽ số hoá những tài liệu quý hiếm và độc nhất từ những thư viện và những viện hàn lâm trên thế giới nhằm tạo cho chúng có thể được truy cập miễn phí trên Internet. Hiện Dự án đã nhận được sự hợp tác của các cá nhân và thư viện trên hơn 40 quốc gia. Các công cụ định vị trên trang web và mô tả nội dung được cung cấp bằng các ngôn ngữ Arập, Trung Quốc, Anh, Pháp, Bồ Đào Nha, Nga và Tây Ban Nha.

Ở nước ta từ hàng chục năm trở lại đây, nhiều tổ chức, cơ quan, trong đó có các thư viện, cơ quan thông tin đã tạo nên một lượng tài liệu số khá lớn. Chẳng hạn, Thư viện Quốc gia Việt Nam đã xây dựng Bộ sưu tập tài liệu số hoá toàn văn với hơn 5 triệu trang gồm các luận án tiến sỹ của công dân Việt Nam, các tài liệu tiếng Anh về Việt Nam, tài liệu tiếng Pháp thời Pháp thuộc, sách Hán - Nôm. Thư viện Khoa học Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia, mỗi đơn vị cũng đã số hoá hàng triệu trang tài liệu quý hiếm... Bên cạnh đó, hiện nay Nhà nước ta đang có chủ trương đẩy mạnh phát triển nội dung số. Theo Quyết định số 56/2007/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, Chương trình phát triển công nghiệp nội dung số  Việt Nam đến năm 2010 đã đưa ra giải pháp: Xây dựng và đẩy mạnh triển khai các chương trình, dự án phát triển nội dung và cung cấp thông tin trên mạng, tạo điều kiện truy cập thông tin từ xa, thu hẹp khoảng cách số giữa nông thôn và thành thị... Từ đó, Chính phủ đã đề ra chủ trương:

- Ưu tiên bố trí kinh phí từ ngân sách nhà nước trung ương, ngân sách nhà nước địa phương và huy động tối đa các nguồn lực từ các cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp để đầu tư nghiên cứu sản xuất và phát triển các sản phẩm, dịch vụ nội dung trên mạng Internet, trên mạng di động, đặc biệt là các sản phẩm/ dịch vụ đa phương tiện, nhằm tăng cường cung cấp thông tin cho xã hội và các dịch vụ giải trí số;

- Đầu tư cho Thư viện Quốc gia và một số thư viện lớn ở các thành phố trực thuộc Trung ương và các trường đại học xây dựng giải pháp thư viện số trực tuyến, số hoá sách, báo, tài liệu để hình thành hệ thống thư viện số Việt Nam;

- Đầu tư nghiên cứu, phát triển các tài liệu, học liệu phục vụ giáo dục từ xa, học tập điện tử (E-learning), đặc biệt là các bài giảng, bài tập, các từ điển điện tử; các thí nghiệm ảo về vật lý, hoá học, sinh học [8].

Như vậy, xây dựng các bộ sưu tập số/ thư viện số và đưa lên mạng Internet để người dân không chỉ nước mình, khu vực mình mà cả thế giới sử dụng là xu hướng tất yếu trên thế giới và ở Việt Nam.

2. Những quy định về sao chép tác phẩm cho nhu cầu của thư viện

Như trên đã nói, việc quy định "Sao chép tác phẩm để lưu trữ trong thư viện... là việc sao chép không quá một bản" là quy định cần thiết giúp thư viện bảo quản lâu dài tài liệu như là di sản văn hoá của dân tộc, nhưng chưa giúp nâng cao chất lượng phục vụ bạn đọc. Nhưng mặt khác cũng cần nhấn mạnh rằng nếu trong thư viện có bản gốc và bản sao mà theo tinh thần của khoản 3 điều 25 Nghị định 100/2006-NĐ-CP, bản sao không được mang ra phục vụ bạn đọc thì giá trị lưu trữ của tài liệu sao chụp cũng bị hạn chế vì đó không phải bản gốc. Đồng thời, nếu bản sao không được thực hiện trên giấy tốt, mực tốt thì chỉ sau vài năm tài liệu sao chụp sẽ ố vàng, phai mực thì giá trị lưu trữ của tài liệu sao chụp càng kém và nếu để lưu trữ trong vài chục năm, chắc chắn bản sao chụp đó chẳng còn mấy giá trị. Còn bản sao điện tử cũng luôn gặp những bất cập trong sự lỗi thời của phần mềm, sự lạc hậu nhanh chóng của phần cứng… nên nếu có một bản sao thì cũng rất khó khăn trong bảo tồn vì không được sao lưu, cập nhật các định dạng mới...

Mặt khác, có thể thấy Nghị định 100/2006-NĐ-CP đã hạn chế rất nhiều quy định của Luật Sở hữu trí tuệ. Khoản đ điều 25 của Luật Sở hữu trí tuệ quy định sao chép tác phẩm để lưu trữ trong thư viện với mục đích nghiên cứu. Nói "sao chép để nghiên cứu", theo cách hiểu của chúng tôi là có ý nói tới sao chép để phục vụ bạn đọc, để bạn đọc, người dân sử dụng, "nghiên cứu" tài liệu đó. Mà chính ở đây, giá trị của bản sao mới phát huy vì không làm cho bản gốc bị hư hỏng trong quá trình phục vụ bạn đọc.

Vì thế, theo chúng tôi cần phải sửa những quy định về sao chép tài liệu trong thư viện theo hướng:

- Thư viện được quyền cung cấp bản sao tác phẩm tới bạn đọc theo quy định của pháp luật.

- Thư viện được sao chép nhiều nhất là 3 bản cho một tên tài liệu để lưu trữ trong thư viện và phục vụ bạn đọc. Luật Quyền tác giả của các nước như Hoa Kỳ, Ôxtrâylia, Canada hay Thái Lan cho phép sao chép 2 hoặc 3 bản cho mục đích lưu trữ, bảo quản [9]. Việt Nam có thể quy định: đối với tác phẩm chỉ có 1 – 2 bản trong kho, tài liệu quý, hiếm, tài liệu từ nhiều năm không được tái bản, tài liệu bị mất mát, hư hỏng khi phục vụ bạn đọc... nếu cần thiết thư viện có thể sao chép không quá 3 bản/ tài liệu. Quy định như vậy có tính mềm dẻo, cuốn sách nào nhiều bạn đọc yêu cầu có thể chụp 3 bản; tác phẩm nào ít, 1 - 2 bản, tác phẩm khác, dù ít bản cũng có thể không cần sao chụp bản nào để lưu trữ, phục vụ.

- Các bản sao tài liệu điện tử/ tài liệu số được cung cấp cho bạn đọc ở dạng PDF trên mạng LAN của thư viện.

- Các bản sao tài liệu điện tử/ tài liệu số được cung cấp trên mạng Internet theo quy định của pháp luật về quyền tác giả.

Như vậy, những quy định của pháp luật về sao chép tác phẩm của nước ta đã hạn chế rất nhiều chức năng xã hội của thư viện, đã đi sau nhiều nước trên thế giới và đã lạc hậu so với chủ trương phát triển hiện nay của Nhà nước ta. Vì thế, các quy định này cần phải được sửa đổi, bổ sung sớm.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Bùi Thị Thuỷ. Thực hiện quyền tác giả và quyền liên quan trong các loại hình thư viện ở Anh và Ôxtrâylia: chuyên đề cho đề tài nghiên cứu cấp bộ "Thực thi quyền tác giả và quyền liên quan trong hoạt động thông tin – thư viện ở Việt Nam".

2. IFLA. Tuyên bố về vấn đề quyền tác giả trong môi trường điện tử / Lê Văn Viết dịch từ tiếng Nga // Tập san Thư viện. - 1998. - Số 4. - Tr. 63–65.

3. Nguyễn Thị Kim Tri. Vấn đề bản quyền trong chia sẻ tài liệu thư viện// Kỷ yếu hội thảo "Thực thi quyền tác giả và quyền liên quan trong hoạt động thư viện - thông tin. - H.: TVQGVN, 2014. - Tr. 119.

4. Trần Thị Hoàn Anh. Vấn đề xây dựng và khai thác bộ sưu tập số Quốc gia - những bất cập và giải pháp// Kỷ yếu hội thảo "Vai trò của Thư viện Quốcgia Việt Nam và các cơ quan thông tin - thư viện trong việc tạo lập Bộ sưu tập tài nguyên số quốc gia của Việt Nam".

5. Việt Nam (CHXHCN). Quốc hội (Khoá 11). Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ: điều 14. Http://noip.gov.vn. Truy cập ngày 13/6/2011.

6. Việt Nam (CHXHCN). Chính phủ. Nghị định số 85/2011/NĐ-CP ngày 20/9/2011 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 100/2006/NĐ-CP ngày 21/9/2006 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Dân sự, Luật Sở hữu trí tuệ về quyền tác giả và quyền liên quan.

7. Việt Nam (CHXHCN). Chính phủ. Nghị định số 100/2006/NĐ-CP ngày 21/9/2006 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Dân sự, Luật Sở hữu trí tuệ về quyền tác giả và quyền liên quan. http:// moj.gov.vn/vbpq/Lists/.../View_Detail.aspx? ItemID=15307.

8. Việt Nam (CHXHCN). Chính phủ. Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 56/2007/QĐ-TTg ngày 03/5/2007 phê duyệt Chương trình phát triển công nghệ nội dung số tại Việt Nam đến năm 2010. http:// mic.gov.vn/vbqppl/Lists/Vn%20bn%20QPPL/.../56-2007-QÐ-TTg.doc. – Tr. 2-3.

9. Vũ Minh Huệ. Bổ sung, hoàn thiện một số quy định về quyền tác giả, quyền liên quan và vấn đề sử dụng, sao chép hợp lý tác phẩm// Kỷ yếu hội thảo "Thực thi quyền tác giả và quyền liên quan trong hoạt động thư viện - thông tin. - H.: TVQGVN, 2014. – Tr. 49.

10. Vũ Văn Sơn. Việc thực thi quyền tác giả, quyền liên quan trên thế giới(lưu ý đến thư viện các nước phát triển) // Kỷ yếu hội thảo "Thực thi quyền tác giả và quyền liên quan trong hoạt động thư viện - thông tin. - H.: TVQGVN, 2014. - Tr. 13.

11. American Memory from the Library of Congress. http://cweb2.loc.gov/ammem/amabout.html.

12. American Memory//en.wikipedia.org/wiki/American_Memory.

13. Europeana//en.wikipedia.org/wiki/Europeana

14. Purday, Jon. Think culture : Europeana.eu from concept to construction Http://emeraldinsight.com/doi/abs/10.1108/02640470911004039.

15. Van Oudenaren, John. The World Digital Library. Http://unesco.org/.../VC_Van_Oudenaren_26_A_1620.pd.

16. World Digital Library (Library of Congress)//www.loc.gov/wdl.

___________________________________

[1]Theo quy định tại khoản 10 điều 1 Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ thì Sao chép là việc tạo ra một hoặc nhiều bản sao của tác phẩm hoặ ghi âm, ghi hình bằng bất kỳ phương tiện hay hình thức nào, bao gồm cả việc tạo bản sao dưới hình thức điện tử.

_______________

TS. Lê Văn Viết

​ 

4/2/2020 9:00 AMĐã ban hành/Shared Documents/2020-04/dang-ky-quyen-tac-gia-cho-ca-nhan-phap-nhan-nuoc-ngoai-1-1.jpg
Để hướng tới sự chuẩn hoá trong công tác định từ khoá và định chủ đề tài liệu ở Việt NamĐể hướng tới sự chuẩn hoá trong công tác định từ khoá và định chủ đề tài liệu ở Việt Nam
Để giúp cho người đọc và người dùng tin có thể tra cứu được tài liệu một cách dễ dàng, thuận lợi các thư viện trên thế giới nói chung và các thư viện ở Việt Nam nói riêng đã luôn dành sự quan tâm đặc biệt cho các khâu xử lý thông tin, xử lý tài liệu. Trong những năm gần đây, cộng đồng thư viện Việt Nam đã luôn quan tâm đến việc chuẩn hoá công tác xử lý tài liệu và đã bắt đầu triển khai một số chuẩn nghiệp vụ như: MARC21 cho biên mục đọc máy, AACR2 cho mô tả tài liệu, DDC cho phân loại tài liệu… Trên thực tế, bên cạnh những khâu xử lý đã bước đầu được chuẩn hoá trên, cũng còn một số khâu xử lý còn bỏ ngỏ, việc xử lý còn phụ thuộc nhiều vào quy định của từng cơ quan. Trong số đó, có hai khâu cần được quan tâm là định từ khoá và định chủ đề tài liệu.
Trước khi thực hiện bài viết này, chúng tôi đã tiến hành khảo sát và điều tra 52 thư viện. Qua kết quả điều tra, chúng tôi được biết có 44 thư viện (chiếm 84,6%) có áp dụng định từ khoá và 23 thư viện (44,2%) áp dụng định chủ đề. Trong số đó, có tới 28 thư viện tiến hành định từ khoá tự do, hoặc theo những quy định cụ thể của nội bộ thư viện đó. Việc định chủ đề được tiến hành hoàn toàn tự do hoặc có thư viện dựa vào bảng tra cứu chủ đề của bảng phân loại mà thư viện áp dụng. Từ thực tiễn đó, chúng tôi thấy có một số vấn đề cần xem xét.
Nếu xem xét trên bình diện lịch sử, công tác định chủ đề tài liệu đã bắt đầu được triển khai từ thời kỳ thuộc Pháp. Ở các thư viện lớn như: Thư viện Trung ương  Đông Dương (nay là Thư viện Quốc gia Việt Nam), Thư viện trường Viễn Đông Bác Cổ, Thư viện trường Đại học Y Dược, mục lục chủ đề được tổ chức cùng với mục lục tác giả. Mục lục chủ đề là một loại mục lục cơ bản phản ánh nội dung vốn tài liệu trong những năm đầu thế kỷ XX. Ở trong các thư viện lớn, các đề mục chủ đề đã được xây dựng bằng tiếng Pháp do đối tượng sử dụng thư viện vào thời bấy giờ chủ yếu là người Pháp và các công chức phục vụ cho Pháp.
Từ năm 1954 đến năm 1960, sau khi tiếp quản Hà Nội, các thư viện lớn ở Hà Nội tiếp tục tổ chức mục lục chủ đề với tư cách là ngôn ngữ tìm tin cơ bản và duy nhất theo nội dung. Một hệ thống các đề mục chủ đề bằng tiếng Việt đã được xây dựng và sử dụng trong các thư viện lớn. Song việc làm này còn tuỳ tiện, không có thư viện nào biên soạn thành bảng đề mục chủ đề hoặc thậm chí dưới dạng hộp phiếu chủ đề công vụ. Tại Thư viện Quốc gia Việt Nam (TVQG), mục lục chủ đề được tổ chức đến năm 1960, Viện Thông tin Khoa học Xã hội, mục lục chủ đề chỉ tồn tại đến năm 1958. Từ những năm đầu của thập kỷ 60, một số thư viện lớn ở miền Bắc không tiến hành định chủ đề và xây dựng mục lục chủ đề nữa. Lúc bấy giờ, nhiều nhà thư viện của Việt Nam chịu ảnh hưởng quan điểm của một số nhà thư viện Liên Xô cho rằng mục lục phân loại là mục lục duy nhất phản ánh nội dung kho sách một cách khoa học. Một số thư viện lớn như TVQG, Thư viện Khoa học Kỹ thuật Trung ương, Thư viện Khoa học Xã hội chỉ tổ chức mục lục phân loại và không tổ chức mục lục chủ đề nữa. Nhưng trên thực tế, để giúp cho người đọc tra cứu được dễ dàng, bản thân mục lục phân loại không tồn tại được độc lập. Thiếu ô tra chủ đề chữ cái “Sách hướng dẫn trực tiếp để tìm một cách nhanh chóng trong mục lục phân loại các tài liệu mà người đọc quan tâm”, (1) mục lục phân loại sẽ khó phát huy hết tác dụng. Vì vậy, song song với việc tổ chức mục lục phân loại các thư viện còn tổ chức ô tra chủ đề chữ cái. Tuy nhiên, trong thực tiễn hoạt động thư viện ở Việt Nam đã hình thành hai khuynh hướng: Nếu như ở các thư viện lớn, các thư viện tỉnh và thành phố có xu thế chú trọng việc tổ chức mục lục phân loại thì ở các thư viện chuyên ngành, mục lục chủ đề vẫn tiếp tục được xây dựng làm loại mục lục chính. Bên cạnh đó, rất nhiều thư viện tổ chức các hộp phiếu chuyên đề. Trong hộp phiếu chuyên đề, tư liệu được phản ánh theo các chủ đề. Nhưng hộp phiếu chuyên đề không phản ánh toàn bộ nội dung vốn tài liệu của thư viện mà chỉ tập trung vào một số vấn đề được người đọc tại thư viện quan tâm.
Đối với các thư viện chuyên ngành do tính chất đặc thù và mục đích phục vụ cho các cán bộ nghiên cứu thuộc các ngành chuyên môn khác nhau, việc sử dụng ngôn ngữ tìm tin theo chủ đề cũng không hoàn toàn thống nhất. Có một số thư viện tự biên soạn bảng danh mục chủ đề cho thư viện mình, ví dụ: Thư viện Trường đại học Y, Thư viện Trường đại học Dược (trước đây). Có một số thư viện khác sử dụng các bảng đề mục chủ đề của nước ngoài và dùng luôn thuật ngữ bằng các tiếng nước ngoài đó mà không cần phải chuyển dịch sang tiếng Việt. Ví dụ: Thư viện Y học Trung ương sử dụng bảng đề mục chủ đề Y học (Medical Subject Headings - viết tắt là Me.S.H.) của thư viện Y học Quốc gia Mỹ biên soạn; Trung tâm Thông tin Bộ Nông nghiệp và Công nghiệp thực phẩm đang sử dụng nguyên bản bảng danh mục chủ đề của hệ thống Thông tin Quốc tế về khoa học và kỹ thuật nông nghiệp của tổ chức FAO; Thư viện Viện Triết học và một số viện nghiên cứu, thư viện trường đại học định chủ đề tự do…
Vào những năm 1990, cùng với xu hướng tin học hoá thư viện, công tác định chủ đề bắt đầu được quan tâm trở lại và công tác định từ khoá được triển khai rộng rãi trong các thư viện và cơ quan thông tin ở Việt Nam. Thời gian đầu các thư viện tiến hành định từ khoá tự do. Chất lượng của các từ khoá chưa thật đảm bảo và hiện tượng nhiễu tin còn phổ biến gây không ít khó khăn cho người tra tìm tài liệu. Trước thực tế đó, yêu cầu kiểm soát về mặt từ vựng đã được đặt ra. Một số bộ từ khoá quy ước và từ điển từ khoá đã được biên soạn, tiêu biểu là: Bộ Từ khoá quy ước của TVQG (đến năm 2005 được bổ sung, biên tập lại và đổi tên là Bộ từ khoá); Từ điển Từ khoá Khoa học và Công nghệ của Trung tâm Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia và Bộ từ khoá Khoa học Xã hội và Nhân văn của Viện Thông tin Khoa học Xã hội… Sau đây, chúng tôi xin điểm qua một vài nét khái lược về các bộ từ khoá đó.
Thứ nhất là Bộ Từ khoá của TVQG. Bộ Từ khoá này đã được biên soạn và xuất bản lần đầu năm 1997 với tên gọi Bộ Từ khoá quy ước trên cơ sở vốn từ khoá tự do của CSDL SACH (được nhập từ năm 1975-1991) của TVQG. Đây là bộ từ khoá quy ước đầu tiên được xây dựng tại TVQG. Bộ từ khoá ban đầu có khoảng 8000 từ. Đến năm 2005, Bộ Từ khoá đã được chỉnh lý bổ sung trên cơ sở chọn lọc từ 43.000 từ khoá đã được sử dụng trong các cơ sở dữ liệu của TVQG. Diện đề tài bao quát vốn từ vựng của Bộ từ khoá là đề tài tổng hợp, phản ánh vốn tài liệu đa dạng của TVQG.
Thứ hai là Từ điển Từ khoá Khoa học và Công nghệ của Trung tâm Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia. Từ điển Từ khoá Khoa học và Công nghệ được biên soạn trên cơ sở Bộ Từ khoá đa ngành Khoa học Tự nhiên và Công nghệ do Trung tâm biên soạn năm 1997. Sau một thời gian sử dụng tại một số các thư viện và cơ quan thông tin, năm 2001, Bộ từ khóa được chỉnh lý và xuất bản dưới dạng Từ điển Từ khoá. Diện đề tài bao quát của Từ điển Từ khoá là về lĩnh vực khoa học tự nhiên và khoa học công nghệ.
Thứ ba là Bộ Từ khoá Khoa học Xã hội và Nhân văn do Viện Thông tin Khoa học Xã hội biên soạn và hoàn tất vào năm 2005. Đây là một bộ từ khoá đa ngành, tập hợp khoảng 40.000 thuật ngữ thuộc các lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn như: Triết học, tâm lý học, xã hội học, các khoa học kinh tế, lịch sử, khảo cổ học, nghiên cứu văn hoá, dân tộc học, ngôn ngữ học, nghiên cứu văn học... Vốn từ khoá trong bộ từ khoá này được lựa chọn từ các từ khoá được sử dụng trong các cơ sở dữ liệu của Viện Thông tin Khoa học Xã hội và các thư viện nghiên cứu chuyên ngành thuộc Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia trong nhiều năm, tính đến thời điểm tháng 6 năm 2002.
Trong công tác định chủ đề, cũng có một số thư viện đã tiến hành những việc làm thiết thực để hướng tới xây dựng một bảng đề mục chủ đề có khả năng đưa ra áp dụng rộng rãi. TVQG đã cho trích dịch bảng danh mục chủ đề của Thư viện Quốc hội Mỹ. Bảng dự thảo các đề mục chủ đề gồm trên 5000 khái niệm, thuật ngữ bước đầu được coi là tài liệu tham khảo trong công tác định chủ đề. Tuy nhiên, do điều kiện có hạn, TVQG mới chỉ tiến hành dịch tên của chủ đề chứ chưa dịch đầy đủ các tham chiếu và phụ đề cho các chủ đề. Bên cạnh bảng đề mục chủ đề dự thảo của TVQG, Câu lạc bộ thư viện với sự hỗ trợ của Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh cũng đã đã tiến hành biên soạn cuốn Chọn tiêu đề đề mục cho thư viện.
Tìm hiểu, khảo cứu các bộ từ khoá và bảng đề mục chủ đề của Việt Nam hiện hành, chúng ta sẽ thấy có một số điểm đáng chú ý sau:
Thứ nhất: Các quy định về chính tả được áp dụng trong các bộ từ khoá và đề mục chủ đề chưa được thống nhất. Vấn đề thể hiện tên người, tên địa danh vẫn còn tồn tại nhiều điểm chưa nhất quán. Từ điển Từ khoá Khoa học và Công nghệ có xu hướng dùng chữ y trong khi Bộ từ khoá của TVQG có xu hướng dùng chữ i đối với các thuật ngữ có tận cùng bằng chữ i như: qui tắc, kĩ thuật, qui trình,…Tên người, tên địa danh của nước ngoài có nơi áp dụng phiên tự, có nơi áp dụng phiên âm…
Thứ hai: Quy định về cách thể hiện các tham chiếu giữa các thư viện và cơ quan thông tin cũng chưa hoàn toàn thống nhất.
Ví dụ: Trong Bộ Từ khoá của TVQG, quan hệ tương đương (quan hệ đồng nghĩa) giữa các thuật ngữ được thể hiện và kiểm soát bởi hai tham chiếu xem và dùng cho (DC). Tham chiếu “xem” để chỉ dẫn từ không quy ước đến từ quy ước và đặt trước từ được ưu tiên sử dụng. Ký hiệu tham chiếu “DC” (dùng cho) được đặt sau từ được ưu tiên sử dụng và đặt trước từ không ưu tiên là từ đồng nghĩa với từ ưu tiên.
Có thể lấy một ví dụ cụ thể là:
Đậu nành
Xem
Đậu tương
Đỗ tương
Xem
Đậu tương
Đậu tương
DC
Đậu nành
Đỗ tương (3)
Trong khi đó, trong Từ điển Từ khoá Khoa học và Công nghệ và Bộ Từ khoá Khoa học Xã hội và Nhân văn sử dụng 2 tham chiếu: Dùng cho (DC) và Sử dụng (SD).
Ví dụ:   Đóng  bao
SD  Đóng gói
Đóng gói                          
DC  Gói
Bao gói
Đóng kiện (5)
Hay: Bách khoa toàn thư
SD: Bách khoa thư
Bách khoa thư
DC: Bách khoa toàn thư...(4)
Trên thực tế, đối với người sử dụng, tham chiếu xem hay sử dụng cùng có mục đích chỉ dẫn người làm công tác định từ khoá lựa chọn các thuật ngữ sau tham chiếu để mô tả cho khái niệm khi xử lý tài liệu. Tuy nhiên, nếu có sự thống nhất về cách quy ước, các bộ từ khoá có thể dễ dàng tích hợp để sử dụng chung một cách rộng rãi hơn.
Thứ ba, trong các bảng đề mục chủ đề và bộ từ khoá của Việt Nam hiện nay chủ yếu mới chỉ thiết lập các tham chiếu thể hiện mối quan hệ ngữ nghĩa tương đương và quan hệ liên đới chứ chưa thiết lập được các tham chiếu thể hiện mối quan hệ thứ bậc (bao gồm từ rộng (TR), từ hẹp (TH) và Từ đỉnh (TĐ) như đối với từ điển từ chuẩn hay các bảng đề mục chủ đề chuẩn của một số nước ngoài và tổ chức quốc tế).
Từ thực tiễn công tác xử lý tài liệu theo từ khoá và chủ đề để có thể khẳng định: Định từ khoá và định chủ đề là các khâu xử lý đang được áp dụng rộng rãi ở Việt Nam hiện nay. Trong tra cứu tìm tin, ngôn ngữ tìm tin theo chủ đề và từ khoá đã trở nên thông dụng và quen thuộc với người đọc và người dùng tin. Mặc dù đã có sự hình thành và áp dụng rộng rãi trong các thư viện và cơ quan thông tin nhưng cho đến nay ở Việt Nam hiện nay chưa hình thành một chuẩn chung về định từ khoá và định chủ đề. Việt Nam chưa xây dựng một bảng đề mục chủ đề hay từ điển từ chuẩn nào để có thể sử dụng mang tính thống nhất, rộng rãi trong phạm vi cả nước.
Để hướng tới sự chuẩn hoá công tác định từ khoá và định chủ đề tài liệu, chúng tôi xin đề xuất một số biện pháp sau:
1. Các thư viện và cơ quan thông tin đầu ngành cần sớm có sự phối kết hợp trong việc biên soạn một bộ từ điển từ chuẩn. Để có thể rút ngắn thời gian, các thư viện có thể kế thừa các bộ từ khoá và từ điển từ khoá hiện hành: lựa chọn, tích hợp và đặt ra các quy ước thống nhất về chính tả và việc diễn đạt từ vựng. Từ điển từ chuẩn sẽ trở thành công cụ quan trọng góp phần chuẩn hoá công tác định từ khoá.
2. TVQG và các thư viện lớn cần sớm bắt tay vào xây dựng một bảng đề mục chủ đề trên cơ sở rà soát lại các đề mục chủ đề đã được sử dụng trong công tác xử lý tài liệu tại các thư viện qua hệ thống mục lục chủ đề và có thể tham khảo thêm một số bảng đề mục chủ đề của nước ngoài như: Đề mục chủ đề của Thư viện Quốc hội, Đề mục chủ đề Sear, bảng RAMEAU của Thư viện Quốc gia Pháp.
3. Đẩy mạnh hơn nữa công tác biên mục tập trung và biên mục trong ấn phẩm để các thư viện có điều kiện sử dụng các sản phẩm biên mục có sẵn, vừa tiết kiệm được thời gian công sức, vừa đảm bảo tính chính xác và thống nhất trong biên mục.
4. Các cơ quan chức năng từng bước xây dựng và thông qua Tiêu chuẩn Việt Nam về xử lý tài liệu theo chủ đề và từ khoá.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Becdichepxkaia, Ch.M. Bảng chỉ dẫn chủ bên cạnh mục lục phân loại của thư viện khoa học/Đỗ Hữu Dư dịch. - H. - 1972.
2. Bảng đề mục chủ đề dự thảo. - H.: Thư viện Quốc gia Việt Nam, 1991.
3. Bộ từ khoá. - H.: Thư viện Quốc gia Việt Nam, 2005.
4. Bộ từ khoá khoa học xã hội và nhân văn. - H.: Viện Thông tin Khoa học Xã hội,  2005. - 2T.
5. Từ điển từ khoá khoa học và công nghệ. - H.: Trung tâm Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc Gia, 2001.
6. Nghiên cứu xây dựng bộ từ khoá cho các cơ sở dữ liệu đa ngành khoa học tự nhiên và kỹ thuật: báo cáo tổng kết đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ.- H.: Trung tâm Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia, 1997.
______________
Ths. Vũ Dương Thuý Ngà: Đại học Văn hoá Hà Nội
(Nguồn: Tạp chí Thư viện Việt Nam)
9/6/2014 10:00 AMĐã ban hành/Shared Documents/2014-09/chuan thu vien.jpg
Ngày hội sách lần thứ 5Ngày hội sách lần thứ 5
Nhằm hưởng ứng ngày Sách Việt Nam (21/04), ngày Sách và Bản quyền thế giới (23/04) do Chính phủ và Bộ Giáo dục - Đào tạo phát động, sáng ngày 20/04/2018, tại Thư viện Phạm Văn Đồng, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân đã diễn ra ngày hội sách do Trung tâm Thông tin - Thư viện, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân; Hội Thư viện Việt Nam cùng Chi hội Thư viện khối Kinh tế thuộc khu vực Hà Nội đồng tổ chức.

Với chủ đề “Sách - Tri thức kiến tạo tương lai”, Ngày Hội Sách Việt Nam lần thứ 5 được tổ chức nhằm tiếp tục khẳng định, tôn vinh những giá trị của Sách, khẳng định vai trò, vị trí, tầm quan trọng của sách trong đời sống xã hội; tôn vinh những người làm công tác sưu tầm, sáng tác, xuất bản, in, phát hành, lưu giữ, quảng bá sách; khuyến khích và phát triển phong trào đọc sách trong cộng đồng; nâng cao nhận thức của nhân dân về ý nghĩa to lớn và tầm quan trọng của việc đọc sách đối với việc tiếp thu kiến thức, kỹ năng, phát triển tư duy, giáo dục và rèn luyện nhân cách con người; nâng cao trách nhiệm của các cấp, các ngành, các cơ quan chức năng và các tổ chức xã hội đối với việc xây dựng và phát triển văn hóa đọc Việt Nam.

Tham gia ngày hội sách tại Thư viện Trường Đại học Kinh tế Quốc dân có sự tham gia của các đơn vị Thư viện Phạm Văn Đồng - Trường Đại học Kinh tế Quốc dân;   Thư viện Học viện Ngân hàng; Thư viện World Bank; Thư viện Trung tâm Thông tin và Dự báo Kinh tế – Xã hội Quốc gia; Thư viện Trung tâm Thông tin – Tư liệu Viện nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương;  cùng một số đơn vị, công ty IGroup (Asia Pacific) Limited; Công ty D&L; Công ty IDT Việt Nam; Công ty Nam Hoàng…
Ngày hội sách là cơ hội cho các bạn sinh viên yêu thích đọc sách được giao lưu.
8/3/2018 10:00 AMĐã ban hành/Shared Documents/2018-08/ns1.jpg
Áp dụng các chuẩn nghiệp vụ quốc tế ở Việt NamÁp dụng các chuẩn nghiệp vụ quốc tế ở Việt Nam
I/ Sự cần thiết áp dụng các chuẩn nghiệp vụ quốc tế:
1/ Từ ý tưởng: “Thống nhất-Chuẩn hóa”:
Vấn đề “thống nhất và chuẩn hóa” về tổ chức và nghiệp vụ của thư viện Việt Nam đã được các nhà lãnh đạo Vụ Thư viện - Bộ Văn hóa – Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) nêu lên khá sớm, từ những năm cuối của thế kỷ trước. Ý tưởng đó càng trở nên bức xúc hơn sau những chuyến thăm và làm việc với đại diện các hệ thống thư viện Việt Nam năm 1999 của Tiến sỹ Christine De Sam – Chủ tịch  IFLA. Điều dễ nhận thấy là, trước năm 2000, mạng lưới thư viện Việt Nam tuy phát triển khá nhanh nhưng thiếu thống nhất về tổ chức, chưa có các văn bản pháp quy cần thiết, có đủ sức mạnh đảm bảo cho sự phát triển của thư viện nói chung. Về chuyên môn nghiệp vụ, từ phân loại tới mô tả, biên mục,... càng thiếu thống nhất hơn, mỗi nơi thực hiện một kiểu, không theo một chuẩn mực thống nhất nào. Với tình hình tổ chức và nghiệp vụ như vậy thì làm sao mạng lưới thư viện nước ta có thể có thể tạo nên sức mạnh nội sinh để bước vào kỷ nguyên hội nhập thế giới. Tại hội thảo quốc tế: "Hệ thống và Tiêu chuẩn cho Thư viện Việt Nam" họp tại Hà Nội từ ngày 26/9 đến 28/9/2001, việc áp dụng các chuẩn nghiệp vụ trong hoạt động thông tin - thư viện của nước ta trong những năm đầu Thiên niên kỷ mới đã được đại diện lãnh đạo Bộ Khoa học – Công nghệ, Bộ Văn hóa – Thông tin, Bộ Giáo dục - Đào tạo và giám đốc các Thư viện, Trung tâm thông tin Việt Nam nhất trí tán thành. Các chuẩn đó được xác định là: Khung phân loại Dewey (DDC), Khổ mẫu trao đổi thư mục MARC21 và quy tắc biên mục Anh-Mỹ AACR2. Dựa trên việc chuẩn hoá nghiệp vụ, các thư viện sẽ thực hiện tốt việc dùng chung tài liệu qua mạng trên phạm vi quốc gia và quốc tế, sử dụng các công nghệ tiên tiến trong các hoạt động thông tin-thư viện, nâng cao chất lượng dịch vụ, tiếp cận với thư viện các nước trong khu vực và thế giới. Như vậy, việc áp dụng các chuẩn quốc tế về nghiệp vụ vừa là đòi hỏi bức xúc của bản thân hoạt động thư viện trong nước, vừa phù hợp với thời kỳ hội nhập toàn diện với thế giới của đất nước ta.
2/ Đến việc lựa chọn các chuẩn nghiệp vụ quốc tế:
Việc lựa chọn 3 chuẩn nghiệp vụ quốc tế tiêu biểu bao gồm: DDC, AACR2, MARC21 đã được đại diện các thư viện lớn, đầu ngành trao đổi khá kỹ tại các hội nghị, hội thảo quốc tế và trong nước. Các ý kiến đều thống nhất đánh giá ưu điểm của các chuẩn đã lựa chọn như sau:
* Khổ mẫu MARC21: Là khổ mẫu nổi tiếng và được cộng đồng thông tin-thư viện sử dụng rộng rãi trên thế giới. Đến nay đã có một khối lượng khổng lồ các biểu ghi theo MARC21 hiện đang được lưu trữ trong các mục lục liên hợp của Hoa Kỳ (800 triệu biểu ghi), của mạng OCLC (50 triệu biểu ghi), của Thư viện Quốc hội Mỹ (20 triệu biểu ghi). Mặc dù đã có một số nước và thậm chí một vài hệ thống thư viện đã xây dựng cho riêng mình các phiên bản của MARC, nhưng các phiên bản đó vẫn không trở thành một tiêu chuẩn quốc tế. MARC21 đang trở thành một tiêu chuẩn quốc tế, vì đa số các nước nói tiếng Anh bây giờ đang sử dụng. Hầu hết các hệ quản trị thư viện lớn và nhỏ trên thị trường hiện nay đều sử dụng khổ mẫu MARC21 như một sự lựa chọn tối ưu nhất. Áp dụng khổ mẫu MARC21, Thư viện Việt Nam sẽ có điều kiện trao đổi dữ liệu biên mục với các thư viện lớn trên thế giới, nhất là các thư viện lớn của Hoa Kỳ.
* Quy tắc biên mục Anh-Mỹ (AACR2) là bộ quy tắc nổi tiếng trên thế giới. Công trình AACR2 được đánh giá là đã đặt nền tảng cho sự hợp tác biên mục quốc gia và quốc tế. Vì vậy, AACR2 được sử dụng rộng rãi trên thế giới. Áp dụng quy tắc biên mục AACR2, Thư viện Việt Nam dễ dàng hội nhập vào cộng đồng quốc tế, nhất là việc tiếp cận và trao đổi thông tin về thư mục trên Internet. Trên cơ sở thống nhất cả nước áp dụng AACR2, chúng ta sẽ tạo nên tiền đề quan trọng bậc nhất để đi tới việc xây dựng các mục lục liên hợp quốc gia và trong tương lai, chúng ta có thể đóng góp vào cơ sở dữ liệu thế giới. Hơn thế nữa, áp dụng AACR2, chúng ta có thể kiểm soát được thư mục toàn cầu, đáp ứng tốt nhu cầu tìm tin của bạn đọc.
* Khung phân loại thập phân Dewey (DDC): Là một công trình khoa học thư viện vĩ đại của thế giới, là một bách khoa thư, phân loại và tổng hợp tri thức của nhân loại. Với những ưu điểm vượt trội so với tất cả các khung phân loại hiện nay, như: tính cập nhật liên tục trước những biến động mạnh mẽ của tình hình chính trị thế giới, những thay đổi mau lẹ đang diễn ra trên lĩnh vực tri thức; cấu trúc, ký hiệu, phân cấp rõ ràng và về sự ứng dụng rộng rãi trên thế giới, Khung phân loại DDC đang trở thành một khung tiêu chuẩn quốc tế để tổ chức tri thức nhân loại trong các thư viện. Theo thống kê, hiện nay có hơn 200.000 thư viện của 135 quốc gia đang sử dụng DDC. Khung phân loại DDC cũng là hệ thống phân loại của 60 thư mục quốc gia trong đó có 15 quốc gia tại vùng châu Á - Thái Bình Dương. Vì tính khoa học và thông dụng, đến nay DDC đã được dịch sang 30 thứ tiếng khác nhau trên thế giới. Gần đây, WebDewey – sản phẩm tiên tiến nhất của DDC đã được giới thiệu rộng rãi trên mạng như một phương tiện hỗ trợ đắc lực cho công tác phân loại của các thư viện.
Với sự phân tích trên, có thể nói việc lựa chọn 3 chuẩn nghiệp vụ: AACR2, MARC21 và DDC làm các tiêu chuẩn quốc tế cho thư viện Việt Nam áp dụng là một sự lựa chọn chính xác, khách quan và khoa học. Ba chuẩn mực này sẽ tạo nên một thế chân kiềng vững chắc, giúp cho thư viện Việt Nam phát triển trong thế giới hiện đại và thời kỳ hội nhập hiện nay. Việc quyết định áp dụng các chuẩn nghiệp vụ mới tuy có phần muộn màng, nhưng dù muộn còn hơn không. Gia nhập sân chơi thế giới, chúng ta phải tuân thủ luật chơi quốc tế, không thể chỉ hô khẩu hiệu “hội nhập” là đủ. Việc áp dụng các chuẩn mới là một thử thách lớn, thậm chí có thể coi là một cuộc “cách mạng”  của thư viện Việt Nam. Nhưng, vì tương lai của sự nghiệp thư viện nước nhà, chúng ta không thể ngần ngại, chiết trung. Với nhận thức dứt khoát như vậy, Thư viện Quốc gia Việt Nam, với vai trò “Thư viện trung tâm của cả nước” đã và đang nỗ lực làm tất cả những gì có thể để “cuộc cách mạng nghiệp vụ thư viện” được triển khai nhanh hơn, mạnh hơn và hiệu quả hơn.
II/ Triển khai áp dụng các chuẩn nghiệp vụ quốc tế:
Để đưa các chuẩn nghiệp vụ vào các thư viện, theo sự phân công tại Hội thảo Quốc tế lần thứ 2 tháng 9/2002, Thư viện Quốc gia Việt Nam chịu trách nhiệm dịch Khung phân loại Dewey; Trung tâm Thông tin khoa học và Công nghệ quốc gia sẽ dịch Khổ mẫu MARC21 và Quy tắc biên mục Anh-Mỹ AACR2. Sau khi dịch, 2 đơn vị trên có trách nhiệm in, xuất bản và tổ chức đào tạo, huấn luyện cho cán bộ các thư viện và  cơ quan thông tin thực hành áp dụng vào công tác của đơn vị mình.
1/ Quy tắc biên mục AACR2 rút gọn:
Trước khi Trung tâm thông tin Khoa học và Công nghệ thực hiện việc dịch bản quy tắc AACR2 toàn văn, Thư viện Quốc gia Việt Nam đã phối hợp với Hội hỗ trợ Thư viện và Giáo dục Việt Nam tại Hoa Kỳ (LEAF-VN) tiến hành dịch bộ Quy tắc biên mục Anh – Mỹ rút gọn (CAACR2). Cuối năm 2000, bản dịch đã hoàn thành với chất lượng khá tốt. Hội LEAF-VN đã quyên góp tài chính, in 2.000 bản (khổ 17x25, 320 trang) tại Mỹ và gửi về như một quà tặng cho các thư viện Việt Nam. Thư viện Quốc gia Việt Nam là đầu mối tiếp nhận và đã phân phối miễn phí 1.800 bản cho các thư viện trên cả nước.
Năm 2004, Thư viện Quốc gia Việt Nam phối hợp với Hội LEAF-VN tổ chức huấn luyện áp dụng quy tắc biên mục AACR2 bản rút gọn. Hai chuyên gia biên mục của Hoa Kỳ là bà Phạm Thị Lệ Hương (dịch giả CAACR2) và bà Ngọc Mỹ đã trực tiếp giảng dạy. Thư viện Quốc gia Việt Nam (TVQG) đã tổ chức 2 lớp ở Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh để đào tạo cho cán bộ thư viện tỉnh, các trường đại học và các thư viện chuyên ngành. Hơn 200 học viên đã được tập huấn trong thời gian mỗi lớp là 7 ngày. Thời gian thực hành được bố trí thích đáng nhằm giúp anh chị em thành thạo sau khi học. Để giúp cho học viên có điều kiện làm giáo viên huấn luyện lại cho anh chị em ở đơn vị, ban tổ chức lớp học đã cung cấp cho mỗi học viên bài giảng bằng giấy kèm theo đĩa CD-ROM: “Cẩm nang sử dụng AACR2”. Đồng thời, TVQG đã biên soạn tài liệu so sánh sự giống nhau và khác nhau giữa ISBD và AACR2 để cán bộ thuận tiện khi sử dụng. Riêng với đơn vị, chúng tôi đã biên soạn bộ tài liệu qui tắc mô tả tài liệu riêng, vừa phù hợp với AACR2 vừa phù hợp với sự đa dạng của nguồn tài liệu nhập vàoTVQG.
Với cách tổ chức trên, trong một thời gian ngắn, TVQG đã góp phần đáng kể trong việc huấn luyện được một đội ngũ đông đảo các giảng viên có đủ năng lực để huấn luyện lại việc áp dụng AACR2 rút gọn cho cán bộ thư viện trên phạm vi cả nước. Tuy là bản rút gọn, nhưng như ông Michael Gorman - Giám đốc dịch vụ thư viện ĐH California đã đánh giá: “Quyển sách này (CAACR2) được soạn ra nhằm truyền đạt những nguyên tắc căn bản của ấn bản AACR2 (bản đầy đủ)… Đối với các biên mục viên ở các nước không dùng tiếng Anh, họ có thể dùng bản AACR2 rút gọn này như một bản tóm lược tổng hợp những ứng dụng của AACR2”. Kết quả của việc đào tạo áp dụng bản rút gọn của quy tắc biên mục Anh-Mỹ cho cán bộ thư viện đã tạo nên tiền đề thuận lợi khi chúng ta triển khai đào tạo áp dụng bản đầy đủ AACR2 vào cuối năm 2007.
2. Khổ mẫu MARC21:
Sau Hội thảo quốc tế về “Hệ thống và tiêu chuẩn cho Thư viện Việt Nam”, ngày 22-23/11/2001 tại Trung tâm thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia (NASETIC) đã tổ chức hội thảo quốc gia và đi đến thống nhất áp dụng khổ mẫu MARC21 cho các thư viện Việt Nam. Với sự giúp đỡ về tài chính của quỹ Alantic Philanthropies và chuyên môn của bà Sally McCallum (Thư viện Quốc hội Mỹ), cuối năm 2004, Trung tâm thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia đã hoàn thành bản dịch với gần 1.000 trang khổ 21x30. Trung tâm đã ấn hành 300 bản (2 tập x 300 cuốn) sách “Khổ mẫu MARC21 cho dữ liệu Thư mục” để cung cấp tài liệu thực hành cho các thư viện và cơ quan thông tin. Xuất phát từ thực tế nhu cầu sử dụng MARC21 của các thư viện và cở sở thông tin trong nước, năm 2005, Trung tâm thông tin Khoa học và Công nghệ đã biên soạn và ấn hành 1.000 bản “MARC21 rút gọn cho dữ liệu thư mục”. Sách được phân phối rộng rãi trong cả nước làm tài liệu thông dụng cho việc áp dụng MARC21 vào công tác thư viện và thông tin.
Tuy nhiên, cuối năm 2003, cùng với việc triển khai dự án Xây dựng hệ thống thông tin điện tử/kỹ thuật số cho Thư viện Quốc gia Việt Nam và hệ thống thư viện công cộng, TVQG đã chủ động triển khai đào tạo cho cán bộ biên mục tại đơn vị và toàn thể 64 thư viện tỉnh, thành áp dụng MARC21. Chúng tôi phải tiến hành huấn luyện áp dụng MARC21 sớm, trước khi có sách dịch MARC21 được in vì theo dự án, TVQG và mạng lưới thư viện tỉnh, thành phố ứng dụng phần mềm ILIB và SMALLIB mà 2 phần mềm này của công ty CMC đều áp dụng khổ mẫu MARC21 cho việc mô tả thư mục thư viện. Tạm thời, chúng tôi sử dụng các tài liệu: “Kiến thức cơ bản về MARC21” (CMC dịch 2001) và tài liệu “Tập huấn biên mục theo MARC21” (ông Vũ Văn Sơn biên soạn 2003) để huấn luyện tại các lớp về MARC21: 
Sau khi "Khổ mẫu MARC21 rút gọn cho dữ liệu thư mục" được dịch và xuất bản, các giảng viên là cán bộ TVQG đã qua đào tạo tại Trung tâm thông tin Khoa học và Công nghệ tiếp tục tổ chức các lớp tập huấn theo đúng chuẩn MARC21 cho các thư viện tỉnh, thành thuộc hệ thống thư viện công cộng trong cả nước. Gần đây nhất, tháng 11/2006 TVQG đã tổ chức lớp tập huấn tại Bình Thuận cho 76 học viên là cán bộ biên mục của các thư viện tỉnh, thành  phía nam (từ Đà Nẵng trở vào). Tháng 12/2006, tại Hải Phòng, TVQG tiếp tục mở lớp tập huấn cho 83 học viên đến từ các thư viện tỉnh, thành phía Bắc (từ Thừa Thiên-Huế trở ra). Từ những kiến thức ban đầu, một mặt anh chị em tiếp tục tự nghiên cứu, mặt khác thông qua các hội nghị, hội thảo khu vực của các liên hiệp thư viện và sự tư vấn của TVQG, đến nay nói chung cán bộ các thư viện công cộng đã dần làm quen với khổ mẫu MARC21 trong công tác biên mục.
Tại TVQG, khi tiến hành áp dụng MARC21 trong phần mềm mới, chúng tôi đã tiến hành hàng loạt hoạt động nghiên cứu, cải tiến cho phù hợp với yêu cầu công tác của đơn vị như: cải tiến qui trình xử lí sách; tổ chức biên soạn Thư mục Quốc gia ngay tại bộ phận xử lí hình thức; Dựa vào MARC21 để xây dựng những quy định thống nhất ở trường địa danh, hình thức tài liệu, phân loại tập trung theo 19 dãy và trường in phích và đặc biệt là đã  thống nhất khi miêu tả trường 100 về  tiêu đề chính-tên cá nhân, cho tên tác giả cá nhân người Việt Nam có thành phần họ theo tinh thần hội thảo 8/2004 của Trung tâm thông tin Khoa học và Công nghệ…
Trong việc áp dụng khổ mẫu MARC21 và cũng là ứng dụng phần mềm mới, TVQG đã hoàn thành việc chuyển đổi hơn 220.000 biểu ghi từ phần mềm ISIS sang phần mềm ILIB. Các công ty tin học khi viết phần mềm đều sử dụng MARC21 từ nguyên gốc, nhưng khi Việt hoá và thể hiện giao diện cho người sử dụng thì lại theo thể hiện các hình thức khác nhau. TVQG đã nghiên cứu thành công việc xác định sự tương thích của các trường giữa 2 phần mềm cũ và mới, đảm bảo tốt cho việc chuyển đổi dữ liệu. Nhìn chung đến nay, cán bộ biên mục ở TVQG đã thành thạo việc sử dụng MARC21.
3. Phân loại thập phân Dewey (DDC)
Được Quĩ từ thiện Atlantic Philanthropies hỗ trợ về tài chính, đầu năm 2004, TVQG đã tiến hành thành lập Hội đồng tư vấn và  ban dịch thuật khung phân loại thập phân Dewey bao gồm những chuyên gia phân loại và những người có trình độ tiếng Anh tốt. Được các chuyên gia của Thư viện Quốc hội Hoa Kỳ nhiệt tình giúp đỡ, sau hơn 2 năm nỗ lực của ban biên dịch, Khung phân loại DDC14 bản rút gọn bằng tiếng Việt đã được hoàn thành. Ngày 16/8/2006, ấn bản DDC14 tiếng Việt lần đầu tiên đã được công bố tại Hà Nội. Cuối tháng 8/2006, ấn bản này đã được giới thiệu tại Đại hội Liên hiệp hội Thư viện quốc tế (IFLA) ở Hàn Quốc như một sự kiện tiến bộ đặc biệt của nghiệp vụ thư viện thế giới. Từ đó đến nay, với tư cách đơn vị chủ dự án, TVQG đã làm nhiều việc để đi đến mục tiêu áp dụng DDC trong tất cả các thư viện Việt Nam.  Cụ thể:
3.1. Xúc tiến đề nghị Bộ VHTT ban hành văn bản chỉ đạo:
- Ngày 7/11/2006 TVQG có tờ trình số 239/TTr-TVQG gửi Bộ VH-TT về việc đề nghị lãnh đạo Bộ cho chủ trương quyết định việc áp dụng DDC, MARC21, AACR2 trong tất cả các thư viện cả nước
- Ngày 23/1/2007 TVQG có tờ trình số 23/TTr-TVQG gửi Bộ VH-TT về việc trình bày lộ trình áp dụng DDC ở Việt Nam
- Ngày 31/1/2007 TVQG tổ chức cuộc họp với lãnh đạo Vụ Thư viện để xúc tiến giải quyết yêu cầu trên bằng việc tổ chức 1 cuộc hội thảo với đại diện các hệ thống thư viện
- Ngày 18/3/2007, Vụ Thư viện, Hội Thư viện Việt Nam, TVQG đã phối hợp tổ chức hội thảo về việc áp dụng  bộ chuẩn nghiệp vụ AACR2, MARC21, DDC vào các thư viện Việt Nam
- Ngày 7/5/2007, Bộ VH-TT đã ban hành văn bản số 1598/BVHTT-TV về hướng dẫn việc áp dụng các chuẩn nghiệp vụ trên phạm vi cả nước.
- Ngày 23/7/2007, Vụ Thư viện ban hành công văn số 2667/BVHTT-TV về triển khai áp dụng DDC, MARC21, AACR2 trong các thư viện.
*Có thể nói, văn bản 1598 và 2667 là kết quả cả một quá trình vận động, giải trình, thuyết phục lãnh đạo Bộ VH-TT bằng những cứ liệu khoa học và thực tiễn. Tuy văn bản ra đời có phần chậm trễ, nhưng có thể coi đây là bước tiến bộ quan trọng bậc nhất về nhận thức, mở đường cho các hoạt động nghiệp vụ trên phạm vi cả nước trong quá trình hội nhập quốc tế
3.2. TVQG  đã cấp 1.600 bản phân loại DDC14 miễn phí cho các thư viện, trung tâm thông tin, đơn vị cơ sở đào tạo trong cả nước. Sách đã đuợc phân phối kịp thời, đúng đối tượng như đã thống nhất tại cuộc họp của Hội đồng tư vấn.
3.3. TVQG đã tổ chức các lớp đào tạo, tập huấn, hội thảo như sau:
3.3.1. Tổ chức đào tạo giảng viên DDC:
Với mục tiêu đào tạo giảng viên cho cả nước, TVQG đã tổ chức 2 lớp cho những cán bộ có kỹ năng phân loại tốt và có năng lực sư phạm khá của các các hệ thống thư viện trong cả nước. TVQG đã mời Giáo sư Oyler trực tiếp giảng dạy và ông Vũ Văn Sơn – Tổng biên tập DDC14 tiếng Việt làm trợ giảng.
- Lớp tại Hà Nội: 9/10 - 13/10/2006 đào tạo có 30 giảng viên
- Lớp tại Tp. Hồ Chí Minh: 30/10 - 4/11/2006 đào tạo 28 giảng viên
Học  viên được cung cấp tài liệu đầy đủ gồm: Bảng phân loại DDC14 rút gọn, đề cương bài giảng bằng giấy, bài tập, đáp án, sách thực tập. Sau khi đào tạo, các học viên có đủ năng lực làm tiểu giảng viên ở các lớp cơ sở.
3.3.2. Tổ chức tập huấn ở hệ thống Thư viện công cộng: 2 lớp
- Lớp tại Bình Thuận: 20/11 - 2/12/2006. Có 75 học viên là cán bộ quản lí phụ trách nghiệp vụ và cán bộ biên mục đến từ các thư viện tỉnh, thành phía Nam (từ Đà Nẵng trở vào)
- Lớp tại Hải Phòng: 10/12 - 22/12/2006. Có 76 học viên là cán bộ quản lí phụ trách nghiệp vụ và cán bộ biên mục đến từ các thư viện tỉnh, thành phía Bắc (Từ Thừa Thiên-Huế trở ra)
Rút kinh nghiệm các lớp trước, trước khi tổ chức tập huấn, TVQG đã tiến hành biên soạn lại bài giảng một cách chi tiết hơn. Từ nguyên tắc chung đến các nguyên tắc cụ thể trong từng mục, các cách ghép đặc biệt có các ví dụ minh hoạ, có phần bài tập kèm theo, có so sánh đối chiếu với bảng phân loại 19 lớp để học viên dễ thực hiện khi trở về các thư viện.
3.3.3. Tổ chức đào tạo tại địa phương
Dựa trên bài giảng chi tiết của TVQG biên soạn cho các lớp tập huấn cán bộ thư viện tỉnh, thành, một số thư viện tỉnh, thành đã tổ chức các lớp đào tạo, tập huấn cho các thư viện huyện, quận. Theo số liệu thống kê cuối tháng 7/2007, đã có 58% số thư viện tỉnh thuộc hệ thống thư viện công cộng được đào tạo sử dụng DDC. 42% số thư viện tỉnh còn lại dự định sẽ triển khai trong quý 3-4/2007 và 2 thư viện sẽ triển khai trong năm 2008.
3.3.4. Các lớp của hệ thống thư viện trường đại học:
-Liên hiệp Thư viện Đại học phía Bắc đã tổ chức lớp tập huấn cho 80 cán bộ thư viện các trường đại học khu vực phía Bắc trong tháng 5/2007.
-Trung tâm Học liệu Huế đã tổ chức đào tạo cho 30 cán bộ các thư viện trên địa bàn thành phố Huế.
3.3.5. Tổ chức hội thảo quốc tế:
- Hội thảo ngày 8/6/2007, đánh giá 6 tháng áp dụng DDC của các hệ thống thư viện Việt Nam. Hội thảo kết luận: Các hệ thống thư viện Việt Nam đã chủ động triển khai DDC, tuy nhiên tiến độ còn chậm.  Hệ thống thư viện công cộng và đại học triển khai tích cực hơn cả. Cần có những văn bản chỉ đạo cụ thể hơn trong việc áp dụng các chuẩn nghiệp vụ. Cần duy trì Văn phòng DDC với nhiệm vụ rộng hơn…
- Hội thảo ngày 14/12/2007 đánh giá 1 năm áp dụng DDC của các hệ thống thư viện. Hội thảo kết luận: tình hình triển khai tương đối tốt. Mạng lưới thư viện chuyên ngành chưa triển khai, cần tìm hiểu nguyên nhân. Thư viện lực lượng vũ trang bắt đầu triển khai. Mạng lưới thư viện công cộng đã triển khai đồng bộ toàn hệ thống tại hội nghị tổng kết toàn quốc 6/8/2007. Nhiều thư viện tỉnh đã tổ chức các lớp đào tạo cho cán bộ thư viện huyện, thị. Thư viện đại học tiếp tục tổ chức nhiều lớp đào tạo lại, có sự giúp đỡ của Gs. Oyler. Hội thảo nhất trí việc TVQG chọn ông Vũ Văn Sơn làm Tổng biên tập dịch DDC.22. TVQG nhanh chóng xây dựng dự án dịch bản đầy đủ, kiện toàn lực lượng văn phòng DDC, nắm số lượng DDC14 cần in thêm.
3.3.6. Tổ chức đào tạo, tập huấn tại TVQG
- Lớp tổ chức tại TVQG: 19/3 - 23/3/2007. Có 54 học viên là cán bộ chuyên môn ở các phòng ban tại Thư viện
- Để triển khai một cách đồng bộ tất cả các khâu có liên quan đến DDC, TVQG đã tổ chức 2 cuộc họp chuyên đề bàn về vấn đề này. Đến nay, mọi người nhất trí việc cần thiết áp dụng DDC tại TVQG trong thời kỳ mới - thời kỳ hội nhập. Tuy nhiên, là thư viện lớn vào bậc nhất của cả nước, với vốn sách báo lên tới hàng triệu đơn vị, việc áp dụng khung phân loại DDC phiên bản nào là hợp lý? Sau khi nghiên cứu ý kiến của Hội đồng Khoa học  đơn vị, Giám đốc đã quyết định:
+ Từ ngày 15/6/2007, toàn đơn vị sử dụng thống nhất khung phân loại DDC ấn bản 14 đã được dịch ra tiếng Việt trong công tác phân loại.
+ Từ 1/1/2008, tiếp tục sử dụng khung phân loại DDC ấn bản rút gọn 14 tiếng Việt và áp dụng DDC ấn bản đầy đủ 22 nguyên bản tiếng Anh cho sách thuộc các môn loại khoa học và kỹ thuật khi xét thấy cần thiết.
+ Ngoài ra, Giám đốc đã quyết định duy trì Văn phòng DDC với sự tham gia của các phòng liên quan. Văn phòng do Giám đốc trực tiếp điều hành nhằm đôn đốc, thúc đẩy, hỗ trợ việc áp dụng DDC trong cả nước, trao đổi kinh nghiệm, trả lời các vấn đề vướng mắc trong quá trình áp dụng, ổn định WebDDC và xây dựng dự án dịch DDC22.
+ Trong tháng 6 vừa qua, để việc áp dụng DDC đạt hiệu quả tốt, TVQG đã phải giải quyết hàng loạt vấn đề liên quan như: in nhãn xếp giá (cutter) tự động cho các kho tự chọn, hồi cố dữ liệu phân loại cho các kho tự chọn, cấu trúc lại Thư mục Quốc gia, các quy định trong việc phân loại tác phẩm văn học thiếu nhi, văn học Việt Nam (tác giả cá nhân, nhiều tác giả, sưu tập), sách khoa học thường thức viết cho thiếu nhi, truyện tranh, sách giáo khoa, sách bài tập, sách đọc thêm cho học sinh phổ thông và sách giáo trình; cách ghép một số mục đặc biệt trong bảng… và đặc biệt là vấn đề phân loại cho những tác phẩm của Hồ Chí Minh, nói về Hồ Chí Minh, chủ nghĩa Mác-Lênin và nói về chủ nghĩa Mác-Lênin…
Trong thời đại hoà nhập toàn cầu hiện nay, sự phát triển kinh tế, xã hội và khoa học kỹ thuật của tất cả các nước nói chung và Việt Nam nói riêng đều cần được cung cấp đúng, đủ và kịp thời lượng thông tin cần thiết. Thông tin đang là mạch máu duy trì sự sống và là một trong những nguồn lực quyết định sức mạnh của đất nước. Thư viện vừa là cơ sở cho thông tin phát triển, vừa là một thành viên có nhiều thế mạnh trong mạng thông tin chung của quốc gia. Mạng lưới thư viện toàn quốc mà mạnh thì công tác thông tin quốc gia cũng được gia tăng thêm sức mạnh. Song song với những tiến bộ vượt bậc về công tác tổ chức, mà tiêu biểu là sự ra đời của Pháp lệnh Thư viện và Hội Thư viện Việt Nam, việc áp dụng các chuẩn nghiệp vụ sẽ giúp cho Thư viện nước ta nhanh chóng có bước phát triển vượt bậc, vị thế trên trường quốc tế sẽ được nâng cao, mục tiêu “Thống nhất, chuẩn hóa, chia sẻ và hội nhập” của sự nghiệp Thư viện nước nhà sẽ trở thành hiện thực!
______________
Phạm Thế Khang: Giám đốc Thư viện Quốc gia Việt Nam
(Nguồn: Tạp chí Thư viện Việt Nam)
8/1/2014 3:00 PMĐã ban hành/Shared Documents/2014-09/ddc14.jpg