Skip Ribbon Commands
Skip to main content
SharePoint
CHÀO MỪNG NGÀY CHIẾN THẮNG ĐIỆN BIÊN PHỦ 7/5/1954-7/5/2019
******
Kỷ niệm 129 năm ngày sinh nhật Bác (19/5/1890 – 19/5/2019)

Skip Navigation LinksTin Chuyên Đề

Search
 
Tin Chuyên Đề
 
Giới thiệu chung Sử dụng dữ liệu làm cơ sở cho các bài báo nghiên cứu ngày càng trở nên quan trọng. Với sự hỗ trợ của công nghệ xuất bản trực tuyến thì thông tin ngày càng trở nên có sẵn và các dịch vụ thông tin trở nên nở rộ để hỗ trợ người dùng một cách tốt nhất, thông tin vì thế được sử dụng và tái sử dụng để kết hợp với các dữ liệu khác. Trên thế giới hiện nay, xu thế “dữ liệu lớn” (big data) trong các lĩnh vực khác nhau đang được sử dụng, tái sử dụng và chia sẻ để rút ngắn thời gian không chỉ nghiên cứu và còn rút ngắn được quá trình hình thành nên công trình và sản phẩm. Cùng với đó, việc khai thác tiềm năng ở mức độ sâu sắc hơn về các dữ liệu nghiên cứu, chia sẻ và quản trị các dữ liệu này đã trở thành một vấn đề mang tính chất toàn cầu. Và cũng chính vì tiềm năng khai thác, sử dụng, chia sẻ và tái sử dụng dữ liệu thô/ dữ liệu nghiên cứu (DLNC) đang trở thành vấn đề được nhiều cơ quan tổ chức quốc tế đã điều chỉnh chính sách của mình để khuyến khích, tài trợ, thậm chí uỷ quyền cho các nhà nghiên cứu, các viện và tổ chức nghiên cứu để làm cho dữ liệu này có sẵn và truy cập mở. Khái niệm dữ liệu nghiên cứu Khái niệm về DLNC hiện nay còn nhiều tranh luận để đưa ra một khái niệm thống nhất, vì hình thức và nội dung của dữ liệu ở các lĩnh vực khác nhau thì khác nhau. Khái niệm về DLNC cũng có thể được hiểu và diễn giải ở nhiều cách khác nhau, năm 2005, Quỹ Khoa học Quốc gia [3] đã xuất bản tập báo cáo có tựa đề “Phát triển bộ sưu tập số mang tính chất dài hạn: khuyến khích nghiên cứu và phát triển giáo dục trong thế kỷ XXI” (Long-Lived Digital Data Collections: Enabling Research and Education in the 21st Century) đã đề cập tới việc có thể phân chia DLNC bởi nguồn gốc của chúng được tạo ra, bởi vì các dữ liệu này có thể là các dữ liệu về thí nghiệm, máy tính hay quan sát. Trong đó dữ liệu quan sát có thể là các quan trắc về nhiễu độ hay quan sát về thái độ của người bỏ phiếu trước cuộc tổng tuyển cử. Dữ liệu về máy tính có thể là kết quả từ thực hiện mô hình mô phỏng hoặc có thể là các thông tin về cấu hình như phần cứng, phần mềm. Dữ liệu về nghiên cứu, thí nghiệm ví dụ các mẫu biểu hiện gen hay tốc độ phản ứng hoá học. Trong quá trình vòng đời nghiên cứu, DLNC được tạo ra từ những quá trình đầu tiên của việc tiến hành xem xét, xử lý, phân tích, bảo quản, truy cập và tái sử dụng dữ liệu để tạo ra thông tin mới. Theo Hiệp hội lưu trữ dữ liệu của Vương quốc Anh [6], vòng đời nghiên cứu được hình thành và liên kết với nhau tạo thành một liên kết vòng tròn hỗ trợ nhau. alt Trong một số trường hợp, DLNC được định nghĩa là các biểu ghi, hay các bằng chứng, dẫn chứng về nội dung của thông tin có thể ở các hình thức vật lý dạng in ấn, điện tử hay các hình thức khác. Cơ quan Phát triển và Hợp tác về Kinh tế và Giáo dục của Liên minh châu Âu [4] đã cho rằng rất khó để phân biệt DLNC và dữ liệu sơ cấp, trong một số trường hợp dễ làm người nghiên cứu nhầm lẫn. Cơ quan này cho rằng “DLNC là những biểu ghi, dữ liệu thực tế mà có thể ở chữ số, ký hiệu, chữ viết, hình ảnh, âm thanh được sử dụng như một nguồn dữ liệu thứ cấp cho nghiên cứu được chấp nhận rộng rãi trong cộng đồng nghiên cứu để kiểm tra lại các kết quả nghiên cứu”. Theo Đại học Boston [1], DLNC không giống như các loại hình thông tin khác, chúng được thu thập, quan sát hay tạo ra cho các mục đích phân tích để sản xuất ra các kết quả nghiên cứu. DLNC có thể được tạo ra cho các mục đích khác nhau thông qua các quá trình khác nhau và có thể được chia thành các nhóm dữ liệu khác nhau, tuy nhiên mỗi nhóm dữ liệu này yêu cầu một kế hoạch quản trị dữ liệu cũng khác nhau: - Dữ liệu về quan sát: Dữ liệu được thu nhận trong cuộc sống hiện tại, không thể thay thế được như: dữ liệu thu về từ các cảm biến, quan trắc, dữ liệu phỏng vấn, hay các hình ảnh về quan sát từ vũ trụ gửi về trái đất. - Dữ liệu về các thí nghiệm: Dữ liệu thu thập trực tiếp từ các phòng thí nghiệm, thường có thể tái sử dụng nhiều lần, nhưng khá đắt đỏ như: các chuỗi gen người, hay dữ liệu từ trường. - Dữ liệu mô phỏng: Dữ liệu được tạo ra từ các mô hình thử nghiệm như: mô hình thử nghiệm kinh tế, mô hình thử nghiệm thời tiết. DLNC có thể ở các hình thức sau: - Văn bản, tài liệu, chữ, hay các bảng tính. - Ghi chú trong phòng thí nghiệm, đi thực nghiệm, nhật ký. - Bảng câu hỏi, bản ghi chép tay. - Băng ghi âm, ghi hình. - Hình ảnh, phim ảnh. - Phản ứng thí nghiệm. - Slide, hiện vật, mẫu vật, mẫu. - Bộ sưu tập các đối tượng số được tạo ra và thu thập trong quá trình nghiên cứu. - Hồ sơ dữ liệu. - Nội dung cơ sở dữ liệu bao gồm cả hình ảnh, âm thanh, văn bản. - Thuật toán, các kịch bản. - Các phương pháp và quy trình công việc. - Các quy trình tiêu chuẩn và giao thức. Tuỳ thuộc vào mỗi cơ quan mục đích sử dụng khác nhau sẽ có sự phân biệt và sử dụng DLNC khác nhau. Chính vì điều này đã phân biệt sự khác nhau giữa dữ liệu xuất bản và DLNC ở bảng dưới đây [2]: alt Sự khác nhau giữa thông tin xuất bản và DLNC Vai trò của việc quản lý DLNC đối với các cơ quan, tổ chức và cơ quan thư viện - thông tin Phải nói rằng, đứng sau thành công của các nhà khoa học là thành công của các cơ quan nghiên cứu, tổ chức đã đồng hành cùng các nhà nghiên cứu đó. Đối với các trường đại học và các viện nghiên cứu, việc đưa ra một chiến lược cụ thể trong việc quản lý nguồn tài nguyên có giá trị này đem lại rất nhiều lợi ích về mặt kinh tế cũng như tiếng tăm. Theo tác giả Elsevier điều này có thể được nhìn thấy ở một vài khía cạnh sau [1]: - Quản lý DLNC đem tới sự cải thiện về chất lượng và số lượng của các kết quả đầu ra vì tốc độ nghiên cứu sẽ tăng lên cùng với độ tin cậy của các bài báo nghiên cứu sẽ cải thiện khi DLNC được truy cập mở, sẵn có cho việc đánh giá. - Tăng việc xuất bản và tăng chỉ số ảnh hưởng: Sự sẵn có của DLNC sẽ làm tăng việc xuất bản, dẫn tới sự bùng nổ tranh luận của nhiều quan điểm, chia sẻ dẫn tới làm tăng sự ảnh hưởng của bài viết, tạo ra nhiều trích dẫn. - Tăng cường việc hợp tác: Dữ liệu được chia sẻ là một khởi đầu cho việc hợp tác, như các nhà nghiên cứu tìm kiếm để hiểu làm thế nào kết quả được thu thập và trao đổi các quan điểm trong việc phân tích và giải thích một vấn đề. Để có thể khai thác toàn bộ tiềm năng của DLNC, đòi hỏi mỗi cơ quan, trung tâm thông tin - thư viện cần phải đưa ra những chiến lược phát triển và hợp tác hợp lý, trong đó đề cao việc thực hiện chiến lược và chính sách truy cập mở, đảm bảo việc hanh thông về tài chính và hỗ trợ về mặt công nghệ để tài liệu được truy cập mở và dễ dàng tìm thấy. Tuy nhiên, cùng một lúc cũng đảm bảo có các chính sách về bảo hộ quyền sở hữu và thông tin cá nhân, quyền riêng tư cùng với các tiêu chuẩn về an ninh, an toàn dữ liệu để xây dựng hệ thống phục vụ việc sử dụng và tra cứu dữ liệu. Ngoài ra, cần phải có chiến lược tái sử dụng thông tin, phục vụ hoạt động DLNC sẽ được phát hiện và tái sử dụng thông qua các xuất bản phẩm, trong đó hoạt động cốt lõi là thực hiện một giải pháp xuất bản phẩm tiên tiến xem xét việc công bố các dữ liệu, phần mềm và phương pháp trích dẫn. Quá trình kiểm duyệt, cài đặt và tạo ra các định danh đối tượng số duy nhất cho các dữ liệu và dữ liệu có liên quan. Hơn thế nữa, nhiệm vụ của các trung tâm, cơ quan thư viện - thông tin trong hoạt động này là phải đảm bảo dữ liệu được kết nối với nhau, nên chúng có thể dễ dàng được tìm kiếm bởi người dùng hoặc các đối tác trong cơ quan đó hay cộng đồng người dùng ngoài cơ quan. Để thúc đẩy dữ liệu có thể được tìm thấy, các chương trình liên kết dữ liệu cần phải được cài đặt và thiết lập. Ví dụ, trường Đại học Havard liên kết những bài báo của các nhà nghiên cứu trong trường với các cơ sở dữ liệu ở cả viện nghiên cứu và các cơ quan lưu trữ mà có liên kết với nhau về nhiều ngành nghề. Việc hỗ trợ tìm kiếm một lúc trên nhiều cơ sở dữ liệu hiệu quả cũng là một vấn đề cần phải được xem xét. Vậy lợi ích của hoạt động quản lý DLNC đối với các nhà nghiên cứu là gì? Đơn giản với những nhà nghiên cứu, có một lý lẽ được đặt ra là có lẽ không cần phải thuyết phục với họ tầm quan trọng của DLNC là gì bởi vì hơn ai hết họ hiểu được việc này, tuy nhiên có nhiều nhà nghiên cứu vẫn không hiểu được tầm quan trọng và tiềm năng của việc chia sẻ nguồn tài liệu này với cộng đồng nghiên cứu mà có thể được liệt kê ở những điểm chính sau: - Tăng cường sự hợp tác: Chia sẻ là hợp tác và đặc biệt điều này giúp cho việc kiểm soát, thẩm định lại kết quả của các nghiên cứu. - Tăng các chỉ số ảnh hưởng và hoạt động xuất bản: Việc chia sẻ các DLNC và quản lý chúng một cách hiệu quả giúp quá trình nghiên cứu được rút ngắn, nhiều công trình được xuất bản hơn, nâng tầm nghiên cứu, tăng các chỉ số trích dẫn tài liệu và uy tín của nhà nghiên cứu. - Tăng sự phân phối của các nghiên cứu: Truy cập tới các nguồn DLNC giúp tăng việc phân phối các nghiên cứu này tới nhiều cơ sở dữ liệu khác nhau, thúc đẩy sự trao đổi và tái sử dụng dữ liệu. Để hiểu rõ hơn về quy trình quản lý và trách nhiệm của các bên liên quan, hệ thống quản lý, dịch vụ lưu trữ và chia sẻ DLNC tại Thư viện trường Đại học Oslo, Na Uy được lấy làm ví dụ. Thư viện trường Đại học Oslo, Na Uy với sự ra đời một hệ thống bao gồm trang thiết bị cơ sở vật chất và nguồn nhân lực để quản lý và chia sẻ DLNC. Hệ thống quản lý và dịch vụ lưu trữ, chia sẻ DLNC tại Thư viện trường Đại học Oslo được chia thành hai phần chính: dịch vụ lưu trữ DLNC cho các cá nhân là các nhà nghiên cứu, cho các nhóm dự án nghiên cứu và cho các cơ quan tổ chức ở ngoài; và sử dụng các công cụ để lưu trữ dữ liệu dưới nhiều ngành nghề khác nhau. Tại Đại học Oslo có nhiều nguồn lực khác nhau trong hoạt động phân phối và kiểm soát DLNC. - USIT (Trung tâm tin học của Đại học Oslo) đã thiết lập các hệ thống cho dịch vụ quản lý dữ liệu nhạy cảm tuỳ thuộc vào các chuyên ngành như y tế và giáo dục ở trong trường. Trong đó quản lý dữ liệu và mức độ truy cập dữ liệu tới từng đối tượng người sử dụng dịch vụ. - Bên cạnh đó còn có Trung tâm quốc gia về dịch vụ dữ liệu khoa học xã hội (Norwegian Social Science Data Service) đảm bảo rằng việc duy trì các dịch vụ này phải đúng theo pháp luật. Tuy nhiên, khi người dùng sử dụng dịch vụ này để lưu trữ các DLNC ở hình thức tài liệu nghe, nhìn có liên quan tới các nhóm dự án nhất định, tất cả các thông tin liên quan tới cá nhân, tổ chức, các thông tin nhạy cảm đặc biệt được làm không rõ danh tính vì liên quan tới DLNC, đôi khi về sức khoẻ hay thông tin y tế thì thường hay nhạy cảm, nên tất cả các thông tin lưu trữ phục vụ mục đích nghiên cứu lâu dài phải loại bỏ hết tên, hay các thông tin đời tư khác. Tất cả các thông tin liên quan tới dự án phải được xoá bỏ, nếu là băng đĩa thì phải tiêu huỷ sau khi dự án kết thúc vì liên đới tới trách nhiệm của cơ quan tổ chức khác và để đảm bảo vấn đề về cá nhân. - Norstore: Là một cơ sở hạ tầng quốc gia cho việc lưu trữ dữ liệu khoa học. Đây là cơ quan đầu tiên của Na Uy tiến hành hoạt động đưa DLNC được truy cập mở vì nhu cầu của cộng đồng, những nhà nghiên cứu cần một nơi để lưu trữ dữ liệu an toàn, phục vụ hoạt động nghiên cứu, xuất bản, quản lý DLNC và có thể truy cập mở một phần. Hình dưới đây sẽ chỉ rõ ra trách nhiệm cũng như vai trò của các cơ quan có liên quan trong hoạt động quản lý nguồn DLNC tại Đại học Oslo [7]. alt Hình vẽ phác thảo mô hình thu, nhận, chia sẻ và quản lý DLNC được chia ra thành bốn khu vực. Trong đó hai khu vực đầu tiên thể hiện trách nhiệm của các bên liên quan trong hoạt động đảm bảo DLNC không chỉ đơn thuần được truy cập bởi các nhà nghiên cứu mà được chia sẻ ở một mức độ mở nhất định. Và mức độ mở ấy của dữ liệu sẽ được quy định bởi một số các yếu tố như là yếu tố về mặt pháp lý, bản quyền hoặc yêu cầu thương mại. Ở mức độ 2, đại diện cho giải pháp trung tâm để lưu trữ và chia sẻ DLNC dựa trên tiêu chí an toàn đầu tiên, sau đó dễ dàng tiếp cận trên các nền tảng, hệ thống dữ liệu khác nhau của người dùng. Do đó, các hệ thống khác nhau này cũng đem lại những khó khăn nhất định trong việc truy cập nguồn dữ liệu. Ngoài ra, một số chức năng cần thiết trong hệ thống để đảm bảo các siêu dữ liệu trong DLNC được truy cập ở một mức độ nhất định cũng đem lại những khó khăn cho người truy cập tới nguồn này. Tại Thư viện trường Đại học Oslo, hệ thống này sẽ được đặt trực tiếp trong thư viện để tạo ra một giải pháp kết nối sử dụng DLNC ở mức độ 1 và hướng tới thiết lập hệ thống lưu trữ DLNC cuối cùng ở mức độ 3. Mức độ 3 có liên quan tới việc các DLNC được phân tích và đưa ra các đánh giá phục vụ cộng đồng nghiên cứu, việc này sẽ được xác nhận có lưu trữ dữ liệu này hay không. Ở cấp độ này, một số dữ liệu được lưu trữ sẽ được gắn một mã định danh đối tượng số (DOI) duy nhất, ở đó nội dung của DLNC phải được đảm bảo về mặt chất lượng, siêu dữ liệu (metadata) phải được điền đầy đủ thông tin các trường. Ở cấp độ quốc gia, sẽ có Trung tâm quốc gia về dịch vụ dữ liệu khoa học xã hội, NORSTORE (Trung tâm lưu trữ dữ liệu tại Na Uy) có thể có cả Trung tâm lưu trữ quốc gia Na Uy tham gia vào hoạt động lưu trữ và truy cập mở cho DLNC. Truy cập tới DLNC để phục vụ nhu cầu của người dùng, sau đó dữ liệu được tái sử dụng và lưu trữ, vì vậy luôn đòi hỏi các siêu dữ liệu có chất lượng cao và đi kèm là công nghệ lưu trữ tân tiến, phục vụ mọi loại hình DLNC và nội dung của nó. Hiểu được tầm quan trọng của hoạt động này, các trung tâm nghiên cứu và dịch vụ, trường đại học và viện nghiên cứu ở Na Uy đã liên kết thiết lập nên hệ thống này và vai trò của sự liên kết, hợp tác là việc tìm ra các giải pháp để khắc phục khó khăn phát sinh đi kèm với khó khăn về mặt cơ sở vật chất hạ tầng. Ngày nay, DLNC được chia sẻ dưới nhiều kênh thông tin khác nhau từ email cho tới Dropbox, điều này có thể dẫn tới một số các vấn đề nguy hiểm nếu bị mất dữ liệu hoặc mật khẩu bị lấy cắp. Tình hình lưu trữ dữ liệu của nghiên cứu sinh tại Việt Nam hiện nay Theo dữ liệu thu về từ việc điều tra qua bảng hỏi của 100 nghiên cứu sinh được chọn lọc ở các ngành học khác nhau trong 5 trường đại học thành viên của Đại học Quốc gia Hà Nội cho thấy, quan điểm của nghiên cứu sinh và cách họ lưu trữ các DLNC được thể hiện ở biểu đồ sau đây: alt Các hình thức lưu trữ dữ liệu của nghiên cứu sinh Nhìn vào dữ liệu cho thấy, trong 100 phiếu thu về thì số lượng các nghiên cứu sinh sử dụng dịch vụ lưu trữ ở nước ngoài với hình thức trả tiền đi kèm theo các dịch vụ bảo đảm trọn đời dữ liệu được bảo quản an toàn, được sao lưu tại nhiều nơi, giảm thiểu khả năng mất mát, hỗ trợ khả năng tìm kiếm nhanh gọn dễ dàng, với mỗi hình thức dữ liệu sẽ có gắn một mã định danh đối tượng số duy nhất và có thể truy cập trực tuyến chỉ chiếm 1%. Trong đó có 4% sử dụng các dịch vụ lưu trữ của thư viện, có thể là thư viện ở trường đại học và thư viện ở các viện nghiên cứu, hình thức này ngoài việc an toàn và bảo mật thông tin được đảm bảo thì gần như các cơ quan nói trên không hỗ trợ hình thức tìm kiếm tài liệu trực tuyến. Tuy nhiên, cũng phải kể tới 5% các nghiên cứu sinh sử dụng dịch vụ lưu trữ của các doanh nghiệp trong nước như Cloud Storage của Viettel IDC, hay Datacenter, ngoài những tiện ích của các dịch vụ này như tính an toàn, bảo mật cao, dung lượng không giới hạn, tốc độ tối đa giúp sao lưu phục hồi nhanh chóng, đơn giản dễ sử dụng thì dịch vụ này nhìn chung còn khá đắt tại Việt Nam. Có 15% trong số đó khẳng định nếu họ tham gia dự án trong quá trình làm nghiên cứu sinh thì sẽ trực tiếp sử dụng hình thức lưu trữ của dự án, trong đó mỗi cá nhân chỉ được cấp một mật khẩu và truy cập DLNC có phân cấp. Thực tế là các hình thức lưu trữ dữ liệu chủ yếu là tự lưu trữ dữ liệu trên các thẻ nhớ, ổ cứng, hay sử dụng các dịch vụ miễn phí, nhưng giới hạn về dung lượng, việc lưu trữ trên các thiết bị tự do chiếm đa số tới 80%, lưu trữ không giới hạn về dung lượng nhưng việc phải lưu nhiều lần trên các hình thức lưu trữ khác nhau, không đảm bảo về mặt an toàn và bảo mật dữ liệu, khi tìm lại dữ liệu có thể gây khó khăn, thông tin dễ bị lấy cắp, là một trong những hạn chế đáng kể của hình thức này. Hình thức lưu trữ dữ liệu tại các trung tâm thông tin - thư viện ở Việt Nam Tại Việt Nam, hình thức lưu trữ DLNC còn khá mới mẻ, theo khảo sát tại một số các trung tâm thông tin - thư viện và viện nghiên cứu cho thấy, đa số chưa có hình thức dịch vụ lưu trữ này. Các dịch vụ thư viện vẫn còn dừng lại ở hình thức phục vụ người dùng tin sử dụng và tra cứu thông tin như: dịch vụ cung cấp tài liệu theo yêu cầu, đăng ký sử dụng thư viện, số hoá tài liệu, bảo quản tài liệu. Với xu thế hiện nay, việc các nhà nghiên cứu tại các đơn vị và viện nghiên cứu phát triển được đem lại nguồn lợi về cả vật chất và danh tiếng cho cơ quan đó, vì vậy, mỗi trung tâm thông tin - thư viện cần phải hiểu được tầm quan trọng của DLNC là một nguồn dữ liệu có giá trị, nhưng đi kèm với đó là yêu cầu của nguồn nhân lực có kỹ năng và trình độ cao, tài chính để duy trì và tạo ra chúng. Để đi cùng xu thế phát triển, các trung tâm thông tin - thư viện cần lên kế hoạch chi tiết cho việc hỗ trợ hoạt động thu thập và quản lý nguồn dữ liệu này bằng cách xác định các mục tiêu sau: - Những dữ liệu nghiên cứu nào sẽ được tạo ra và sẽ thu thập. - Ai sẽ chịu trách nhiệm cho mỗi khía cạnh của hoạt động quản lý mà nhà nghiên cứu sẽ giao nộp dữ liệu. - Cần có những chính sách gì bao gồm cả hoạt động tài chính và pháp lý sẽ áp dụng lên dữ liệu đó. - Dữ liệu sẽ được tổ chức theo hình thức nào. - Những trang thiết bị nào sẽ cần thiết: phần cứng, phần mềm, sao lưu dữ liệu, lưu trữ và bảo quản. - Ai sẽ có quyền sở hữu và truy cập. - DLNC sẽ được bảo quản và truy cập mở trong thời gian như thế nào. Kết luận Với sự phát triển không ngừng của các tiến bộ khoa học kỹ thuật, ngày càng có nhiều những nghiên cứu mới ra đời phục vụ nhu cầu và sự phát triển của con người, điều này cũng đặt ra thách thức mới cho các trung tâm thông tin - thư viện là làm thế nào để quản lý nguồn DLNC được hiệu quả, thúc đẩy quá trình nghiên cứu và rút ngắn thời gian nghiên cứu. Các nhà nghiên cứu, khoa học, học giả và các nhà yêu thích khoa học đang ngày đêm tạo ra một khối lượng dữ liệu mới, điều này đặt ra thách thức với các trung tâm thông tin - thư viện phải đầu tư cơ sở hạ tầng và nguồn nhân lực để thu thập và quản lý nguồn dữ liệu có giá trị này. Tài liệu tham khảo 1. Elsevier. Research data management. http:// www.elsevier.com/about/open-science/research-data/research-data-management. Retrieved 24/2/2017. 2. Kuula, A. andBorg, S. Open Access to and Reuse of Research Data -The State of the Art in Finland. http://www.fsd.uta.fi/fi/julkaisut/julkaisusarja/FSDjs07_OECD_en.pdf. 3. National Science Foundation. Long-Lived Digital data collections: Enabling research and education in the 21st century. http://www.nsf.gov/pubs/ 2005/nsb0540/nsb0540.pdf. 4. OECD. Principles and Guidelines for Access to Research Data from Public Funding. http://www.oecd.org/science/sci-tech/38500813.pdf. 5. Research Data Management. http://www.bu.edu/datamanagement/. Retrieved 24/2/2017. 6. UK Data Archive. Research data lifecycle. http:// www.data-archive.ac.uk/create-manage/life-cycle. Retrieved 6/2/2017. 7. University of Oslo. The data explosion - a major challenge, and a great opportunity! http://www.uio.no/english/for-employees/support/research/research-data/ engelskversjonrapport. pdf. Retrieved 6/2/2017. _____________ ThS. Nguyễn Thị Kim Lân Khoa Thông tin - Thư viện, trường ĐH KHXH&NV, Đại học Quốc gia Hà Nội Nguồn: Tạp chí Thư viện Việt Nam. - 2017. - Số 3. - Tr. 19-24,42. 
 
​Mở đầuTrong những năm gần đây, lĩnh vực dịch vụ ngày càng đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, theo đó chất lượng dịch vụ luôn là vấn đề được nhà sản xuất dịch vụ quan tâm nhiều nhất. Người sử dụng dịch vụ luôn mong đợi và yêu cầu chất lượng dịch vụ phải tốt hơn bao giờ hết. Chính vì vậy, việc đảm bảo chất lượng dịch vụ mà hoạt động chính là đánh giá chất lượng dịch vụ đã trở thành... 
 
Nhằm hưởng ứng ngày Sách Việt Nam (21/04), ngày Sách và Bản quyền thế giới (23/04) do Chính phủ và Bộ Giáo dục - Đào tạo phát động, sáng ngày 20/04/2018, tại Thư viện Phạm Văn Đồng, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân đã diễn ra ngày hội sách do Trung tâm Thông tin - Thư viện, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân; Hội Thư viện Việt Nam cùng Chi hội Thư viện khối Kinh tế thuộc khu vực Hà Nội đồng tổ chức. Với chủ đề “Sách - Tri thức kiến tạo tương lai”, Ngày Hội Sách Việt Nam lần thứ 5 được tổ chức nhằm tiếp tục khẳng định, tôn vinh những giá trị của Sách, khẳng định vai trò, vị trí, tầm quan trọng của sách trong đời sống xã hội; tôn vinh những người làm công tác sưu tầm, sáng tác, xuất bản, in, phát hành, lưu giữ, quảng bá sách; khuyến khích và phát triển phong trào đọc sách trong cộng đồng; nâng cao nhận thức của nhân dân về ý nghĩa to lớn và tầm quan trọng của việc đọc sách đối với việc tiếp thu kiến thức, kỹ năng, phát triển tư duy, giáo dục và rèn luyện nhân cách con người; nâng cao trách nhiệm của các cấp, các ngành, các cơ quan chức năng và các tổ chức xã hội đối với việc xây dựng và phát triển văn hóa đọc Việt Nam. Tham gia ngày hội sách tại Thư viện Trường Đại học Kinh tế Quốc dân có sự tham gia của các đơn vị Thư viện Phạm Văn Đồng - Trường Đại học Kinh tế Quốc dân; Thư viện Học viện Ngân hàng; Thư viện World Bank; Thư viện Trung tâm Thông tin và Dự báo Kinh tế – Xã hội Quốc gia; Thư viện Trung tâm Thông tin – Tư liệu Viện nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương; cùng một số đơn vị, công ty IGroup (Asia Pacific) Limited; Công ty D&L; Công ty IDT Việt Nam; Công ty Nam Hoàng… Ngày hội sách là cơ hội cho các bạn sinh viên yêu thích đọc sách được giao lưu.  
 
Ngày nay, sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin đã tạo ra hàng loạt các sản phẩm công nghệ hiện đại và có tính ứng dụng cao. Các loại hình sản phẩm này đã tác động và làm biến đổi về chất các loại hình thư viện truyền thống. Từ đó dần hình thành loại hình thư viện số tại Việt Nam. Trước hết, chúng ta cần hiểu rõ khái niệm về thư viện số: Thư viện số là tập hợp của các máy tính số, các thiết bị máy móc lưu trữ và trao đổi thông tin cùng với bối cảnh và phần mềm cần thiết để sản xuất và cung cấp các dịch vụ thông tin thư viện tương tự như các thư viện truyền thống vẫn làm đối với tài liệu giấy và các loại hình tài liệu truyền thống khác trong qua trình thu thập, biên mục, tìm kiếm và phố biến thông tin…hay nói cách khác thư viện số chính là nơi sử dụng công nghệ để chuyển câu hỏi thành câu trả lời. Các thư viện số là các tổ chức cung cấp nguồn lực, trong đó bao gồm các chuyên gia, để lựa chọn thông tin, cấu trúc hóa, đưa ra các phương thức truy cập và phân phối thông tin hiệu quả, cũng như đảm bảo sự toàn vẹn và của bộ sưu tập số sao cho chúng luôn sẵn sàng và kinh tế để phục vụ một cộng đồng cụ thể hoặc một nhóm cộng đồng. Tính năng vượt trội Bắt nguồn từ sự phát triển của Internet, thư viện số đã trải qua một vài giai đoạn phát triển và có những thành tựu quan trọng trong việc cung cấp nguồn thông tin và dịch vụ tốt hơn và thuận tiện hơn cho người dùng tin. Việc số hóa tài liệu sẽ giúp giảm thiểu đáng kể diện tích, không gian lưu giữ; Thứ hai là giúp việc bảo quản, duy trì tuổi thọ của tài liệu truyền thống được lâu hơn; Thứ ba là dễ dàng mở rộng phạm vi cộng đồng người sử dụng nguồn tài nguyên thông tin của cơ quan thông tin, thư viện; Thứ tư là tiện ích trong việc truy xuất tìm kiếm thông tin ở bất kỳ đâu vào bất cứ thời điểm nào một cách nhanh chóng, dễ dàng; Thứ năm là thuận lợi trong việc chia sẻ nguồn tài nguyên thông tin của thư viện với các thư viện khác. Thứ sáu là giảm thiểu tối đa sức người, sức của cho việc quản lý nguồn tài nguyên thông tin truyền thống; Thứ bảy là góp phần nhanh chóng tái tạo thông tin mới có giá trị gia tăng cao hơn. Khó khăn và thách thức Do cấu trúc và tính năng hiện đại, thư viện số hoạt động dựa trên cơ sở là những thành tựu mới nhất về công nghệ thông tin, bởi vậy, việc ứng dụng thư viện số đã gặp phải không ít những khó khăn và thách thức. Thách thức đầu tiên đến từ các vấn đề kỹ thuật, mà quan trọng nhất là vấn đề lưu trữ nguồn tài liệu dạng số. Để có thể cung cấp lượng thông tin cần thiết, cả dạng số và truyền thống, các thư viện số phải thu thập và lưu trữ một số lượng lớn các thông tin chất lượng cao. Thông tin số hoá do đó là một phần quan trọng của vốn tài liệu. Tuy nhiên, đây là một nhiệm vụ nặng nề bởi việc lưu trữ và bảo quản tài liệu số cần có một số những yêu cầu cụ thể, đặc biệt là đối với tất cả những tư liệu số đặc biệt, độc đáo với những yếu tố then chốt cần phải được lưu trữ, đó là khả năng cho phép sao chép một cách hoàn hảo, cho phép truy cập không giới hạn về đồ hoạ. Bản chất và phạm vi của việc lưu trữ thông tin số hoá dài hạn đòi hỏi các hoạt động hợp tác giữa các tổ chức. Không một cơ quan riêng lẻ nào có khả năng thực hiện vai trò lưu trữ tất cả các tài liệu số và các thoả thuận và liên minh hợp tác là cần thiết để có thể xử lý được một loạt các vấn đề, ví dụ như phân chia trách nhiệm cho từng lĩnh vực hoặc loại hình tài liệu cụ thể, mức độ trùng lắp thông tin lưu trữ, hoặc các điểm truy cập, các nguồn tài chính, và các quốc gia hoặc vùng khác nhau. Một thách thức khác được đặt ra đó là tác quyền và việc truy cập thông tin bởi lẽ vật mang tin số không giống như các vật mang tin truyền thống như sách báo, CD,…Hơn nữa, các thư viện và cơ quan lưu trữ cũng có thể quan tâm đến việc số hoá một số tài liệu cũ. Tài liệu này có thể không có bán trên thị trường nữa nhưng vần còn bản quyền. Nếu thư viện muốn số hoá tài liệu này, họ phải, hoặc là yêu cầu cấp giấy phép từ người giữ bản quyền cho phép số hoá tài liệu, hoặc là chấp nhận nguy cơ bị kiện và tiến hành số hoá tài liệu. Hỗ trợ bạn đọc tìm kiếm thông tin là một trong những dịch vụ then chốt của thư viện số. Điều này cũng tạo ra một thách thức lớn cho cán bộ thư viện số, những người phải hoàn thành nhiệm vụ khó khăn là hỗ trợ người sử dụng tìm kiếm thông tin trong môi trường web. Bên cạnh những thách thức trên, để có thể cung cấp nguồn tài liệu số phong phú, tất nhiên còn rất nhiều thách thức khác mà thư viện số phải đối mặt, ví dụ như sự phát triển liên tục của cơ sở hạ tầng thông tin toàn cầu dẫn đến những thay đổi về công nghệ; sự phát triển của các công nghệ hỗ trợ việc tìm kiếm thông tin trên mạng; tuân thủ và phát triển các tiêu chuẩn về tính năng hoạt động liên thông và thư viện số liên kết. Để xây dựng được một nền CNND ở tầm quốc gia cần phải: Có một hành lang pháp lý đủ mạnh để: một mặt, tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân tìm kiếm, xử lý, số hoá, bao gói, chuyển giao thông tin; mặt khác, bảo vệ thiết thực bản quyền tác giả đối với các CSDL cũng như những thông tin mà các cá nhân, tổ chức sở hữu và tất nhiên là bảo đảm bí mật quốc gia; Có sự phối hợp chặt chẽ về mặt tổ chức, liên kết, phân công phân mảng giữa các cơ quan có hoạt động số hoá tài liệu; Có lực lượng cán bộ chuyên trách thu thập, số hoá, bao gói thông tin (lực lượng này không phải chỉ là cán bộ thông tin, thư viện); Trang bị các thiết bị hiện đại cho các cơ sở tham gia số hoá: ví dụ các máy quét chuyên dụng (nhanh, chất lượng cao, quét được các khổ lớn, màu sắc đẹp...); các USB, các máy chủ sao lưu với dung lượng lớn (hàng nghìn GB); các máy sao CD chuyên dụng,... Đặc biệt, đối với Việt Nam- một quốc gia còn rất phụ thuộc và bị động với nền công nghệ thế giới thì việc ứng dụng và sử dụng một cách hiệu quả thư viện số là một vấn đề hết sức khó khăn và phức tạp. Tuy nhiên nhìn chung, việc tiến tới thư viện số là xu hướng tất yếu, là mong muốn của mỗi thư viện. Bởi vậy, để có được một thư viện số hoạt động có hiệu quả, phát huy được thế mạnh “thông tin đặc thù” của mình, cơ quan chủ quản cần có kế hoạch sát thực, lựa chọn bước đi phù hợp, phải có chương trình thu thập, số hoá tài liệu và tạo lập các CSDL một cách đầy đủ, kịp thời, đặc biệt là các CSDL toàn văn với các tài liệu có giá trị lâu dài thuộc phạm vi bao quát của cơ quan. (theo http://vanhoa.gov.vn/)  
 
Để giúp cho người đọc và người dùng tin có thể tra cứu được tài liệu một cách dễ dàng, thuận lợi các thư viện trên thế giới nói chung và các thư viện ở Việt Nam nói riêng đã luôn dành sự quan tâm đặc biệt cho các khâu xử lý thông tin, xử lý tài liệu. Trong những năm gần đây, cộng đồng thư viện Việt Nam đã luôn quan tâm đến việc chuẩn hoá công tác xử lý tài liệu và đã bắt đầu triển khai một số chuẩn nghiệp vụ như: MARC21 cho biên mục đọc máy, AACR2 cho mô tả tài liệu, DDC cho phân loại tài liệu… Trên thực tế, bên cạnh những khâu xử lý đã bước đầu được chuẩn hoá trên, cũng còn một số khâu xử lý còn bỏ ngỏ, việc xử lý còn phụ thuộc nhiều vào quy định của từng cơ quan. Trong số đó, có hai khâu cần được quan tâm là định từ khoá và định chủ đề tài liệu. Trước khi thực hiện bài viết này, chúng tôi đã tiến hành khảo sát và điều tra 52 thư viện. Qua kết quả điều tra, chúng tôi được biết có 44 thư viện (chiếm 84,6%) có áp dụng định từ khoá và 23 thư viện (44,2%) áp dụng định chủ đề. Trong số đó, có tới 28 thư viện tiến hành định từ khoá tự do, hoặc theo những quy định cụ thể của nội bộ thư viện đó. Việc định chủ đề được tiến hành hoàn toàn tự do hoặc có thư viện dựa vào bảng tra cứu chủ đề của bảng phân loại mà thư viện áp dụng. Từ thực tiễn đó, chúng tôi thấy có một số vấn đề cần xem xét. Nếu xem xét trên bình diện lịch sử, công tác định chủ đề tài liệu đã bắt đầu được triển khai từ thời kỳ thuộc Pháp. Ở các thư viện lớn như: Thư viện Trung ương Đông Dương (nay là Thư viện Quốc gia Việt Nam), Thư viện trường Viễn Đông Bác Cổ, Thư viện trường Đại học Y Dược, mục lục chủ đề được tổ chức cùng với mục lục tác giả. Mục lục chủ đề là một loại mục lục cơ bản phản ánh nội dung vốn tài liệu trong những năm đầu thế kỷ XX. Ở trong các thư viện lớn, các đề mục chủ đề đã được xây dựng bằng tiếng Pháp do đối tượng sử dụng thư viện vào thời bấy giờ chủ yếu là người Pháp và các công chức phục vụ cho Pháp. Từ năm 1954 đến năm 1960, sau khi tiếp quản Hà Nội, các thư viện lớn ở Hà Nội tiếp tục tổ chức mục lục chủ đề với tư cách là ngôn ngữ tìm tin cơ bản và duy nhất theo nội dung. Một hệ thống các đề mục chủ đề bằng tiếng Việt đã được xây dựng và sử dụng trong các thư viện lớn. Song việc làm này còn tuỳ tiện, không có thư viện nào biên soạn thành bảng đề mục chủ đề hoặc thậm chí dưới dạng hộp phiếu chủ đề công vụ. Tại Thư viện Quốc gia Việt Nam (TVQG), mục lục chủ đề được tổ chức đến năm 1960, Viện Thông tin Khoa học Xã hội, mục lục chủ đề chỉ tồn tại đến năm 1958. Từ những năm đầu của thập kỷ 60, một số thư viện lớn ở miền Bắc không tiến hành định chủ đề và xây dựng mục lục chủ đề nữa. Lúc bấy giờ, nhiều nhà thư viện của Việt Nam chịu ảnh hưởng quan điểm của một số nhà thư viện Liên Xô cho rằng mục lục phân loại là mục lục duy nhất phản ánh nội dung kho sách một cách khoa học. Một số thư viện lớn như TVQG, Thư viện Khoa học Kỹ thuật Trung ương, Thư viện Khoa học Xã hội chỉ tổ chức mục lục phân loại và không tổ chức mục lục chủ đề nữa. Nhưng trên thực tế, để giúp cho người đọc tra cứu được dễ dàng, bản thân mục lục phân loại không tồn tại được độc lập. Thiếu ô tra chủ đề chữ cái “Sách hướng dẫn trực tiếp để tìm một cách nhanh chóng trong mục lục phân loại các tài liệu mà người đọc quan tâm”, (1) mục lục phân loại sẽ khó phát huy hết tác dụng. Vì vậy, song song với việc tổ chức mục lục phân loại các thư viện còn tổ chức ô tra chủ đề chữ cái. Tuy nhiên, trong thực tiễn hoạt động thư viện ở Việt Nam đã hình thành hai khuynh hướng: Nếu như ở các thư viện lớn, các thư viện tỉnh và thành phố có xu thế chú trọng việc tổ chức mục lục phân loại thì ở các thư viện chuyên ngành, mục lục chủ đề vẫn tiếp tục được xây dựng làm loại mục lục chính. Bên cạnh đó, rất nhiều thư viện tổ chức các hộp phiếu chuyên đề. Trong hộp phiếu chuyên đề, tư liệu được phản ánh theo các chủ đề. Nhưng hộp phiếu chuyên đề không phản ánh toàn bộ nội dung vốn tài liệu của thư viện mà chỉ tập trung vào một số vấn đề được người đọc tại thư viện quan tâm. Đối với các thư viện chuyên ngành do tính chất đặc thù và mục đích phục vụ cho các cán bộ nghiên cứu thuộc các ngành chuyên môn khác nhau, việc sử dụng ngôn ngữ tìm tin theo chủ đề cũng không hoàn toàn thống nhất. Có một số thư viện tự biên soạn bảng danh mục chủ đề cho thư viện mình, ví dụ: Thư viện Trường đại học Y, Thư viện Trường đại học Dược (trước đây). Có một số thư viện khác sử dụng các bảng đề mục chủ đề của nước ngoài và dùng luôn thuật ngữ bằng các tiếng nước ngoài đó mà không cần phải chuyển dịch sang tiếng Việt. Ví dụ: Thư viện Y học Trung ương sử dụng bảng đề mục chủ đề Y học (Medical Subject Headings - viết tắt là Me.S.H.) của thư viện Y học Quốc gia Mỹ biên soạn; Trung tâm Thông tin Bộ Nông nghiệp và Công nghiệp thực phẩm đang sử dụng nguyên bản bảng danh mục chủ đề của hệ thống Thông tin Quốc tế về khoa học và kỹ thuật nông nghiệp của tổ chức FAO; Thư viện Viện Triết học và một số viện nghiên cứu, thư viện trường đại học định chủ đề tự do… Vào những năm 1990, cùng với xu hướng tin học hoá thư viện, công tác định chủ đề bắt đầu được quan tâm trở lại và công tác định từ khoá được triển khai rộng rãi trong các thư viện và cơ quan thông tin ở Việt Nam. Thời gian đầu các thư viện tiến hành định từ khoá tự do. Chất lượng của các từ khoá chưa thật đảm bảo và hiện tượng nhiễu tin còn phổ biến gây không ít khó khăn cho người tra tìm tài liệu. Trước thực tế đó, yêu cầu kiểm soát về mặt từ vựng đã được đặt ra. Một số bộ từ khoá quy ước và từ điển từ khoá đã được biên soạn, tiêu biểu là: Bộ Từ khoá quy ước của TVQG (đến năm 2005 được bổ sung, biên tập lại và đổi tên là Bộ từ khoá); Từ điển Từ khoá Khoa học và Công nghệ của Trung tâm Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia và Bộ từ khoá Khoa học Xã hội và Nhân văn của Viện Thông tin Khoa học Xã hội… Sau đây, chúng tôi xin điểm qua một vài nét khái lược về các bộ từ khoá đó. Thứ nhất là Bộ Từ khoá của TVQG. Bộ Từ khoá này đã được biên soạn và xuất bản lần đầu năm 1997 với tên gọi Bộ Từ khoá quy ước trên cơ sở vốn từ khoá tự do của CSDL SACH (được nhập từ năm 1975-1991) của TVQG. Đây là bộ từ khoá quy ước đầu tiên được xây dựng tại TVQG. Bộ từ khoá ban đầu có khoảng 8000 từ. Đến năm 2005, Bộ Từ khoá đã được chỉnh lý bổ sung trên cơ sở chọn lọc từ 43.000 từ khoá đã được sử dụng trong các cơ sở dữ liệu của TVQG. Diện đề tài bao quát vốn từ vựng của Bộ từ khoá là đề tài tổng hợp, phản ánh vốn tài liệu đa dạng của TVQG. Thứ hai là Từ điển Từ khoá Khoa học và Công nghệ của Trung tâm Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia. Từ điển Từ khoá Khoa học và Công nghệ được biên soạn trên cơ sở Bộ Từ khoá đa ngành Khoa học Tự nhiên và Công nghệ do Trung tâm biên soạn năm 1997. Sau một thời gian sử dụng tại một số các thư viện và cơ quan thông tin, năm 2001, Bộ từ khóa được chỉnh lý và xuất bản dưới dạng Từ điển Từ khoá. Diện đề tài bao quát của Từ điển Từ khoá là về lĩnh vực khoa học tự nhiên và khoa học công nghệ. Thứ ba là Bộ Từ khoá Khoa học Xã hội và Nhân văn do Viện Thông tin Khoa học Xã hội biên soạn và hoàn tất vào năm 2005. Đây là một bộ từ khoá đa ngành, tập hợp khoảng 40.000 thuật ngữ thuộc các lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn như: Triết học, tâm lý học, xã hội học, các khoa học kinh tế, lịch sử, khảo cổ học, nghiên cứu văn hoá, dân tộc học, ngôn ngữ học, nghiên cứu văn học... Vốn từ khoá trong bộ từ khoá này được lựa chọn từ các từ khoá được sử dụng trong các cơ sở dữ liệu của Viện Thông tin Khoa học Xã hội và các thư viện nghiên cứu chuyên ngành thuộc Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia trong nhiều năm, tính đến thời điểm tháng 6 năm 2002. Trong công tác định chủ đề, cũng có một số thư viện đã tiến hành những việc làm thiết thực để hướng tới xây dựng một bảng đề mục chủ đề có khả năng đưa ra áp dụng rộng rãi. TVQG đã cho trích dịch bảng danh mục chủ đề của Thư viện Quốc hội Mỹ. Bảng dự thảo các đề mục chủ đề gồm trên 5000 khái niệm, thuật ngữ bước đầu được coi là tài liệu tham khảo trong công tác định chủ đề. Tuy nhiên, do điều kiện có hạn, TVQG mới chỉ tiến hành dịch tên của chủ đề chứ chưa dịch đầy đủ các tham chiếu và phụ đề cho các chủ đề. Bên cạnh bảng đề mục chủ đề dự thảo của TVQG, Câu lạc bộ thư viện với sự hỗ trợ của Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh cũng đã đã tiến hành biên soạn cuốn Chọn tiêu đề đề mục cho thư viện. Tìm hiểu, khảo cứu các bộ từ khoá và bảng đề mục chủ đề của Việt Nam hiện hành, chúng ta sẽ thấy có một số điểm đáng chú ý sau: Thứ nhất: Các quy định về chính tả được áp dụng trong các bộ từ khoá và đề mục chủ đề chưa được thống nhất. Vấn đề thể hiện tên người, tên địa danh vẫn còn tồn tại nhiều điểm chưa nhất quán. Từ điển Từ khoá Khoa học và Công nghệ có xu hướng dùng chữ y trong khi Bộ từ khoá của TVQG có xu hướng dùng chữ i đối với các thuật ngữ có tận cùng bằng chữ i như: qui tắc, kĩ thuật, qui trình,…Tên người, tên địa danh của nước ngoài có nơi áp dụng phiên tự, có nơi áp dụng phiên âm… Thứ hai: Quy định về cách thể hiện các tham chiếu giữa các thư viện và cơ quan thông tin cũng chưa hoàn toàn thống nhất. Ví dụ: Trong Bộ Từ khoá của TVQG, quan hệ tương đương (quan hệ đồng nghĩa) giữa các thuật ngữ được thể hiện và kiểm soát bởi hai tham chiếu xem và dùng cho (DC). Tham chiếu “xem” để chỉ dẫn từ không quy ước đến từ quy ước và đặt trước từ được ưu tiên sử dụng. Ký hiệu tham chiếu “DC” (dùng cho) được đặt sau từ được ưu tiên sử dụng và đặt trước từ không ưu tiên là từ đồng nghĩa với từ ưu tiên. Có thể lấy một ví dụ cụ thể là: Đậu nành Xem Đậu tương Đỗ tương Xem Đậu tương Đậu tương DC Đậu nành Đỗ tương (3) Trong khi đó, trong Từ điển Từ khoá Khoa học và Công nghệ và Bộ Từ khoá Khoa học Xã hội và Nhân văn sử dụng 2 tham chiếu: Dùng cho (DC) và Sử dụng (SD). Ví dụ: Đóng bao SD Đóng gói Đóng gói DC Gói Bao gói Đóng kiện (5) Hay: Bách khoa toàn thư SD: Bách khoa thư Bách khoa thư DC: Bách khoa toàn thư...(4) Trên thực tế, đối với người sử dụng, tham chiếu xem hay sử dụng cùng có mục đích chỉ dẫn người làm công tác định từ khoá lựa chọn các thuật ngữ sau tham chiếu để mô tả cho khái niệm khi xử lý tài liệu. Tuy nhiên, nếu có sự thống nhất về cách quy ước, các bộ từ khoá có thể dễ dàng tích hợp để sử dụng chung một cách rộng rãi hơn. Thứ ba, trong các bảng đề mục chủ đề và bộ từ khoá của Việt Nam hiện nay chủ yếu mới chỉ thiết lập các tham chiếu thể hiện mối quan hệ ngữ nghĩa tương đương và quan hệ liên đới chứ chưa thiết lập được các tham chiếu thể hiện mối quan hệ thứ bậc (bao gồm từ rộng (TR), từ hẹp (TH) và Từ đỉnh (TĐ) như đối với từ điển từ chuẩn hay các bảng đề mục chủ đề chuẩn của một số nước ngoài và tổ chức quốc tế). Từ thực tiễn công tác xử lý tài liệu theo từ khoá và chủ đề để có thể khẳng định: Định từ khoá và định chủ đề là các khâu xử lý đang được áp dụng rộng rãi ở Việt Nam hiện nay. Trong tra cứu tìm tin, ngôn ngữ tìm tin theo chủ đề và từ khoá đã trở nên thông dụng và quen thuộc với người đọc và người dùng tin. Mặc dù đã có sự hình thành và áp dụng rộng rãi trong các thư viện và cơ quan thông tin nhưng cho đến nay ở Việt Nam hiện nay chưa hình thành một chuẩn chung về định từ khoá và định chủ đề. Việt Nam chưa xây dựng một bảng đề mục chủ đề hay từ điển từ chuẩn nào để có thể sử dụng mang tính thống nhất, rộng rãi trong phạm vi cả nước. Để hướng tới sự chuẩn hoá công tác định từ khoá và định chủ đề tài liệu, chúng tôi xin đề xuất một số biện pháp sau: 1. Các thư viện và cơ quan thông tin đầu ngành cần sớm có sự phối kết hợp trong việc biên soạn một bộ từ điển từ chuẩn. Để có thể rút ngắn thời gian, các thư viện có thể kế thừa các bộ từ khoá và từ điển từ khoá hiện hành: lựa chọn, tích hợp và đặt ra các quy ước thống nhất về chính tả và việc diễn đạt từ vựng. Từ điển từ chuẩn sẽ trở thành công cụ quan trọng góp phần chuẩn hoá công tác định từ khoá. 2. TVQG và các thư viện lớn cần sớm bắt tay vào xây dựng một bảng đề mục chủ đề trên cơ sở rà soát lại các đề mục chủ đề đã được sử dụng trong công tác xử lý tài liệu tại các thư viện qua hệ thống mục lục chủ đề và có thể tham khảo thêm một số bảng đề mục chủ đề của nước ngoài như: Đề mục chủ đề của Thư viện Quốc hội, Đề mục chủ đề Sear, bảng RAMEAU của Thư viện Quốc gia Pháp. 3. Đẩy mạnh hơn nữa công tác biên mục tập trung và biên mục trong ấn phẩm để các thư viện có điều kiện sử dụng các sản phẩm biên mục có sẵn, vừa tiết kiệm được thời gian công sức, vừa đảm bảo tính chính xác và thống nhất trong biên mục. 4. Các cơ quan chức năng từng bước xây dựng và thông qua Tiêu chuẩn Việt Nam về xử lý tài liệu theo chủ đề và từ khoá. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Becdichepxkaia, Ch.M. Bảng chỉ dẫn chủ bên cạnh mục lục phân loại của thư viện khoa học/Đỗ Hữu Dư dịch. - H. - 1972. 2. Bảng đề mục chủ đề dự thảo. - H.: Thư viện Quốc gia Việt Nam, 1991. 3. Bộ từ khoá. - H.: Thư viện Quốc gia Việt Nam, 2005. 4. Bộ từ khoá khoa học xã hội và nhân văn. - H.: Viện Thông tin Khoa học Xã hội, 2005. - 2T. 5. Từ điển từ khoá khoa học và công nghệ. - H.: Trung tâm Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc Gia, 2001. 6. Nghiên cứu xây dựng bộ từ khoá cho các cơ sở dữ liệu đa ngành khoa học tự nhiên và kỹ thuật: báo cáo tổng kết đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ.- H.: Trung tâm Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia, 1997. ______________ Ths. Vũ Dương Thuý Ngà: Đại học Văn hoá Hà Nội (Nguồn: Tạp chí Thư viện Việt Nam)  
 
I/ Sự cần thiết áp dụng các chuẩn nghiệp vụ quốc tế: 1/ Từ ý tưởng: “Thống nhất-Chuẩn hóa”: Vấn đề “thống nhất và chuẩn hóa” về tổ chức và nghiệp vụ của thư viện Việt Nam đã được các nhà lãnh đạo Vụ Thư viện - Bộ Văn hóa – Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) nêu lên khá sớm, từ những năm cuối của thế kỷ trước. Ý tưởng đó càng trở nên bức xúc hơn sau những chuyến thăm và làm việc với đại diện các hệ thống thư viện Việt Nam năm 1999 của Tiến sỹ Christine De Sam – Chủ tịch IFLA. Điều dễ nhận thấy là, trước năm 2000, mạng lưới thư viện Việt Nam tuy phát triển khá nhanh nhưng thiếu thống nhất về tổ chức, chưa có các văn bản pháp quy cần thiết, có đủ sức mạnh đảm bảo cho sự phát triển của thư viện nói chung. Về chuyên môn nghiệp vụ, từ phân loại tới mô tả, biên mục,... càng thiếu thống nhất hơn, mỗi nơi thực hiện một kiểu, không theo một chuẩn mực thống nhất nào. Với tình hình tổ chức và nghiệp vụ như vậy thì làm sao mạng lưới thư viện nước ta có thể có thể tạo nên sức mạnh nội sinh để bước vào kỷ nguyên hội nhập thế giới. Tại hội thảo quốc tế: "Hệ thống và Tiêu chuẩn cho Thư viện Việt Nam" họp tại Hà Nội từ ngày 26/9 đến 28/9/2001, việc áp dụng các chuẩn nghiệp vụ trong hoạt động thông tin - thư viện của nước ta trong những năm đầu Thiên niên kỷ mới đã được đại diện lãnh đạo Bộ Khoa học – Công nghệ, Bộ Văn hóa – Thông tin, Bộ Giáo dục - Đào tạo và giám đốc các Thư viện, Trung tâm thông tin Việt Nam nhất trí tán thành. Các chuẩn đó được xác định là: Khung phân loại Dewey (DDC), Khổ mẫu trao đổi thư mục MARC21 và quy tắc biên mục Anh-Mỹ AACR2. Dựa trên việc chuẩn hoá nghiệp vụ, các thư viện sẽ thực hiện tốt việc dùng chung tài liệu qua mạng trên phạm vi quốc gia và quốc tế, sử dụng các công nghệ tiên tiến trong các hoạt động thông tin-thư viện, nâng cao chất lượng dịch vụ, tiếp cận với thư viện các nước trong khu vực và thế giới. Như vậy, việc áp dụng các chuẩn quốc tế về nghiệp vụ vừa là đòi hỏi bức xúc của bản thân hoạt động thư viện trong nước, vừa phù hợp với thời kỳ hội nhập toàn diện với thế giới của đất nước ta. 2/ Đến việc lựa chọn các chuẩn nghiệp vụ quốc tế: Việc lựa chọn 3 chuẩn nghiệp vụ quốc tế tiêu biểu bao gồm: DDC, AACR2, MARC21 đã được đại diện các thư viện lớn, đầu ngành trao đổi khá kỹ tại các hội nghị, hội thảo quốc tế và trong nước. Các ý kiến đều thống nhất đánh giá ưu điểm của các chuẩn đã lựa chọn như sau: * Khổ mẫu MARC21: Là khổ mẫu nổi tiếng và được cộng đồng thông tin-thư viện sử dụng rộng rãi trên thế giới. Đến nay đã có một khối lượng khổng lồ các biểu ghi theo MARC21 hiện đang được lưu trữ trong các mục lục liên hợp của Hoa Kỳ (800 triệu biểu ghi), của mạng OCLC (50 triệu biểu ghi), của Thư viện Quốc hội Mỹ (20 triệu biểu ghi). Mặc dù đã có một số nước và thậm chí một vài hệ thống thư viện đã xây dựng cho riêng mình các phiên bản của MARC, nhưng các phiên bản đó vẫn không trở thành một tiêu chuẩn quốc tế. MARC21 đang trở thành một tiêu chuẩn quốc tế, vì đa số các nước nói tiếng Anh bây giờ đang sử dụng. Hầu hết các hệ quản trị thư viện lớn và nhỏ trên thị trường hiện nay đều sử dụng khổ mẫu MARC21 như một sự lựa chọn tối ưu nhất. Áp dụng khổ mẫu MARC21, Thư viện Việt Nam sẽ có điều kiện trao đổi dữ liệu biên mục với các thư viện lớn trên thế giới, nhất là các thư viện lớn của Hoa Kỳ. * Quy tắc biên mục Anh-Mỹ (AACR2) là bộ quy tắc nổi tiếng trên thế giới. Công trình AACR2 được đánh giá là đã đặt nền tảng cho sự hợp tác biên mục quốc gia và quốc tế. Vì vậy, AACR2 được sử dụng rộng rãi trên thế giới. Áp dụng quy tắc biên mục AACR2, Thư viện Việt Nam dễ dàng hội nhập vào cộng đồng quốc tế, nhất là việc tiếp cận và trao đổi thông tin về thư mục trên Internet. Trên cơ sở thống nhất cả nước áp dụng AACR2, chúng ta sẽ tạo nên tiền đề quan trọng bậc nhất để đi tới việc xây dựng các mục lục liên hợp quốc gia và trong tương lai, chúng ta có thể đóng góp vào cơ sở dữ liệu thế giới. Hơn thế nữa, áp dụng AACR2, chúng ta có thể kiểm soát được thư mục toàn cầu, đáp ứng tốt nhu cầu tìm tin của bạn đọc. * Khung phân loại thập phân Dewey (DDC): Là một công trình khoa học thư viện vĩ đại của thế giới, là một bách khoa thư, phân loại và tổng hợp tri thức của nhân loại. Với những ưu điểm vượt trội so với tất cả các khung phân loại hiện nay, như: tính cập nhật liên tục trước những biến động mạnh mẽ của tình hình chính trị thế giới, những thay đổi mau lẹ đang diễn ra trên lĩnh vực tri thức; cấu trúc, ký hiệu, phân cấp rõ ràng và về sự ứng dụng rộng rãi trên thế giới, Khung phân loại DDC đang trở thành một khung tiêu chuẩn quốc tế để tổ chức tri thức nhân loại trong các thư viện. Theo thống kê, hiện nay có hơn 200.000 thư viện của 135 quốc gia đang sử dụng DDC. Khung phân loại DDC cũng là hệ thống phân loại của 60 thư mục quốc gia trong đó có 15 quốc gia tại vùng châu Á - Thái Bình Dương. Vì tính khoa học và thông dụng, đến nay DDC đã được dịch sang 30 thứ tiếng khác nhau trên thế giới. Gần đây, WebDewey – sản phẩm tiên tiến nhất của DDC đã được giới thiệu rộng rãi trên mạng như một phương tiện hỗ trợ đắc lực cho công tác phân loại của các thư viện. Với sự phân tích trên, có thể nói việc lựa chọn 3 chuẩn nghiệp vụ: AACR2, MARC21 và DDC làm các tiêu chuẩn quốc tế cho thư viện Việt Nam áp dụng là một sự lựa chọn chính xác, khách quan và khoa học. Ba chuẩn mực này sẽ tạo nên một thế chân kiềng vững chắc, giúp cho thư viện Việt Nam phát triển trong thế giới hiện đại và thời kỳ hội nhập hiện nay. Việc quyết định áp dụng các chuẩn nghiệp vụ mới tuy có phần muộn màng, nhưng dù muộn còn hơn không. Gia nhập sân chơi thế giới, chúng ta phải tuân thủ luật chơi quốc tế, không thể chỉ hô khẩu hiệu “hội nhập” là đủ. Việc áp dụng các chuẩn mới là một thử thách lớn, thậm chí có thể coi là một cuộc “cách mạng” của thư viện Việt Nam. Nhưng, vì tương lai của sự nghiệp thư viện nước nhà, chúng ta không thể ngần ngại, chiết trung. Với nhận thức dứt khoát như vậy, Thư viện Quốc gia Việt Nam, với vai trò “Thư viện trung tâm của cả nước” đã và đang nỗ lực làm tất cả những gì có thể để “cuộc cách mạng nghiệp vụ thư viện” được triển khai nhanh hơn, mạnh hơn và hiệu quả hơn. II/ Triển khai áp dụng các chuẩn nghiệp vụ quốc tế: Để đưa các chuẩn nghiệp vụ vào các thư viện, theo sự phân công tại Hội thảo Quốc tế lần thứ 2 tháng 9/2002, Thư viện Quốc gia Việt Nam chịu trách nhiệm dịch Khung phân loại Dewey; Trung tâm Thông tin khoa học và Công nghệ quốc gia sẽ dịch Khổ mẫu MARC21 và Quy tắc biên mục Anh-Mỹ AACR2. Sau khi dịch, 2 đơn vị trên có trách nhiệm in, xuất bản và tổ chức đào tạo, huấn luyện cho cán bộ các thư viện và cơ quan thông tin thực hành áp dụng vào công tác của đơn vị mình. 1/ Quy tắc biên mục AACR2 rút gọn: Trước khi Trung tâm thông tin Khoa học và Công nghệ thực hiện việc dịch bản quy tắc AACR2 toàn văn, Thư viện Quốc gia Việt Nam đã phối hợp với Hội hỗ trợ Thư viện và Giáo dục Việt Nam tại Hoa Kỳ (LEAF-VN) tiến hành dịch bộ Quy tắc biên mục Anh – Mỹ rút gọn (CAACR2). Cuối năm 2000, bản dịch đã hoàn thành với chất lượng khá tốt. Hội LEAF-VN đã quyên góp tài chính, in 2.000 bản (khổ 17x25, 320 trang) tại Mỹ và gửi về như một quà tặng cho các thư viện Việt Nam. Thư viện Quốc gia Việt Nam là đầu mối tiếp nhận và đã phân phối miễn phí 1.800 bản cho các thư viện trên cả nước. Năm 2004, Thư viện Quốc gia Việt Nam phối hợp với Hội LEAF-VN tổ chức huấn luyện áp dụng quy tắc biên mục AACR2 bản rút gọn. Hai chuyên gia biên mục của Hoa Kỳ là bà Phạm Thị Lệ Hương (dịch giả CAACR2) và bà Ngọc Mỹ đã trực tiếp giảng dạy. Thư viện Quốc gia Việt Nam (TVQG) đã tổ chức 2 lớp ở Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh để đào tạo cho cán bộ thư viện tỉnh, các trường đại học và các thư viện chuyên ngành. Hơn 200 học viên đã được tập huấn trong thời gian mỗi lớp là 7 ngày. Thời gian thực hành được bố trí thích đáng nhằm giúp anh chị em thành thạo sau khi học. Để giúp cho học viên có điều kiện làm giáo viên huấn luyện lại cho anh chị em ở đơn vị, ban tổ chức lớp học đã cung cấp cho mỗi học viên bài giảng bằng giấy kèm theo đĩa CD-ROM: “Cẩm nang sử dụng AACR2”. Đồng thời, TVQG đã biên soạn tài liệu so sánh sự giống nhau và khác nhau giữa ISBD và AACR2 để cán bộ thuận tiện khi sử dụng. Riêng với đơn vị, chúng tôi đã biên soạn bộ tài liệu qui tắc mô tả tài liệu riêng, vừa phù hợp với AACR2 vừa phù hợp với sự đa dạng của nguồn tài liệu nhập vàoTVQG. Với cách tổ chức trên, trong một thời gian ngắn, TVQG đã góp phần đáng kể trong việc huấn luyện được một đội ngũ đông đảo các giảng viên có đủ năng lực để huấn luyện lại việc áp dụng AACR2 rút gọn cho cán bộ thư viện trên phạm vi cả nước. Tuy là bản rút gọn, nhưng như ông Michael Gorman - Giám đốc dịch vụ thư viện ĐH California đã đánh giá: “Quyển sách này (CAACR2) được soạn ra nhằm truyền đạt những nguyên tắc căn bản của ấn bản AACR2 (bản đầy đủ)… Đối với các biên mục viên ở các nước không dùng tiếng Anh, họ có thể dùng bản AACR2 rút gọn này như một bản tóm lược tổng hợp những ứng dụng của AACR2”. Kết quả của việc đào tạo áp dụng bản rút gọn của quy tắc biên mục Anh-Mỹ cho cán bộ thư viện đã tạo nên tiền đề thuận lợi khi chúng ta triển khai đào tạo áp dụng bản đầy đủ AACR2 vào cuối năm 2007. 2. Khổ mẫu MARC21: Sau Hội thảo quốc tế về “Hệ thống và tiêu chuẩn cho Thư viện Việt Nam”, ngày 22-23/11/2001 tại Trung tâm thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia (NASETIC) đã tổ chức hội thảo quốc gia và đi đến thống nhất áp dụng khổ mẫu MARC21 cho các thư viện Việt Nam. Với sự giúp đỡ về tài chính của quỹ Alantic Philanthropies và chuyên môn của bà Sally McCallum (Thư viện Quốc hội Mỹ), cuối năm 2004, Trung tâm thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia đã hoàn thành bản dịch với gần 1.000 trang khổ 21x30. Trung tâm đã ấn hành 300 bản (2 tập x 300 cuốn) sách “Khổ mẫu MARC21 cho dữ liệu Thư mục” để cung cấp tài liệu thực hành cho các thư viện và cơ quan thông tin. Xuất phát từ thực tế nhu cầu sử dụng MARC21 của các thư viện và cở sở thông tin trong nước, năm 2005, Trung tâm thông tin Khoa học và Công nghệ đã biên soạn và ấn hành 1.000 bản “MARC21 rút gọn cho dữ liệu thư mục”. Sách được phân phối rộng rãi trong cả nước làm tài liệu thông dụng cho việc áp dụng MARC21 vào công tác thư viện và thông tin. Tuy nhiên, cuối năm 2003, cùng với việc triển khai dự án Xây dựng hệ thống thông tin điện tử/kỹ thuật số cho Thư viện Quốc gia Việt Nam và hệ thống thư viện công cộng, TVQG đã chủ động triển khai đào tạo cho cán bộ biên mục tại đơn vị và toàn thể 64 thư viện tỉnh, thành áp dụng MARC21. Chúng tôi phải tiến hành huấn luyện áp dụng MARC21 sớm, trước khi có sách dịch MARC21 được in vì theo dự án, TVQG và mạng lưới thư viện tỉnh, thành phố ứng dụng phần mềm ILIB và SMALLIB mà 2 phần mềm này của công ty CMC đều áp dụng khổ mẫu MARC21 cho việc mô tả thư mục thư viện. Tạm thời, chúng tôi sử dụng các tài liệu: “Kiến thức cơ bản về MARC21” (CMC dịch 2001) và tài liệu “Tập huấn biên mục theo MARC21” (ông Vũ Văn Sơn biên soạn 2003) để huấn luyện tại các lớp về MARC21: Sau khi "Khổ mẫu MARC21 rút gọn cho dữ liệu thư mục" được dịch và xuất bản, các giảng viên là cán bộ TVQG đã qua đào tạo tại Trung tâm thông tin Khoa học và Công nghệ tiếp tục tổ chức các lớp tập huấn theo đúng chuẩn MARC21 cho các thư viện tỉnh, thành thuộc hệ thống thư viện công cộng trong cả nước. Gần đây nhất, tháng 11/2006 TVQG đã tổ chức lớp tập huấn tại Bình Thuận cho 76 học viên là cán bộ biên mục của các thư viện tỉnh, thành phía nam (từ Đà Nẵng trở vào). Tháng 12/2006, tại Hải Phòng, TVQG tiếp tục mở lớp tập huấn cho 83 học viên đến từ các thư viện tỉnh, thành phía Bắc (từ Thừa Thiên-Huế trở ra). Từ những kiến thức ban đầu, một mặt anh chị em tiếp tục tự nghiên cứu, mặt khác thông qua các hội nghị, hội thảo khu vực của các liên hiệp thư viện và sự tư vấn của TVQG, đến nay nói chung cán bộ các thư viện công cộng đã dần làm quen với khổ mẫu MARC21 trong công tác biên mục. Tại TVQG, khi tiến hành áp dụng MARC21 trong phần mềm mới, chúng tôi đã tiến hành hàng loạt hoạt động nghiên cứu, cải tiến cho phù hợp với yêu cầu công tác của đơn vị như: cải tiến qui trình xử lí sách; tổ chức biên soạn Thư mục Quốc gia ngay tại bộ phận xử lí hình thức; Dựa vào MARC21 để xây dựng những quy định thống nhất ở trường địa danh, hình thức tài liệu, phân loại tập trung theo 19 dãy và trường in phích và đặc biệt là đã thống nhất khi miêu tả trường 100 về tiêu đề chính-tên cá nhân, cho tên tác giả cá nhân người Việt Nam có thành phần họ theo tinh thần hội thảo 8/2004 của Trung tâm thông tin Khoa học và Công nghệ… Trong việc áp dụng khổ mẫu MARC21 và cũng là ứng dụng phần mềm mới, TVQG đã hoàn thành việc chuyển đổi hơn 220.000 biểu ghi từ phần mềm ISIS sang phần mềm ILIB. Các công ty tin học khi viết phần mềm đều sử dụng MARC21 từ nguyên gốc, nhưng khi Việt hoá và thể hiện giao diện cho người sử dụng thì lại theo thể hiện các hình thức khác nhau. TVQG đã nghiên cứu thành công việc xác định sự tương thích của các trường giữa 2 phần mềm cũ và mới, đảm bảo tốt cho việc chuyển đổi dữ liệu. Nhìn chung đến nay, cán bộ biên mục ở TVQG đã thành thạo việc sử dụng MARC21. 3. Phân loại thập phân Dewey (DDC) Được Quĩ từ thiện Atlantic Philanthropies hỗ trợ về tài chính, đầu năm 2004, TVQG đã tiến hành thành lập Hội đồng tư vấn và ban dịch thuật khung phân loại thập phân Dewey bao gồm những chuyên gia phân loại và những người có trình độ tiếng Anh tốt. Được các chuyên gia của Thư viện Quốc hội Hoa Kỳ nhiệt tình giúp đỡ, sau hơn 2 năm nỗ lực của ban biên dịch, Khung phân loại DDC14 bản rút gọn bằng tiếng Việt đã được hoàn thành. Ngày 16/8/2006, ấn bản DDC14 tiếng Việt lần đầu tiên đã được công bố tại Hà Nội. Cuối tháng 8/2006, ấn bản này đã được giới thiệu tại Đại hội Liên hiệp hội Thư viện quốc tế (IFLA) ở Hàn Quốc như một sự kiện tiến bộ đặc biệt của nghiệp vụ thư viện thế giới. Từ đó đến nay, với tư cách đơn vị chủ dự án, TVQG đã làm nhiều việc để đi đến mục tiêu áp dụng DDC trong tất cả các thư viện Việt Nam. Cụ thể: 3.1. Xúc tiến đề nghị Bộ VHTT ban hành văn bản chỉ đạo: - Ngày 7/11/2006 TVQG có tờ trình số 239/TTr-TVQG gửi Bộ VH-TT về việc đề nghị lãnh đạo Bộ cho chủ trương quyết định việc áp dụng DDC, MARC21, AACR2 trong tất cả các thư viện cả nước - Ngày 23/1/2007 TVQG có tờ trình số 23/TTr-TVQG gửi Bộ VH-TT về việc trình bày lộ trình áp dụng DDC ở Việt Nam - Ngày 31/1/2007 TVQG tổ chức cuộc họp với lãnh đạo Vụ Thư viện để xúc tiến giải quyết yêu cầu trên bằng việc tổ chức 1 cuộc hội thảo với đại diện các hệ thống thư viện - Ngày 18/3/2007, Vụ Thư viện, Hội Thư viện Việt Nam, TVQG đã phối hợp tổ chức hội thảo về việc áp dụng bộ chuẩn nghiệp vụ AACR2, MARC21, DDC vào các thư viện Việt Nam - Ngày 7/5/2007, Bộ VH-TT đã ban hành văn bản số 1598/BVHTT-TV về hướng dẫn việc áp dụng các chuẩn nghiệp vụ trên phạm vi cả nước. - Ngày 23/7/2007, Vụ Thư viện ban hành công văn số 2667/BVHTT-TV về triển khai áp dụng DDC, MARC21, AACR2 trong các thư viện. *Có thể nói, văn bản 1598 và 2667 là kết quả cả một quá trình vận động, giải trình, thuyết phục lãnh đạo Bộ VH-TT bằng những cứ liệu khoa học và thực tiễn. Tuy văn bản ra đời có phần chậm trễ, nhưng có thể coi đây là bước tiến bộ quan trọng bậc nhất về nhận thức, mở đường cho các hoạt động nghiệp vụ trên phạm vi cả nước trong quá trình hội nhập quốc tế 3.2. TVQG đã cấp 1.600 bản phân loại DDC14 miễn phí cho các thư viện, trung tâm thông tin, đơn vị cơ sở đào tạo trong cả nước. Sách đã đuợc phân phối kịp thời, đúng đối tượng như đã thống nhất tại cuộc họp của Hội đồng tư vấn. 3.3. TVQG đã tổ chức các lớp đào tạo, tập huấn, hội thảo như sau: 3.3.1. Tổ chức đào tạo giảng viên DDC: Với mục tiêu đào tạo giảng viên cho cả nước, TVQG đã tổ chức 2 lớp cho những cán bộ có kỹ năng phân loại tốt và có năng lực sư phạm khá của các các hệ thống thư viện trong cả nước. TVQG đã mời Giáo sư Oyler trực tiếp giảng dạy và ông Vũ Văn Sơn – Tổng biên tập DDC14 tiếng Việt làm trợ giảng. - Lớp tại Hà Nội: 9/10 - 13/10/2006 đào tạo có 30 giảng viên - Lớp tại Tp. Hồ Chí Minh: 30/10 - 4/11/2006 đào tạo 28 giảng viên Học viên được cung cấp tài liệu đầy đủ gồm: Bảng phân loại DDC14 rút gọn, đề cương bài giảng bằng giấy, bài tập, đáp án, sách thực tập. Sau khi đào tạo, các học viên có đủ năng lực làm tiểu giảng viên ở các lớp cơ sở. 3.3.2. Tổ chức tập huấn ở hệ thống Thư viện công cộng: 2 lớp - Lớp tại Bình Thuận: 20/11 - 2/12/2006. Có 75 học viên là cán bộ quản lí phụ trách nghiệp vụ và cán bộ biên mục đến từ các thư viện tỉnh, thành phía Nam (từ Đà Nẵng trở vào) - Lớp tại Hải Phòng: 10/12 - 22/12/2006. Có 76 học viên là cán bộ quản lí phụ trách nghiệp vụ và cán bộ biên mục đến từ các thư viện tỉnh, thành phía Bắc (Từ Thừa Thiên-Huế trở ra) Rút kinh nghiệm các lớp trước, trước khi tổ chức tập huấn, TVQG đã tiến hành biên soạn lại bài giảng một cách chi tiết hơn. Từ nguyên tắc chung đến các nguyên tắc cụ thể trong từng mục, các cách ghép đặc biệt có các ví dụ minh hoạ, có phần bài tập kèm theo, có so sánh đối chiếu với bảng phân loại 19 lớp để học viên dễ thực hiện khi trở về các thư viện. 3.3.3. Tổ chức đào tạo tại địa phương Dựa trên bài giảng chi tiết của TVQG biên soạn cho các lớp tập huấn cán bộ thư viện tỉnh, thành, một số thư viện tỉnh, thành đã tổ chức các lớp đào tạo, tập huấn cho các thư viện huyện, quận. Theo số liệu thống kê cuối tháng 7/2007, đã có 58% số thư viện tỉnh thuộc hệ thống thư viện công cộng được đào tạo sử dụng DDC. 42% số thư viện tỉnh còn lại dự định sẽ triển khai trong quý 3-4/2007 và 2 thư viện sẽ triển khai trong năm 2008. 3.3.4. Các lớp của hệ thống thư viện trường đại học: -Liên hiệp Thư viện Đại học phía Bắc đã tổ chức lớp tập huấn cho 80 cán bộ thư viện các trường đại học khu vực phía Bắc trong tháng 5/2007. -Trung tâm Học liệu Huế đã tổ chức đào tạo cho 30 cán bộ các thư viện trên địa bàn thành phố Huế. 3.3.5. Tổ chức hội thảo quốc tế: - Hội thảo ngày 8/6/2007, đánh giá 6 tháng áp dụng DDC của các hệ thống thư viện Việt Nam. Hội thảo kết luận: Các hệ thống thư viện Việt Nam đã chủ động triển khai DDC, tuy nhiên tiến độ còn chậm. Hệ thống thư viện công cộng và đại học triển khai tích cực hơn cả. Cần có những văn bản chỉ đạo cụ thể hơn trong việc áp dụng các chuẩn nghiệp vụ. Cần duy trì Văn phòng DDC với nhiệm vụ rộng hơn… - Hội thảo ngày 14/12/2007 đánh giá 1 năm áp dụng DDC của các hệ thống thư viện. Hội thảo kết luận: tình hình triển khai tương đối tốt. Mạng lưới thư viện chuyên ngành chưa triển khai, cần tìm hiểu nguyên nhân. Thư viện lực lượng vũ trang bắt đầu triển khai. Mạng lưới thư viện công cộng đã triển khai đồng bộ toàn hệ thống tại hội nghị tổng kết toàn quốc 6/8/2007. Nhiều thư viện tỉnh đã tổ chức các lớp đào tạo cho cán bộ thư viện huyện, thị. Thư viện đại học tiếp tục tổ chức nhiều lớp đào tạo lại, có sự giúp đỡ của Gs. Oyler. Hội thảo nhất trí việc TVQG chọn ông Vũ Văn Sơn làm Tổng biên tập dịch DDC.22. TVQG nhanh chóng xây dựng dự án dịch bản đầy đủ, kiện toàn lực lượng văn phòng DDC, nắm số lượng DDC14 cần in thêm. 3.3.6. Tổ chức đào tạo, tập huấn tại TVQG - Lớp tổ chức tại TVQG: 19/3 - 23/3/2007. Có 54 học viên là cán bộ chuyên môn ở các phòng ban tại Thư viện - Để triển khai một cách đồng bộ tất cả các khâu có liên quan đến DDC, TVQG đã tổ chức 2 cuộc họp chuyên đề bàn về vấn đề này. Đến nay, mọi người nhất trí việc cần thiết áp dụng DDC tại TVQG trong thời kỳ mới - thời kỳ hội nhập. Tuy nhiên, là thư viện lớn vào bậc nhất của cả nước, với vốn sách báo lên tới hàng triệu đơn vị, việc áp dụng khung phân loại DDC phiên bản nào là hợp lý? Sau khi nghiên cứu ý kiến của Hội đồng Khoa học đơn vị, Giám đốc đã quyết định: + Từ ngày 15/6/2007, toàn đơn vị sử dụng thống nhất khung phân loại DDC ấn bản 14 đã được dịch ra tiếng Việt trong công tác phân loại. + Từ 1/1/2008, tiếp tục sử dụng khung phân loại DDC ấn bản rút gọn 14 tiếng Việt và áp dụng DDC ấn bản đầy đủ 22 nguyên bản tiếng Anh cho sách thuộc các môn loại khoa học và kỹ thuật khi xét thấy cần thiết. + Ngoài ra, Giám đốc đã quyết định duy trì Văn phòng DDC với sự tham gia của các phòng liên quan. Văn phòng do Giám đốc trực tiếp điều hành nhằm đôn đốc, thúc đẩy, hỗ trợ việc áp dụng DDC trong cả nước, trao đổi kinh nghiệm, trả lời các vấn đề vướng mắc trong quá trình áp dụng, ổn định WebDDC và xây dựng dự án dịch DDC22. + Trong tháng 6 vừa qua, để việc áp dụng DDC đạt hiệu quả tốt, TVQG đã phải giải quyết hàng loạt vấn đề liên quan như: in nhãn xếp giá (cutter) tự động cho các kho tự chọn, hồi cố dữ liệu phân loại cho các kho tự chọn, cấu trúc lại Thư mục Quốc gia, các quy định trong việc phân loại tác phẩm văn học thiếu nhi, văn học Việt Nam (tác giả cá nhân, nhiều tác giả, sưu tập), sách khoa học thường thức viết cho thiếu nhi, truyện tranh, sách giáo khoa, sách bài tập, sách đọc thêm cho học sinh phổ thông và sách giáo trình; cách ghép một số mục đặc biệt trong bảng… và đặc biệt là vấn đề phân loại cho những tác phẩm của Hồ Chí Minh, nói về Hồ Chí Minh, chủ nghĩa Mác-Lênin và nói về chủ nghĩa Mác-Lênin… Trong thời đại hoà nhập toàn cầu hiện nay, sự phát triển kinh tế, xã hội và khoa học kỹ thuật của tất cả các nước nói chung và Việt Nam nói riêng đều cần được cung cấp đúng, đủ và kịp thời lượng thông tin cần thiết. Thông tin đang là mạch máu duy trì sự sống và là một trong những nguồn lực quyết định sức mạnh của đất nước. Thư viện vừa là cơ sở cho thông tin phát triển, vừa là một thành viên có nhiều thế mạnh trong mạng thông tin chung của quốc gia. Mạng lưới thư viện toàn quốc mà mạnh thì công tác thông tin quốc gia cũng được gia tăng thêm sức mạnh. Song song với những tiến bộ vượt bậc về công tác tổ chức, mà tiêu biểu là sự ra đời của Pháp lệnh Thư viện và Hội Thư viện Việt Nam, việc áp dụng các chuẩn nghiệp vụ sẽ giúp cho Thư viện nước ta nhanh chóng có bước phát triển vượt bậc, vị thế trên trường quốc tế sẽ được nâng cao, mục tiêu “Thống nhất, chuẩn hóa, chia sẻ và hội nhập” của sự nghiệp Thư viện nước nhà sẽ trở thành hiện thực! ______________ Phạm Thế Khang: Giám đốc Thư viện Quốc gia Việt Nam (Nguồn: Tạp chí Thư viện Việt Nam)  
 
 
  
  
Tóm tắt
Nội dung
  
  
  
  
Những thách thức trong việc ứng dụng thư viện số tại Việt NamNhững thách thức trong việc ứng dụng thư viện số tại Việt Nam
Ngày nay, sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin đã tạo ra hàng loạt các sản phẩm công nghệ hiện đại và có tính ứng dụng cao. Các loại hình sản phẩm này đã tác động và làm biến đổi về chất các loại hình thư viện truyền thống. Từ đó dần hình thành loại hình thư viện số tại Việt Nam. Trước hết, chúng ta cần hiểu rõ khái niệm về thư viện số: Thư viện số là tập hợp của các máy tính số, các thiết bị máy móc lưu trữ và trao đổi thông tin cùng với bối cảnh và phần mềm cần thiết để sản xuất và cung cấp các dịch vụ thông tin thư viện tương tự như các thư viện truyền thống vẫn làm đối với tài liệu giấy và các loại hình tài liệu truyền thống khác trong qua trình thu thập, biên mục, tìm kiếm và phố biến thông tin…hay nói cách khác thư viện số chính là nơi sử dụng công nghệ để chuyển câu hỏi thành câu trả lời.
Các thư viện số là các tổ chức cung cấp nguồn lực, trong đó bao gồm các chuyên gia, để lựa chọn thông tin, cấu trúc hóa, đưa ra các phương thức truy cập và phân phối thông tin hiệu quả, cũng như đảm bảo sự toàn vẹn và của bộ sưu tập số sao cho chúng luôn sẵn sàng và kinh tế để phục vụ một cộng đồng cụ thể hoặc một nhóm cộng đồng. Tính năng vượt trội Bắt nguồn từ sự phát triển của Internet, thư viện số đã trải qua một vài giai đoạn phát triển và có những thành tựu quan trọng trong việc cung cấp nguồn thông tin và dịch vụ tốt hơn và thuận tiện hơn cho người dùng tin.
Việc số hóa tài liệu sẽ giúp giảm thiểu đáng kể diện tích, không gian lưu giữ; Thứ hai là giúp việc bảo quản, duy trì tuổi thọ của tài liệu truyền thống được lâu hơn; Thứ ba là dễ dàng mở rộng phạm vi cộng đồng người sử dụng nguồn tài nguyên thông tin của cơ quan thông tin, thư viện; Thứ tư là tiện ích trong việc truy xuất tìm kiếm thông tin ở bất kỳ đâu vào bất cứ thời điểm nào một cách nhanh chóng, dễ dàng; Thứ năm là thuận lợi trong việc chia sẻ nguồn tài nguyên thông tin của thư viện với các thư viện khác. Thứ sáu là giảm thiểu tối đa sức người, sức của cho việc quản lý nguồn tài nguyên thông tin truyền thống; Thứ bảy là góp phần nhanh chóng tái tạo thông tin mới có giá trị gia tăng cao hơn. Khó khăn và thách thức Do cấu trúc và tính năng hiện đại, thư viện số hoạt động dựa trên cơ sở là những thành tựu mới nhất về công nghệ thông tin, bởi vậy, việc ứng dụng thư viện số đã gặp phải không ít những khó khăn và thách thức. Thách thức đầu tiên đến từ các vấn đề kỹ thuật, mà quan trọng nhất là vấn đề lưu trữ nguồn tài liệu dạng số. Để có thể cung cấp lượng thông tin cần thiết, cả dạng số và truyền thống, các thư viện số phải thu thập và lưu trữ một số lượng lớn các thông tin chất lượng cao. Thông tin số hoá do đó là một phần quan trọng của vốn tài liệu.
Tuy nhiên, đây là một nhiệm vụ nặng nề bởi việc lưu trữ và bảo quản tài liệu số cần có một số những yêu cầu cụ thể, đặc biệt là đối với tất cả những tư liệu số đặc biệt, độc đáo với những yếu tố then chốt cần phải được lưu trữ, đó là khả năng cho phép sao chép một cách hoàn hảo, cho phép truy cập không giới hạn về đồ hoạ. Bản chất và phạm vi của việc lưu trữ thông tin số hoá dài hạn đòi hỏi các hoạt động hợp tác giữa các tổ chức. Không một cơ quan riêng lẻ nào có khả năng thực hiện vai trò lưu trữ tất cả các tài liệu số và các thoả thuận và liên minh hợp tác là cần thiết để có thể xử lý được một loạt các vấn đề, ví dụ như phân chia trách nhiệm cho từng lĩnh vực hoặc loại hình tài liệu cụ thể, mức độ trùng lắp thông tin lưu trữ, hoặc các điểm truy cập, các nguồn tài chính, và các quốc gia hoặc vùng khác nhau. Một thách thức khác được đặt ra đó là tác quyền và việc truy cập thông tin bởi lẽ vật mang tin số không giống như các vật mang tin truyền thống như sách báo, CD,…Hơn nữa, các thư viện và cơ quan lưu trữ cũng có thể quan tâm đến việc số hoá một số tài liệu cũ. Tài liệu này có thể không có bán trên thị trường nữa nhưng vần còn bản quyền. Nếu thư viện muốn số hoá tài liệu này, họ phải, hoặc là yêu cầu cấp giấy phép từ người giữ bản quyền cho phép số hoá tài liệu, hoặc là chấp nhận nguy cơ bị kiện và tiến hành số hoá tài liệu. Hỗ trợ bạn đọc tìm kiếm thông tin là một trong những dịch vụ then chốt của thư viện số. Điều này cũng tạo ra một thách thức lớn cho cán bộ thư viện số, những người phải hoàn thành nhiệm vụ khó khăn là hỗ trợ người sử dụng tìm kiếm thông tin trong môi trường web.


 Bên cạnh những thách thức trên, để có thể cung cấp nguồn tài liệu số phong phú, tất nhiên còn rất nhiều thách thức khác mà thư viện số phải đối mặt, ví dụ như sự phát triển liên tục của cơ sở hạ tầng thông tin toàn cầu dẫn đến những thay đổi về công nghệ; sự phát triển của các công nghệ hỗ trợ việc tìm kiếm thông tin trên mạng; tuân thủ và phát triển các tiêu chuẩn về tính năng hoạt động liên thông và thư viện số liên kết.

Để xây dựng được một nền CNND ở tầm quốc gia cần phải: Có một hành lang pháp lý đủ mạnh để: một mặt, tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân tìm kiếm, xử lý, số hoá, bao gói, chuyển giao thông tin; mặt khác, bảo vệ thiết  thực  bản  quyền  tác  giả  đối  với  các  CSDL cũng  như những thông tin mà các cá nhân, tổ chức sở hữu và tất nhiên là bảo đảm bí mật quốc gia; Có sự phối hợp chặt chẽ về mặt tổ chức, liên kết, phân công phân mảng giữa các cơ quan có hoạt động số hoá tài liệu; Có  lực  lượng  cán  bộ  chuyên  trách  thu  thập,  số  hoá,  bao  gói  thông  tin  (lực lượng này không phải chỉ là cán bộ thông tin, thư viện); 

Trang bị các thiết bị hiện đại cho các cơ sở tham gia số hoá: ví dụ các máy quét  chuyên  dụng  (nhanh,  chất  lượng  cao,  quét  được  các  khổ  lớn,  màu  sắc đẹp...); các USB, các máy chủ sao lưu với dung lượng lớn (hàng nghìn GB); các máy sao CD chuyên dụng,... Đặc biệt, đối với Việt Nam- một quốc gia còn rất phụ thuộc và bị động với nền công nghệ thế giới thì việc ứng dụng và sử dụng một cách hiệu quả thư viện số là một vấn đề hết sức khó khăn và phức tạp. Tuy nhiên nhìn chung, việc tiến tới thư viện số là xu hướng tất yếu, là mong muốn của mỗi thư viện. Bởi vậy, để có được một thư viện số hoạt động có hiệu quả, phát huy được thế mạnh “thông tin đặc thù” của mình, cơ quan chủ quản cần có kế hoạch sát thực, lựa chọn bước đi phù hợp, phải có chương trình thu thập, số hoá tài liệu và tạo lập các CSDL một cách đầy đủ, kịp thời, đặc biệt là các CSDL toàn văn với các tài liệu có giá trị lâu dài thuộc phạm vi bao quát của cơ quan.

(theo http://vanhoa.gov.vn/)

6/9/2015 5:00 PMĐã ban hành/Shared Documents/2015-06/mbia sach.jpg
Tìm hiểu các phương pháp tiếp cận đánh giá chất lượng dịch vụ thư viện - thông tinTìm hiểu các phương pháp tiếp cận đánh giá chất lượng dịch vụ thư viện - thông tin

Mở đầu

Trong những năm gần đây, lĩnh vực dịch vụ ngày càng đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, theo đó chất lượng dịch vụ luôn là vấn đề được nhà sản xuất dịch vụ quan tâm nhiều nhất. Người sử dụng dịch vụ luôn mong đợi và yêu cầu chất lượng dịch vụ phải tốt hơn bao giờ hết. Chính vì vậy, việc đảm bảo chất lượng dịch vụ mà hoạt động chính là đánh giá chất lượng dịch vụ đã trở thành mối quan tâm hàng đầu của các cơ quan, tổ chức khi muốn triển khai một dịch vụ có hiệu quả tới khách hàng của mình. Đối với dịch vụ thư viện - thông tin (TVTT) cũng vậy, việc đảm bảo chất lượng dịch vụ luôn là vấn đề được các nhà nghiên cứu và quản lý thư viện chú ý. Vậy chất lượng dịch vụ TVTT là gì? Đã có những biện pháp nào để đánh giá chất lượng loại hình dịch vụ này?

1. Dịch vụ thư viện - thông tin

Do bản chất của hoạt động TVTT là các quá trình thông tin. Các quá trình này tạo thành một vòng tuần hoàn khép kín, sự kết thúc của quá trình này là đầu vào cho quá trình tiếp theo. Cứ như vậy, thông tin được truyền tải thông qua các hình thức tổ chức dịch vụ như: dịch vụ mượn - đọc tài liệu, dịch vụ phổ biến thông tin có chọn lọc, dịch vụ dịch thuật… và giá trị của thông tin ngày càng được gia tăng. Để các quá trình thông tin được vận hành một cách liên tục và thông suốt, thư viện cần phải tổ chức một hệ thống dịch vụ đa dạng và có chất lượng, bao gồm cả các dịch vụ truyền thống và các dịch vụ điện tử. Các quá trình thông tin này sẽ làm kích thích nhu cầu tìm kiếm thông tin/ tài liệu của người sử dụng và làm thoả mãn nhu cầu tin của người sử dụng các dịch vụ TVTT. Như vậy, qua phân tích có thể hiểu: “Dịch vụ TVTT là những quá trình thông tin/ hoạt động thông tin nhằm thoả mãn nhu cầu tin và trao đổi thông tin/ tài liệu của một cá nhân/ tổ chức đang sử dụng các dịch vụ của cơ quan TVTT”.

Với những đặc thù cơ bản của dịch vụ như: tính vô hình, tính không đồng nhất, tính không thể tách rời, tính không thể lưu trữ, cộng với những yếu tố đặc trưng về nguồn lực thông tin, cơ sở vật chất, trang thiết bị và con người trong môi trường thư viện, chất lượng dịch vụ TVTT vẫn là một khái niệm khó định nghĩa, khó đo lường, đánh giá. Nếu chất lượng của những sản phẩm thư viện hữu hình như: danh mục, thư mục, biểu ghi... có thể được đo lường thông qua những quy định cụ thể, rõ ràng về các tiêu chuẩn hình dáng, màu sắc, chất liệu, khả năng phản ánh thông tin... thì dịch vụ TVTT lại trừu tượng hơn bởi những tính chất đặc thù của nó. Trong nhiều năm qua, các nhà nghiên cứu về Khoa học thư viện (Library Information Science - LIS) trên thế giới đã xem xét nhiều biện pháp để đo lường, đánh giá chất lượng dịch vụ TVTT, tuy nhiên vẫn chưa có một định nghĩa nào được thừa nhận như một giá trị đúng đắn nhất về chất lượng dịch vụ TVTT. Các chuyên gia LIS, tuỳ theo từng quan điểm nghiên cứu và hướng tiếp cận đánh giá lại đưa ra một định nghĩa khác nhau. Năm 2001, tác giả Wisniewski [6] trong nghiên cứu của mình cũng đã chỉ ra rằng “Chất lượng dịch vụ thư viện là một khái niệm gây nhiều chú ý và tranh cãi trong các tài liệu nghiên cứu bởi vì các nhà nghiên cứu gặp nhiều khó khăn trong việc định nghĩa và đo lường chất lượng dịch vụ khi không hề có sự thống nhất nào”. Bài viết tìm hiểu các phương pháp đã được nghiên cứu về đánh giá chất lượng dịch vụ TVTT để thấy được những ưu, nhược điểm trong từng quan điểm đánh giá.

2.  Các phương pháp đánh giá chất lượng dịch vụ thư viện - thông tin

Xem xét sự phát triển của công tác đánh giá chất lượng dịch vụ TVTT có thể thấy các nghiên cứu được triển khai theo nhiều phương pháp khác nhau và có thể phân chia thành các hướng tiếp cận sau:

2.1. Phương pháp tiếp cận tài nguyên hệ thống (System resources approach)

Cách tiếp cận tài nguyên hệ thống được coi là việc sử dụng biện pháp đánh giá những yếu tố đầu vào (inputs) để đánh giá dịch vụ TVTT. Áp dụng phương pháp đánh giá này, thư viện đã tập trung vào: quy mô của ngân sách, số lượng và trình độ của viên chức, kích thước và thế mạnh của các bộ sưu tập... Phương pháp tiếp cận này đã được sử dụng để đánh giá dịch vụ TVTT từ rất sớm, những số liệu thống kê thu thập được coi là kết quả cuối cùng. Đặc trưng của phương pháp đánh giá này chính là: Sự nhận thức của các nhà cung cấp dịch vụ (các nhà quản lý thư viện hoặc người làm thư viện); Chú trọng mô tả về hiện tượng (có bao nhiêu tài liệu được lưu thông trong một thời gian nhất định? Số lượng lưu thông hàng ngày là bao nhiêu? Câu hỏi trả lời tham khảo nhiều không? Sách đặt hàng và mục lục theo ngày, tháng hoặc năm?…). Ngoài ra, cách đánh giá này tập trung vào việc thống kê bộ sưu tập.

alt 

Sơ đồ: Mô hình hệ thống (Systems Model)

Đánh giá chất lượng dịch vụ bằng phương pháp tiếp cận hệ thống có thể cung cấp cho các nhà quản lý và người làm thư viện các thông tin có giá trị (như sự gia tăng của các con số truy cập/ sử dụng dịch vụ). Tuy nhiên, các số liệu thống kê như thế chỉ mang tính chất đơn lẻ và không cung cấp bất kỳ hướng dẫn có ý nghĩa cho việc cải tiến hệ thống dịch vụ; không có những phân tích sâu hơn hay làm rõ những biện pháp đã được thực hiện. Có thể nói đây là cách tiếp cận đánh giá dịch vụ TVTT truyền thống, bởi nó chỉ nhìn vào những giá trị hữu hình hoặc cảm quan dựa trên quan điểm của những người làm thư viện để làm thước đo đánh giá.

2.2. Phương pháp đạt được mục tiêu (Objec- tive aproach)

Phương pháp đạt được mục tiêu là phương pháp mà một tổ chức áp dụng để đánh giá mức độ hoạt động dịch vụ đạt được bao nhiêu so với mục tiêu đề ra. Điều này có nghĩa là các thư viện xác định mục tiêu cho dịch vụ TVTT của họ, sau đó tiến hành đo hiệu suất (promance) và kết quả đầu ra (outputs) của hoạt động dịch vụ TVTT với các mục tiêu đã vạch sẵn từ trước.

alt 

Sơ đồ: Mô hình kết quả (Outcomes Model)

Như vậy, đối với cách tiếp cận đánh giá chất lượng dịch vụ TVTT theo hướng này, các nhà quản lý thư viện cần phải xác định được một hình mẫu và các tiêu chí mà một dịch vụ thư viện cần phải có. Chính vì vậy chất lượng dịch vụ lúc này sẽ phụ thuộc nhiều hơn vào môi trường bên ngoài của thư viện như: trình độ phát triển khoa học kỹ thuật và công nghệ, chính sách ưu tiên của từng đơn vị chủ quản… và tuỳ thuộc vào đặc thù của từng loại hình, từng hệ thống thư viện khác nhau sẽ có những tiêu chí đánh giá khác nhau. Phương pháp đạt được mục tiêu có thể sử dụng để phân tích chất lượng dịch vụ TVTT ở các cấp độ khác nhau. Cách tiếp cận này cho phép các thư viện tự quyết định các tiêu chuẩn chất lượng và mục tiêu cho các dịch vụ TVTT của mình. Thông qua kiểm tra, thanh tra chất lượng, các tổ chức hữu quan sẽ xem xét, đánh giá hệ thống đảm bảo chất lượng của thư viện đó có khả năng giúp thư viện hoàn thành sứ mạng một cách hiệu quả với hiệu suất cao nhất hay không? Mô hình này đặc biệt quan trọng đối với các thư viện có nguồn lực hạn chế, giúp các nhà quản lý có được cơ chế sử dụng hợp lý, hiệu quả những nguồn lực của mình để đạt tới mục tiêu đã định từ trước một cách hiệu quả nhất. Ưu điểm nổi bật của phương pháp này là có thể biến đổi linh hoạt trong từng môi trường thư viện khác nhau. Tuy nhiên hạn chế của phương pháp này chính là rất khó xác định được mục tiêu chung để đánh giá dịch vụ TVTT dẫn tới sự thiếu thống nhất trong việc so sánh về chất lượng dịch vụ của các thư viện khác nhau và ngay cả các thư viện trong cùng một hệ thống. 

2.3. Phương pháp tiếp cận quy trình (Pro- cesses approach)

Cách tiếp cận quy trình là việc xem xét tính liên tục và sự tương tác cả đầu vào cũng như đầu ra của các quá trình. Phương pháp tiếp cận quy trình nhìn vào đo lường hiệu suất và đánh giá như một khía cạnh của hiệu quả, đặc biệt là liên quan đến cách đầu vào được chuyển đổi thành đầu ra. Phương pháp này giúp chuyển đổi sự tập trung từ việc tuân thủ nghiêm ngặt các tiêu chuẩn, văn bản thành việc nắm bắt tư tưởng của sự cải tiến. Đầu vào là yếu tố bắt đầu một quá trình như con người, tài nguyên vật liệu, có thể có cùng lúc nhiều đầu vào và thường xuyên hoạt động tồn tại. Đầu ra là kết quả được chuyển giao từ quy trình nhắm đến sự mong đợi của khách hàng, có thể là bên ngoài hay nội bộ và thông thường đầu ra là một sản phẩm, một dịch vụ hay một đầu vào cho một quy trình khác.

Tiêu biểu cho cách tiếp cận quy trình là việc sử dụng bộ công cụ Quản lý chất lượng toàn diện (Total Quality Management - TQM) để đánh giá chất lượng toàn diện. TQM được áp dụng trong lĩnh vực thư viện bắt đầu vào cuối những năm 1980. Những nguyên tắc cơ bản của TQM là: định hướng khách hàng, huấn luyện nhân viên về quản lý chất lượng, khả năng lãnh đạo của người quản lý, xây dựng kế hoạch chiến lược, quản lý quy trình hoạt động và đánh giá chất lượng hoạt động.

Ưu điểm nổi bật của phương pháp tiếp cận quá trình chính là sự cải tiến liên tục của chất lượng dịch vụ thông qua sự kiểm tra và khắc phục những sai sót trong quá trình tiến hành dịch vụ. Xây dựng được môi trường dịch vụ chuyên nghiệp, giảm chi phí, giảm sai sót trong việc triển khai dịch vụ. Tuy nhiên, nhược điểm của phương pháp này là khó áp dụng ở một tổ chức thư viện nhỏ và khi thực hiện đánh giá chất lượng theo cách tiếp cận này cần có sự đồng thuận, tự giác của mỗi nhân viên trong thư viện. Vì đánh giá chất lượng dựa trên con người, không có một tiêu chuẩn nào được đặt ra, nó đòi hỏi sự trách nhiệm và thái độ nghiêm túc của mỗi nhân viên trong thư viện. Phương pháp này nghiêng về tổ chức, quản lý thư viện nhiều hơn là đánh giá chất lượng của các dịch vụ TVTT, chưa xây dựng được những khía cạnh cụ thể cho đánh giá chất lượng dịch vụ TVTT mà mới nhấn mạnh về sự cải thiện các quy trình dịch vụ. Chính vì vậy, hiện nay cách tiếp cận này ít được các nhà nghiên cứu sử dụng.

2.4. Phương pháp tiếp cận tiêu chuẩn (Stan- dardisation approach)

Phương pháp tiếp cận tiêu chuẩn được tiến hành bằng cách tạo ra các thông số kỹ thuật phản ánh những đặc tính cần có của các loại hình dịch vụ thư viện. Điều này có nghĩa tiêu chuẩn được xem là công cụ đo lường, hoặc bộ thước đo - một phương tiện trung gian để miêu tả những đặc tính cần có của một dịch vụ TVTT nhất định. Chất lượng dịch vụ sẽ được đo bằng sự phù hợp của nó với các thông số hay tiêu chuẩn được quy định trước đó.

Tiêu biểu cho phương pháp tiếp cận này cần phải kể đến: Bộ tiêu chuẩn ISO được áp dụng ở Việt Nam để đánh giá chất lượng ở nhiều lĩnh vực khác nhau trong đó có hoạt động dịch vụ TVTT. Một số tiêu chuẩn đo lường chất lượng các dịch vụ TVTT đã được xây dựng và triển khai áp dụng trong thực tế, chẳng hạn như: ISO 10160:1997 (Thông tin và tài liệu - liên kết các hệ thống mở - Xác định các dịch vụ mượn liên thư viện); ISO 23950:1998 (Thông tin và tư liệu - Tra cứu thông tin (Z39.50) - Định nghĩa dịch vụ ứng dụng và đặc tả giao thức); ISO 11620:2014 (Thông tin và tư liệu - Chỉ số hiệu suất thư viện); ISO 2789:2013 (Thông tin và tư liệu - Thống kê thư viện quốc tế); ISO/TR 20983:2003 (Thông tin và tư liệu - Các chỉ số hoạt động cho các dịch vụ thư viện điện tử)...

Ngoài ra còn có các “Hướng dẫn quốc tế” về đo lường hiệu suất trong thư viện được công bố bởi Liên đoàn Quốc tế các hội và cơ quan thư viện (IFLA) cũng là một công cụ áp dụng cho các thư viện trường đại học. Để đưa các tiêu chuẩn này vào môi trường thư viện, các đơn vị quản lý thư viện thường ban hành những văn bản hướng dẫn thư viện. Các tiêu chuẩn của Hiệp hội các thư viện nghiên cứu (Association Reasearch Library - ARL); Hiệp hội Thư viện Mỹ (American Library Association - ALA) đã ban hành các tiêu chuẩn sau đây về đánh giá chất lượng dịch vụ TVTT: Tiêu chuẩn dành cho thư viện đại học: Đánh giá hiệu suất (Standards for University Libraries: Evaluation of Performance -  1989); Chỉ dẫn về dịch vụ nghe nhìn trong các thư viện đại học (Guidelines for Audiovisual Services in Academic Libraries - 1987); Chỉ dẫn về tài nguyên truyền thông trong các thư viện đại học: Bản thảo (Guidelines for Media Resources in Academic Libra- ries: A Draft - 1998)…

Trong môi trường thư viện, cách tiếp cận đánh giá dịch vụ theo tiêu chuẩn đã tạo điều kiện cho các thư viện lựa chọn các tiêu chuẩn phù hợp nhất với thư viện của mình và phấn đấu theo các chuẩn đó. Tuy nhiên, rất khó khăn để triển khai các tiêu chuẩn đánh giá trên thực tế bởi cơ sở xây dựng tiêu chuẩn chưa thực sự xuất phát từ hiện trạng của mỗi thư viện nói riêng và từng hệ thống thư viện nói chung. Hơn nữa thuật ngữ “tiêu chuẩn” cho ta ý niệm về một khái niệm tĩnh, nghĩa là một khi các thông số kỹ thuật đã được xác định thì không phải xem xét hoặc rất ít khi thay đổi chúng. Trong khi đó khu vực dịch vụ là khu vực phát triển năng động nhất, hơn nữa dịch vụ TVTT lại gắn liền với những tiến bộ về khoa học, kỹ thuật và công nghệ, hệ thống thông tin, tri thức ngày càng có những biến đổi to lớn thì “tiêu chuẩn” của chất lượng các dịch vụ thư viện không thể là một khái niệm tĩnh.

2.5. Phương pháp tiếp cận sự hài lòng của người tham gia (Approach the satisfaction of contributor/ Disconfirmation)

Trong những thập niên gần đây, chất lượng dịch vụ không chỉ là sự phù hợp với các thông số kỹ thuật hay tiêu chuẩn cho trước, mà còn là sự đáp ứng nhu cầu của người sử dụng dịch vụ đó. Vì vậy, khi thiết kế một dịch vụ, yếu tố quyết định là xác định nhu cầu của đối tượng sử dụng dịch vụ, để dịch vụ có được những đặc tính mà người sử dụng mong muốn. Theo quan điểm này, cơ quan thư viện cần nhận ra những nhu cầu, ưu tiên và thông tin phản hồi khác nhau của người sử dụng thư viện. Tất cả dịch vụ thư viện hiện tại và tương lai phải lấy người sử dụng thư viện làm trung tâm. Thư viện không nên hoạt động trong sự tách biệt mong đợi của người sử dụng và thư viện nên biết những kỳ vọng của người sử dụng để cải thiện chất lượng dịch vụ cung cấp. Chính vì vậy, mặc dù vẫn còn một số hạn chế và các chỉ trích như khó phân biệt được sự cảm nhận và sự mong đợi của người sử dụng, chưa chú ý nhiều đến chức năng kỹ thuật của thư viện... Song hướng tiếp cận theo quan điểm đánh giá chất lượng từ phía người sử dụng thư viện vẫn là một hướng thu hút được nhiều sự quan tâm, nghiên cứu và áp dụng của các thư viện trên thế giới để cải thiện chất lượng dịch vụ của mình.

Kết luận

Các phương pháp tiếp cận trên cho thấy đánh giá chất lượng dịch vụ TVTT là đa chiều. Mỗi một phương pháp đánh giá các dịch vụ TVTT từ góc độ riêng của nó. Các thư viện khác nhau có các đặc điểm, cơ chế chính sách, nguồn lực thông tin, đối tượng người sử dụng, cơ sở vật chất, nguồn nhân lực… khác nhau, ngay cả các biện pháp phát triển và thực hiện đánh giá chất lượng cũng phải phù hợp với dịch vụ được cung cấp. Vì vậy, sử dụng một phương pháp duy nhất hay kết hợp một số phương pháp tiếp cận để đánh giá chất lượng dịch vụ TVTT cho toàn bộ hệ thống thư viện không phải là điều đơn giản. Cần tìm ra phương pháp tối ưu nhất và có những giải pháp hiệu quả để làm giảm đi những hạn chế của nó là điều mà các công trình nghiên cứu về đánh giá chất lượng dịch vụ TVTT hướng tới.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Huỳnh Đình Chiến, Huỳnh Thị Xuân Phương. Nâng cao chất lượng các dịch vụ thông tin - thư viện nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của cán bộ giảng viên và sinh viên Đại học Huế // Kỷ yếu hội thảo “Xây dựng thư viện hiện đại, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo trong các trường đại học ở Việt Nam hiện nay”. - Đà Nẵng, 2008.

2. Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 10274:2013. Hoạt động thư viện - Thuật ngữ và định nghĩa chung. - H., 2013. - 46tr.

3. Childers, T. and Van House, N. What's Good: Describing Your Public Library's Effectiveness. - Chicago: American Library Association, 1993.

4. Hernon, P. and Nitecki, D. A. Service quality: a concept not fully explored // Library Trends. - 2001. - Vol. 49. - No. 4. - P. 687-708.

5. Hernon, Peter and Calvert, Philip J. Methods for measuring service quality in University Libraries in New Zealand // The Journal of Academic Librarianship. - 1996. - Vol. 22 (5). - P. 387-391.

6. Mik Wisniewski. Using Servqual to assess customer satisfaction with public sector services // Managing Service Quality: An International Journal. - 2001. - Vol. 11 Iss: 6. - P. 380-388.

7. Ninh K.T. Quality management in university libraries in Vietnam: A framework for development and implementation. - Phd in Information Technology Monash University, 2013. - 376p.

8. Nitecki, D. Changing the concept and measure of service quality in academic libraries // The Journal of Academic Librarianship. - 1996. - Vol 22. - P. 181-190.

9. Quinn, B. Adapting service quality concepts to academic libraries // The Journal of Academic Librarianship. - 1997. - No. 23 (5). - P. 359-369.

10. Shi, X. and Levy, S. Theory-guided approach to library services assessment // College and Research Libraries. - 2005. - Vol. 66. - No. 3. - P. 266-277.

11. Van House, Nancy A., Weil, Beth T. andMcClure, Charles R. Measuring academic library peformance: A practical approach. - Chicago: American Library Association, 1990.

___________

ThS. Bùi Thị Thanh Diệu

Đại học Khánh Hoà

Nguồn: Tạp chí Thư viện Việt Nam. - 2017. - Số 4. - Tr. 26-30.​

9/13/2018 11:00 AMĐã ban hành/Shared Documents/2018-09/cntt1_HCGT.jpg
Áp dụng các chuẩn nghiệp vụ quốc tế ở Việt NamÁp dụng các chuẩn nghiệp vụ quốc tế ở Việt Nam
I/ Sự cần thiết áp dụng các chuẩn nghiệp vụ quốc tế:
1/ Từ ý tưởng: “Thống nhất-Chuẩn hóa”:
Vấn đề “thống nhất và chuẩn hóa” về tổ chức và nghiệp vụ của thư viện Việt Nam đã được các nhà lãnh đạo Vụ Thư viện - Bộ Văn hóa – Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) nêu lên khá sớm, từ những năm cuối của thế kỷ trước. Ý tưởng đó càng trở nên bức xúc hơn sau những chuyến thăm và làm việc với đại diện các hệ thống thư viện Việt Nam năm 1999 của Tiến sỹ Christine De Sam – Chủ tịch  IFLA. Điều dễ nhận thấy là, trước năm 2000, mạng lưới thư viện Việt Nam tuy phát triển khá nhanh nhưng thiếu thống nhất về tổ chức, chưa có các văn bản pháp quy cần thiết, có đủ sức mạnh đảm bảo cho sự phát triển của thư viện nói chung. Về chuyên môn nghiệp vụ, từ phân loại tới mô tả, biên mục,... càng thiếu thống nhất hơn, mỗi nơi thực hiện một kiểu, không theo một chuẩn mực thống nhất nào. Với tình hình tổ chức và nghiệp vụ như vậy thì làm sao mạng lưới thư viện nước ta có thể có thể tạo nên sức mạnh nội sinh để bước vào kỷ nguyên hội nhập thế giới. Tại hội thảo quốc tế: "Hệ thống và Tiêu chuẩn cho Thư viện Việt Nam" họp tại Hà Nội từ ngày 26/9 đến 28/9/2001, việc áp dụng các chuẩn nghiệp vụ trong hoạt động thông tin - thư viện của nước ta trong những năm đầu Thiên niên kỷ mới đã được đại diện lãnh đạo Bộ Khoa học – Công nghệ, Bộ Văn hóa – Thông tin, Bộ Giáo dục - Đào tạo và giám đốc các Thư viện, Trung tâm thông tin Việt Nam nhất trí tán thành. Các chuẩn đó được xác định là: Khung phân loại Dewey (DDC), Khổ mẫu trao đổi thư mục MARC21 và quy tắc biên mục Anh-Mỹ AACR2. Dựa trên việc chuẩn hoá nghiệp vụ, các thư viện sẽ thực hiện tốt việc dùng chung tài liệu qua mạng trên phạm vi quốc gia và quốc tế, sử dụng các công nghệ tiên tiến trong các hoạt động thông tin-thư viện, nâng cao chất lượng dịch vụ, tiếp cận với thư viện các nước trong khu vực và thế giới. Như vậy, việc áp dụng các chuẩn quốc tế về nghiệp vụ vừa là đòi hỏi bức xúc của bản thân hoạt động thư viện trong nước, vừa phù hợp với thời kỳ hội nhập toàn diện với thế giới của đất nước ta.
2/ Đến việc lựa chọn các chuẩn nghiệp vụ quốc tế:
Việc lựa chọn 3 chuẩn nghiệp vụ quốc tế tiêu biểu bao gồm: DDC, AACR2, MARC21 đã được đại diện các thư viện lớn, đầu ngành trao đổi khá kỹ tại các hội nghị, hội thảo quốc tế và trong nước. Các ý kiến đều thống nhất đánh giá ưu điểm của các chuẩn đã lựa chọn như sau:
* Khổ mẫu MARC21: Là khổ mẫu nổi tiếng và được cộng đồng thông tin-thư viện sử dụng rộng rãi trên thế giới. Đến nay đã có một khối lượng khổng lồ các biểu ghi theo MARC21 hiện đang được lưu trữ trong các mục lục liên hợp của Hoa Kỳ (800 triệu biểu ghi), của mạng OCLC (50 triệu biểu ghi), của Thư viện Quốc hội Mỹ (20 triệu biểu ghi). Mặc dù đã có một số nước và thậm chí một vài hệ thống thư viện đã xây dựng cho riêng mình các phiên bản của MARC, nhưng các phiên bản đó vẫn không trở thành một tiêu chuẩn quốc tế. MARC21 đang trở thành một tiêu chuẩn quốc tế, vì đa số các nước nói tiếng Anh bây giờ đang sử dụng. Hầu hết các hệ quản trị thư viện lớn và nhỏ trên thị trường hiện nay đều sử dụng khổ mẫu MARC21 như một sự lựa chọn tối ưu nhất. Áp dụng khổ mẫu MARC21, Thư viện Việt Nam sẽ có điều kiện trao đổi dữ liệu biên mục với các thư viện lớn trên thế giới, nhất là các thư viện lớn của Hoa Kỳ.
* Quy tắc biên mục Anh-Mỹ (AACR2) là bộ quy tắc nổi tiếng trên thế giới. Công trình AACR2 được đánh giá là đã đặt nền tảng cho sự hợp tác biên mục quốc gia và quốc tế. Vì vậy, AACR2 được sử dụng rộng rãi trên thế giới. Áp dụng quy tắc biên mục AACR2, Thư viện Việt Nam dễ dàng hội nhập vào cộng đồng quốc tế, nhất là việc tiếp cận và trao đổi thông tin về thư mục trên Internet. Trên cơ sở thống nhất cả nước áp dụng AACR2, chúng ta sẽ tạo nên tiền đề quan trọng bậc nhất để đi tới việc xây dựng các mục lục liên hợp quốc gia và trong tương lai, chúng ta có thể đóng góp vào cơ sở dữ liệu thế giới. Hơn thế nữa, áp dụng AACR2, chúng ta có thể kiểm soát được thư mục toàn cầu, đáp ứng tốt nhu cầu tìm tin của bạn đọc.
* Khung phân loại thập phân Dewey (DDC): Là một công trình khoa học thư viện vĩ đại của thế giới, là một bách khoa thư, phân loại và tổng hợp tri thức của nhân loại. Với những ưu điểm vượt trội so với tất cả các khung phân loại hiện nay, như: tính cập nhật liên tục trước những biến động mạnh mẽ của tình hình chính trị thế giới, những thay đổi mau lẹ đang diễn ra trên lĩnh vực tri thức; cấu trúc, ký hiệu, phân cấp rõ ràng và về sự ứng dụng rộng rãi trên thế giới, Khung phân loại DDC đang trở thành một khung tiêu chuẩn quốc tế để tổ chức tri thức nhân loại trong các thư viện. Theo thống kê, hiện nay có hơn 200.000 thư viện của 135 quốc gia đang sử dụng DDC. Khung phân loại DDC cũng là hệ thống phân loại của 60 thư mục quốc gia trong đó có 15 quốc gia tại vùng châu Á - Thái Bình Dương. Vì tính khoa học và thông dụng, đến nay DDC đã được dịch sang 30 thứ tiếng khác nhau trên thế giới. Gần đây, WebDewey – sản phẩm tiên tiến nhất của DDC đã được giới thiệu rộng rãi trên mạng như một phương tiện hỗ trợ đắc lực cho công tác phân loại của các thư viện.
Với sự phân tích trên, có thể nói việc lựa chọn 3 chuẩn nghiệp vụ: AACR2, MARC21 và DDC làm các tiêu chuẩn quốc tế cho thư viện Việt Nam áp dụng là một sự lựa chọn chính xác, khách quan và khoa học. Ba chuẩn mực này sẽ tạo nên một thế chân kiềng vững chắc, giúp cho thư viện Việt Nam phát triển trong thế giới hiện đại và thời kỳ hội nhập hiện nay. Việc quyết định áp dụng các chuẩn nghiệp vụ mới tuy có phần muộn màng, nhưng dù muộn còn hơn không. Gia nhập sân chơi thế giới, chúng ta phải tuân thủ luật chơi quốc tế, không thể chỉ hô khẩu hiệu “hội nhập” là đủ. Việc áp dụng các chuẩn mới là một thử thách lớn, thậm chí có thể coi là một cuộc “cách mạng”  của thư viện Việt Nam. Nhưng, vì tương lai của sự nghiệp thư viện nước nhà, chúng ta không thể ngần ngại, chiết trung. Với nhận thức dứt khoát như vậy, Thư viện Quốc gia Việt Nam, với vai trò “Thư viện trung tâm của cả nước” đã và đang nỗ lực làm tất cả những gì có thể để “cuộc cách mạng nghiệp vụ thư viện” được triển khai nhanh hơn, mạnh hơn và hiệu quả hơn.
II/ Triển khai áp dụng các chuẩn nghiệp vụ quốc tế:
Để đưa các chuẩn nghiệp vụ vào các thư viện, theo sự phân công tại Hội thảo Quốc tế lần thứ 2 tháng 9/2002, Thư viện Quốc gia Việt Nam chịu trách nhiệm dịch Khung phân loại Dewey; Trung tâm Thông tin khoa học và Công nghệ quốc gia sẽ dịch Khổ mẫu MARC21 và Quy tắc biên mục Anh-Mỹ AACR2. Sau khi dịch, 2 đơn vị trên có trách nhiệm in, xuất bản và tổ chức đào tạo, huấn luyện cho cán bộ các thư viện và  cơ quan thông tin thực hành áp dụng vào công tác của đơn vị mình.
1/ Quy tắc biên mục AACR2 rút gọn:
Trước khi Trung tâm thông tin Khoa học và Công nghệ thực hiện việc dịch bản quy tắc AACR2 toàn văn, Thư viện Quốc gia Việt Nam đã phối hợp với Hội hỗ trợ Thư viện và Giáo dục Việt Nam tại Hoa Kỳ (LEAF-VN) tiến hành dịch bộ Quy tắc biên mục Anh – Mỹ rút gọn (CAACR2). Cuối năm 2000, bản dịch đã hoàn thành với chất lượng khá tốt. Hội LEAF-VN đã quyên góp tài chính, in 2.000 bản (khổ 17x25, 320 trang) tại Mỹ và gửi về như một quà tặng cho các thư viện Việt Nam. Thư viện Quốc gia Việt Nam là đầu mối tiếp nhận và đã phân phối miễn phí 1.800 bản cho các thư viện trên cả nước.
Năm 2004, Thư viện Quốc gia Việt Nam phối hợp với Hội LEAF-VN tổ chức huấn luyện áp dụng quy tắc biên mục AACR2 bản rút gọn. Hai chuyên gia biên mục của Hoa Kỳ là bà Phạm Thị Lệ Hương (dịch giả CAACR2) và bà Ngọc Mỹ đã trực tiếp giảng dạy. Thư viện Quốc gia Việt Nam (TVQG) đã tổ chức 2 lớp ở Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh để đào tạo cho cán bộ thư viện tỉnh, các trường đại học và các thư viện chuyên ngành. Hơn 200 học viên đã được tập huấn trong thời gian mỗi lớp là 7 ngày. Thời gian thực hành được bố trí thích đáng nhằm giúp anh chị em thành thạo sau khi học. Để giúp cho học viên có điều kiện làm giáo viên huấn luyện lại cho anh chị em ở đơn vị, ban tổ chức lớp học đã cung cấp cho mỗi học viên bài giảng bằng giấy kèm theo đĩa CD-ROM: “Cẩm nang sử dụng AACR2”. Đồng thời, TVQG đã biên soạn tài liệu so sánh sự giống nhau và khác nhau giữa ISBD và AACR2 để cán bộ thuận tiện khi sử dụng. Riêng với đơn vị, chúng tôi đã biên soạn bộ tài liệu qui tắc mô tả tài liệu riêng, vừa phù hợp với AACR2 vừa phù hợp với sự đa dạng của nguồn tài liệu nhập vàoTVQG.
Với cách tổ chức trên, trong một thời gian ngắn, TVQG đã góp phần đáng kể trong việc huấn luyện được một đội ngũ đông đảo các giảng viên có đủ năng lực để huấn luyện lại việc áp dụng AACR2 rút gọn cho cán bộ thư viện trên phạm vi cả nước. Tuy là bản rút gọn, nhưng như ông Michael Gorman - Giám đốc dịch vụ thư viện ĐH California đã đánh giá: “Quyển sách này (CAACR2) được soạn ra nhằm truyền đạt những nguyên tắc căn bản của ấn bản AACR2 (bản đầy đủ)… Đối với các biên mục viên ở các nước không dùng tiếng Anh, họ có thể dùng bản AACR2 rút gọn này như một bản tóm lược tổng hợp những ứng dụng của AACR2”. Kết quả của việc đào tạo áp dụng bản rút gọn của quy tắc biên mục Anh-Mỹ cho cán bộ thư viện đã tạo nên tiền đề thuận lợi khi chúng ta triển khai đào tạo áp dụng bản đầy đủ AACR2 vào cuối năm 2007.
2. Khổ mẫu MARC21:
Sau Hội thảo quốc tế về “Hệ thống và tiêu chuẩn cho Thư viện Việt Nam”, ngày 22-23/11/2001 tại Trung tâm thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia (NASETIC) đã tổ chức hội thảo quốc gia và đi đến thống nhất áp dụng khổ mẫu MARC21 cho các thư viện Việt Nam. Với sự giúp đỡ về tài chính của quỹ Alantic Philanthropies và chuyên môn của bà Sally McCallum (Thư viện Quốc hội Mỹ), cuối năm 2004, Trung tâm thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia đã hoàn thành bản dịch với gần 1.000 trang khổ 21x30. Trung tâm đã ấn hành 300 bản (2 tập x 300 cuốn) sách “Khổ mẫu MARC21 cho dữ liệu Thư mục” để cung cấp tài liệu thực hành cho các thư viện và cơ quan thông tin. Xuất phát từ thực tế nhu cầu sử dụng MARC21 của các thư viện và cở sở thông tin trong nước, năm 2005, Trung tâm thông tin Khoa học và Công nghệ đã biên soạn và ấn hành 1.000 bản “MARC21 rút gọn cho dữ liệu thư mục”. Sách được phân phối rộng rãi trong cả nước làm tài liệu thông dụng cho việc áp dụng MARC21 vào công tác thư viện và thông tin.
Tuy nhiên, cuối năm 2003, cùng với việc triển khai dự án Xây dựng hệ thống thông tin điện tử/kỹ thuật số cho Thư viện Quốc gia Việt Nam và hệ thống thư viện công cộng, TVQG đã chủ động triển khai đào tạo cho cán bộ biên mục tại đơn vị và toàn thể 64 thư viện tỉnh, thành áp dụng MARC21. Chúng tôi phải tiến hành huấn luyện áp dụng MARC21 sớm, trước khi có sách dịch MARC21 được in vì theo dự án, TVQG và mạng lưới thư viện tỉnh, thành phố ứng dụng phần mềm ILIB và SMALLIB mà 2 phần mềm này của công ty CMC đều áp dụng khổ mẫu MARC21 cho việc mô tả thư mục thư viện. Tạm thời, chúng tôi sử dụng các tài liệu: “Kiến thức cơ bản về MARC21” (CMC dịch 2001) và tài liệu “Tập huấn biên mục theo MARC21” (ông Vũ Văn Sơn biên soạn 2003) để huấn luyện tại các lớp về MARC21: 
Sau khi "Khổ mẫu MARC21 rút gọn cho dữ liệu thư mục" được dịch và xuất bản, các giảng viên là cán bộ TVQG đã qua đào tạo tại Trung tâm thông tin Khoa học và Công nghệ tiếp tục tổ chức các lớp tập huấn theo đúng chuẩn MARC21 cho các thư viện tỉnh, thành thuộc hệ thống thư viện công cộng trong cả nước. Gần đây nhất, tháng 11/2006 TVQG đã tổ chức lớp tập huấn tại Bình Thuận cho 76 học viên là cán bộ biên mục của các thư viện tỉnh, thành  phía nam (từ Đà Nẵng trở vào). Tháng 12/2006, tại Hải Phòng, TVQG tiếp tục mở lớp tập huấn cho 83 học viên đến từ các thư viện tỉnh, thành phía Bắc (từ Thừa Thiên-Huế trở ra). Từ những kiến thức ban đầu, một mặt anh chị em tiếp tục tự nghiên cứu, mặt khác thông qua các hội nghị, hội thảo khu vực của các liên hiệp thư viện và sự tư vấn của TVQG, đến nay nói chung cán bộ các thư viện công cộng đã dần làm quen với khổ mẫu MARC21 trong công tác biên mục.
Tại TVQG, khi tiến hành áp dụng MARC21 trong phần mềm mới, chúng tôi đã tiến hành hàng loạt hoạt động nghiên cứu, cải tiến cho phù hợp với yêu cầu công tác của đơn vị như: cải tiến qui trình xử lí sách; tổ chức biên soạn Thư mục Quốc gia ngay tại bộ phận xử lí hình thức; Dựa vào MARC21 để xây dựng những quy định thống nhất ở trường địa danh, hình thức tài liệu, phân loại tập trung theo 19 dãy và trường in phích và đặc biệt là đã  thống nhất khi miêu tả trường 100 về  tiêu đề chính-tên cá nhân, cho tên tác giả cá nhân người Việt Nam có thành phần họ theo tinh thần hội thảo 8/2004 của Trung tâm thông tin Khoa học và Công nghệ…
Trong việc áp dụng khổ mẫu MARC21 và cũng là ứng dụng phần mềm mới, TVQG đã hoàn thành việc chuyển đổi hơn 220.000 biểu ghi từ phần mềm ISIS sang phần mềm ILIB. Các công ty tin học khi viết phần mềm đều sử dụng MARC21 từ nguyên gốc, nhưng khi Việt hoá và thể hiện giao diện cho người sử dụng thì lại theo thể hiện các hình thức khác nhau. TVQG đã nghiên cứu thành công việc xác định sự tương thích của các trường giữa 2 phần mềm cũ và mới, đảm bảo tốt cho việc chuyển đổi dữ liệu. Nhìn chung đến nay, cán bộ biên mục ở TVQG đã thành thạo việc sử dụng MARC21.
3. Phân loại thập phân Dewey (DDC)
Được Quĩ từ thiện Atlantic Philanthropies hỗ trợ về tài chính, đầu năm 2004, TVQG đã tiến hành thành lập Hội đồng tư vấn và  ban dịch thuật khung phân loại thập phân Dewey bao gồm những chuyên gia phân loại và những người có trình độ tiếng Anh tốt. Được các chuyên gia của Thư viện Quốc hội Hoa Kỳ nhiệt tình giúp đỡ, sau hơn 2 năm nỗ lực của ban biên dịch, Khung phân loại DDC14 bản rút gọn bằng tiếng Việt đã được hoàn thành. Ngày 16/8/2006, ấn bản DDC14 tiếng Việt lần đầu tiên đã được công bố tại Hà Nội. Cuối tháng 8/2006, ấn bản này đã được giới thiệu tại Đại hội Liên hiệp hội Thư viện quốc tế (IFLA) ở Hàn Quốc như một sự kiện tiến bộ đặc biệt của nghiệp vụ thư viện thế giới. Từ đó đến nay, với tư cách đơn vị chủ dự án, TVQG đã làm nhiều việc để đi đến mục tiêu áp dụng DDC trong tất cả các thư viện Việt Nam.  Cụ thể:
3.1. Xúc tiến đề nghị Bộ VHTT ban hành văn bản chỉ đạo:
- Ngày 7/11/2006 TVQG có tờ trình số 239/TTr-TVQG gửi Bộ VH-TT về việc đề nghị lãnh đạo Bộ cho chủ trương quyết định việc áp dụng DDC, MARC21, AACR2 trong tất cả các thư viện cả nước
- Ngày 23/1/2007 TVQG có tờ trình số 23/TTr-TVQG gửi Bộ VH-TT về việc trình bày lộ trình áp dụng DDC ở Việt Nam
- Ngày 31/1/2007 TVQG tổ chức cuộc họp với lãnh đạo Vụ Thư viện để xúc tiến giải quyết yêu cầu trên bằng việc tổ chức 1 cuộc hội thảo với đại diện các hệ thống thư viện
- Ngày 18/3/2007, Vụ Thư viện, Hội Thư viện Việt Nam, TVQG đã phối hợp tổ chức hội thảo về việc áp dụng  bộ chuẩn nghiệp vụ AACR2, MARC21, DDC vào các thư viện Việt Nam
- Ngày 7/5/2007, Bộ VH-TT đã ban hành văn bản số 1598/BVHTT-TV về hướng dẫn việc áp dụng các chuẩn nghiệp vụ trên phạm vi cả nước.
- Ngày 23/7/2007, Vụ Thư viện ban hành công văn số 2667/BVHTT-TV về triển khai áp dụng DDC, MARC21, AACR2 trong các thư viện.
*Có thể nói, văn bản 1598 và 2667 là kết quả cả một quá trình vận động, giải trình, thuyết phục lãnh đạo Bộ VH-TT bằng những cứ liệu khoa học và thực tiễn. Tuy văn bản ra đời có phần chậm trễ, nhưng có thể coi đây là bước tiến bộ quan trọng bậc nhất về nhận thức, mở đường cho các hoạt động nghiệp vụ trên phạm vi cả nước trong quá trình hội nhập quốc tế
3.2. TVQG  đã cấp 1.600 bản phân loại DDC14 miễn phí cho các thư viện, trung tâm thông tin, đơn vị cơ sở đào tạo trong cả nước. Sách đã đuợc phân phối kịp thời, đúng đối tượng như đã thống nhất tại cuộc họp của Hội đồng tư vấn.
3.3. TVQG đã tổ chức các lớp đào tạo, tập huấn, hội thảo như sau:
3.3.1. Tổ chức đào tạo giảng viên DDC:
Với mục tiêu đào tạo giảng viên cho cả nước, TVQG đã tổ chức 2 lớp cho những cán bộ có kỹ năng phân loại tốt và có năng lực sư phạm khá của các các hệ thống thư viện trong cả nước. TVQG đã mời Giáo sư Oyler trực tiếp giảng dạy và ông Vũ Văn Sơn – Tổng biên tập DDC14 tiếng Việt làm trợ giảng.
- Lớp tại Hà Nội: 9/10 - 13/10/2006 đào tạo có 30 giảng viên
- Lớp tại Tp. Hồ Chí Minh: 30/10 - 4/11/2006 đào tạo 28 giảng viên
Học  viên được cung cấp tài liệu đầy đủ gồm: Bảng phân loại DDC14 rút gọn, đề cương bài giảng bằng giấy, bài tập, đáp án, sách thực tập. Sau khi đào tạo, các học viên có đủ năng lực làm tiểu giảng viên ở các lớp cơ sở.
3.3.2. Tổ chức tập huấn ở hệ thống Thư viện công cộng: 2 lớp
- Lớp tại Bình Thuận: 20/11 - 2/12/2006. Có 75 học viên là cán bộ quản lí phụ trách nghiệp vụ và cán bộ biên mục đến từ các thư viện tỉnh, thành phía Nam (từ Đà Nẵng trở vào)
- Lớp tại Hải Phòng: 10/12 - 22/12/2006. Có 76 học viên là cán bộ quản lí phụ trách nghiệp vụ và cán bộ biên mục đến từ các thư viện tỉnh, thành phía Bắc (Từ Thừa Thiên-Huế trở ra)
Rút kinh nghiệm các lớp trước, trước khi tổ chức tập huấn, TVQG đã tiến hành biên soạn lại bài giảng một cách chi tiết hơn. Từ nguyên tắc chung đến các nguyên tắc cụ thể trong từng mục, các cách ghép đặc biệt có các ví dụ minh hoạ, có phần bài tập kèm theo, có so sánh đối chiếu với bảng phân loại 19 lớp để học viên dễ thực hiện khi trở về các thư viện.
3.3.3. Tổ chức đào tạo tại địa phương
Dựa trên bài giảng chi tiết của TVQG biên soạn cho các lớp tập huấn cán bộ thư viện tỉnh, thành, một số thư viện tỉnh, thành đã tổ chức các lớp đào tạo, tập huấn cho các thư viện huyện, quận. Theo số liệu thống kê cuối tháng 7/2007, đã có 58% số thư viện tỉnh thuộc hệ thống thư viện công cộng được đào tạo sử dụng DDC. 42% số thư viện tỉnh còn lại dự định sẽ triển khai trong quý 3-4/2007 và 2 thư viện sẽ triển khai trong năm 2008.
3.3.4. Các lớp của hệ thống thư viện trường đại học:
-Liên hiệp Thư viện Đại học phía Bắc đã tổ chức lớp tập huấn cho 80 cán bộ thư viện các trường đại học khu vực phía Bắc trong tháng 5/2007.
-Trung tâm Học liệu Huế đã tổ chức đào tạo cho 30 cán bộ các thư viện trên địa bàn thành phố Huế.
3.3.5. Tổ chức hội thảo quốc tế:
- Hội thảo ngày 8/6/2007, đánh giá 6 tháng áp dụng DDC của các hệ thống thư viện Việt Nam. Hội thảo kết luận: Các hệ thống thư viện Việt Nam đã chủ động triển khai DDC, tuy nhiên tiến độ còn chậm.  Hệ thống thư viện công cộng và đại học triển khai tích cực hơn cả. Cần có những văn bản chỉ đạo cụ thể hơn trong việc áp dụng các chuẩn nghiệp vụ. Cần duy trì Văn phòng DDC với nhiệm vụ rộng hơn…
- Hội thảo ngày 14/12/2007 đánh giá 1 năm áp dụng DDC của các hệ thống thư viện. Hội thảo kết luận: tình hình triển khai tương đối tốt. Mạng lưới thư viện chuyên ngành chưa triển khai, cần tìm hiểu nguyên nhân. Thư viện lực lượng vũ trang bắt đầu triển khai. Mạng lưới thư viện công cộng đã triển khai đồng bộ toàn hệ thống tại hội nghị tổng kết toàn quốc 6/8/2007. Nhiều thư viện tỉnh đã tổ chức các lớp đào tạo cho cán bộ thư viện huyện, thị. Thư viện đại học tiếp tục tổ chức nhiều lớp đào tạo lại, có sự giúp đỡ của Gs. Oyler. Hội thảo nhất trí việc TVQG chọn ông Vũ Văn Sơn làm Tổng biên tập dịch DDC.22. TVQG nhanh chóng xây dựng dự án dịch bản đầy đủ, kiện toàn lực lượng văn phòng DDC, nắm số lượng DDC14 cần in thêm.
3.3.6. Tổ chức đào tạo, tập huấn tại TVQG
- Lớp tổ chức tại TVQG: 19/3 - 23/3/2007. Có 54 học viên là cán bộ chuyên môn ở các phòng ban tại Thư viện
- Để triển khai một cách đồng bộ tất cả các khâu có liên quan đến DDC, TVQG đã tổ chức 2 cuộc họp chuyên đề bàn về vấn đề này. Đến nay, mọi người nhất trí việc cần thiết áp dụng DDC tại TVQG trong thời kỳ mới - thời kỳ hội nhập. Tuy nhiên, là thư viện lớn vào bậc nhất của cả nước, với vốn sách báo lên tới hàng triệu đơn vị, việc áp dụng khung phân loại DDC phiên bản nào là hợp lý? Sau khi nghiên cứu ý kiến của Hội đồng Khoa học  đơn vị, Giám đốc đã quyết định:
+ Từ ngày 15/6/2007, toàn đơn vị sử dụng thống nhất khung phân loại DDC ấn bản 14 đã được dịch ra tiếng Việt trong công tác phân loại.
+ Từ 1/1/2008, tiếp tục sử dụng khung phân loại DDC ấn bản rút gọn 14 tiếng Việt và áp dụng DDC ấn bản đầy đủ 22 nguyên bản tiếng Anh cho sách thuộc các môn loại khoa học và kỹ thuật khi xét thấy cần thiết.
+ Ngoài ra, Giám đốc đã quyết định duy trì Văn phòng DDC với sự tham gia của các phòng liên quan. Văn phòng do Giám đốc trực tiếp điều hành nhằm đôn đốc, thúc đẩy, hỗ trợ việc áp dụng DDC trong cả nước, trao đổi kinh nghiệm, trả lời các vấn đề vướng mắc trong quá trình áp dụng, ổn định WebDDC và xây dựng dự án dịch DDC22.
+ Trong tháng 6 vừa qua, để việc áp dụng DDC đạt hiệu quả tốt, TVQG đã phải giải quyết hàng loạt vấn đề liên quan như: in nhãn xếp giá (cutter) tự động cho các kho tự chọn, hồi cố dữ liệu phân loại cho các kho tự chọn, cấu trúc lại Thư mục Quốc gia, các quy định trong việc phân loại tác phẩm văn học thiếu nhi, văn học Việt Nam (tác giả cá nhân, nhiều tác giả, sưu tập), sách khoa học thường thức viết cho thiếu nhi, truyện tranh, sách giáo khoa, sách bài tập, sách đọc thêm cho học sinh phổ thông và sách giáo trình; cách ghép một số mục đặc biệt trong bảng… và đặc biệt là vấn đề phân loại cho những tác phẩm của Hồ Chí Minh, nói về Hồ Chí Minh, chủ nghĩa Mác-Lênin và nói về chủ nghĩa Mác-Lênin…
Trong thời đại hoà nhập toàn cầu hiện nay, sự phát triển kinh tế, xã hội và khoa học kỹ thuật của tất cả các nước nói chung và Việt Nam nói riêng đều cần được cung cấp đúng, đủ và kịp thời lượng thông tin cần thiết. Thông tin đang là mạch máu duy trì sự sống và là một trong những nguồn lực quyết định sức mạnh của đất nước. Thư viện vừa là cơ sở cho thông tin phát triển, vừa là một thành viên có nhiều thế mạnh trong mạng thông tin chung của quốc gia. Mạng lưới thư viện toàn quốc mà mạnh thì công tác thông tin quốc gia cũng được gia tăng thêm sức mạnh. Song song với những tiến bộ vượt bậc về công tác tổ chức, mà tiêu biểu là sự ra đời của Pháp lệnh Thư viện và Hội Thư viện Việt Nam, việc áp dụng các chuẩn nghiệp vụ sẽ giúp cho Thư viện nước ta nhanh chóng có bước phát triển vượt bậc, vị thế trên trường quốc tế sẽ được nâng cao, mục tiêu “Thống nhất, chuẩn hóa, chia sẻ và hội nhập” của sự nghiệp Thư viện nước nhà sẽ trở thành hiện thực!
______________
Phạm Thế Khang: Giám đốc Thư viện Quốc gia Việt Nam
(Nguồn: Tạp chí Thư viện Việt Nam)
8/1/2014 3:00 PMĐã ban hành/Shared Documents/2014-09/ddc14.jpg
Để hướng tới sự chuẩn hoá trong công tác định từ khoá và định chủ đề tài liệu ở Việt NamĐể hướng tới sự chuẩn hoá trong công tác định từ khoá và định chủ đề tài liệu ở Việt Nam
Để giúp cho người đọc và người dùng tin có thể tra cứu được tài liệu một cách dễ dàng, thuận lợi các thư viện trên thế giới nói chung và các thư viện ở Việt Nam nói riêng đã luôn dành sự quan tâm đặc biệt cho các khâu xử lý thông tin, xử lý tài liệu. Trong những năm gần đây, cộng đồng thư viện Việt Nam đã luôn quan tâm đến việc chuẩn hoá công tác xử lý tài liệu và đã bắt đầu triển khai một số chuẩn nghiệp vụ như: MARC21 cho biên mục đọc máy, AACR2 cho mô tả tài liệu, DDC cho phân loại tài liệu… Trên thực tế, bên cạnh những khâu xử lý đã bước đầu được chuẩn hoá trên, cũng còn một số khâu xử lý còn bỏ ngỏ, việc xử lý còn phụ thuộc nhiều vào quy định của từng cơ quan. Trong số đó, có hai khâu cần được quan tâm là định từ khoá và định chủ đề tài liệu.
Trước khi thực hiện bài viết này, chúng tôi đã tiến hành khảo sát và điều tra 52 thư viện. Qua kết quả điều tra, chúng tôi được biết có 44 thư viện (chiếm 84,6%) có áp dụng định từ khoá và 23 thư viện (44,2%) áp dụng định chủ đề. Trong số đó, có tới 28 thư viện tiến hành định từ khoá tự do, hoặc theo những quy định cụ thể của nội bộ thư viện đó. Việc định chủ đề được tiến hành hoàn toàn tự do hoặc có thư viện dựa vào bảng tra cứu chủ đề của bảng phân loại mà thư viện áp dụng. Từ thực tiễn đó, chúng tôi thấy có một số vấn đề cần xem xét.
Nếu xem xét trên bình diện lịch sử, công tác định chủ đề tài liệu đã bắt đầu được triển khai từ thời kỳ thuộc Pháp. Ở các thư viện lớn như: Thư viện Trung ương  Đông Dương (nay là Thư viện Quốc gia Việt Nam), Thư viện trường Viễn Đông Bác Cổ, Thư viện trường Đại học Y Dược, mục lục chủ đề được tổ chức cùng với mục lục tác giả. Mục lục chủ đề là một loại mục lục cơ bản phản ánh nội dung vốn tài liệu trong những năm đầu thế kỷ XX. Ở trong các thư viện lớn, các đề mục chủ đề đã được xây dựng bằng tiếng Pháp do đối tượng sử dụng thư viện vào thời bấy giờ chủ yếu là người Pháp và các công chức phục vụ cho Pháp.
Từ năm 1954 đến năm 1960, sau khi tiếp quản Hà Nội, các thư viện lớn ở Hà Nội tiếp tục tổ chức mục lục chủ đề với tư cách là ngôn ngữ tìm tin cơ bản và duy nhất theo nội dung. Một hệ thống các đề mục chủ đề bằng tiếng Việt đã được xây dựng và sử dụng trong các thư viện lớn. Song việc làm này còn tuỳ tiện, không có thư viện nào biên soạn thành bảng đề mục chủ đề hoặc thậm chí dưới dạng hộp phiếu chủ đề công vụ. Tại Thư viện Quốc gia Việt Nam (TVQG), mục lục chủ đề được tổ chức đến năm 1960, Viện Thông tin Khoa học Xã hội, mục lục chủ đề chỉ tồn tại đến năm 1958. Từ những năm đầu của thập kỷ 60, một số thư viện lớn ở miền Bắc không tiến hành định chủ đề và xây dựng mục lục chủ đề nữa. Lúc bấy giờ, nhiều nhà thư viện của Việt Nam chịu ảnh hưởng quan điểm của một số nhà thư viện Liên Xô cho rằng mục lục phân loại là mục lục duy nhất phản ánh nội dung kho sách một cách khoa học. Một số thư viện lớn như TVQG, Thư viện Khoa học Kỹ thuật Trung ương, Thư viện Khoa học Xã hội chỉ tổ chức mục lục phân loại và không tổ chức mục lục chủ đề nữa. Nhưng trên thực tế, để giúp cho người đọc tra cứu được dễ dàng, bản thân mục lục phân loại không tồn tại được độc lập. Thiếu ô tra chủ đề chữ cái “Sách hướng dẫn trực tiếp để tìm một cách nhanh chóng trong mục lục phân loại các tài liệu mà người đọc quan tâm”, (1) mục lục phân loại sẽ khó phát huy hết tác dụng. Vì vậy, song song với việc tổ chức mục lục phân loại các thư viện còn tổ chức ô tra chủ đề chữ cái. Tuy nhiên, trong thực tiễn hoạt động thư viện ở Việt Nam đã hình thành hai khuynh hướng: Nếu như ở các thư viện lớn, các thư viện tỉnh và thành phố có xu thế chú trọng việc tổ chức mục lục phân loại thì ở các thư viện chuyên ngành, mục lục chủ đề vẫn tiếp tục được xây dựng làm loại mục lục chính. Bên cạnh đó, rất nhiều thư viện tổ chức các hộp phiếu chuyên đề. Trong hộp phiếu chuyên đề, tư liệu được phản ánh theo các chủ đề. Nhưng hộp phiếu chuyên đề không phản ánh toàn bộ nội dung vốn tài liệu của thư viện mà chỉ tập trung vào một số vấn đề được người đọc tại thư viện quan tâm.
Đối với các thư viện chuyên ngành do tính chất đặc thù và mục đích phục vụ cho các cán bộ nghiên cứu thuộc các ngành chuyên môn khác nhau, việc sử dụng ngôn ngữ tìm tin theo chủ đề cũng không hoàn toàn thống nhất. Có một số thư viện tự biên soạn bảng danh mục chủ đề cho thư viện mình, ví dụ: Thư viện Trường đại học Y, Thư viện Trường đại học Dược (trước đây). Có một số thư viện khác sử dụng các bảng đề mục chủ đề của nước ngoài và dùng luôn thuật ngữ bằng các tiếng nước ngoài đó mà không cần phải chuyển dịch sang tiếng Việt. Ví dụ: Thư viện Y học Trung ương sử dụng bảng đề mục chủ đề Y học (Medical Subject Headings - viết tắt là Me.S.H.) của thư viện Y học Quốc gia Mỹ biên soạn; Trung tâm Thông tin Bộ Nông nghiệp và Công nghiệp thực phẩm đang sử dụng nguyên bản bảng danh mục chủ đề của hệ thống Thông tin Quốc tế về khoa học và kỹ thuật nông nghiệp của tổ chức FAO; Thư viện Viện Triết học và một số viện nghiên cứu, thư viện trường đại học định chủ đề tự do…
Vào những năm 1990, cùng với xu hướng tin học hoá thư viện, công tác định chủ đề bắt đầu được quan tâm trở lại và công tác định từ khoá được triển khai rộng rãi trong các thư viện và cơ quan thông tin ở Việt Nam. Thời gian đầu các thư viện tiến hành định từ khoá tự do. Chất lượng của các từ khoá chưa thật đảm bảo và hiện tượng nhiễu tin còn phổ biến gây không ít khó khăn cho người tra tìm tài liệu. Trước thực tế đó, yêu cầu kiểm soát về mặt từ vựng đã được đặt ra. Một số bộ từ khoá quy ước và từ điển từ khoá đã được biên soạn, tiêu biểu là: Bộ Từ khoá quy ước của TVQG (đến năm 2005 được bổ sung, biên tập lại và đổi tên là Bộ từ khoá); Từ điển Từ khoá Khoa học và Công nghệ của Trung tâm Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia và Bộ từ khoá Khoa học Xã hội và Nhân văn của Viện Thông tin Khoa học Xã hội… Sau đây, chúng tôi xin điểm qua một vài nét khái lược về các bộ từ khoá đó.
Thứ nhất là Bộ Từ khoá của TVQG. Bộ Từ khoá này đã được biên soạn và xuất bản lần đầu năm 1997 với tên gọi Bộ Từ khoá quy ước trên cơ sở vốn từ khoá tự do của CSDL SACH (được nhập từ năm 1975-1991) của TVQG. Đây là bộ từ khoá quy ước đầu tiên được xây dựng tại TVQG. Bộ từ khoá ban đầu có khoảng 8000 từ. Đến năm 2005, Bộ Từ khoá đã được chỉnh lý bổ sung trên cơ sở chọn lọc từ 43.000 từ khoá đã được sử dụng trong các cơ sở dữ liệu của TVQG. Diện đề tài bao quát vốn từ vựng của Bộ từ khoá là đề tài tổng hợp, phản ánh vốn tài liệu đa dạng của TVQG.
Thứ hai là Từ điển Từ khoá Khoa học và Công nghệ của Trung tâm Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia. Từ điển Từ khoá Khoa học và Công nghệ được biên soạn trên cơ sở Bộ Từ khoá đa ngành Khoa học Tự nhiên và Công nghệ do Trung tâm biên soạn năm 1997. Sau một thời gian sử dụng tại một số các thư viện và cơ quan thông tin, năm 2001, Bộ từ khóa được chỉnh lý và xuất bản dưới dạng Từ điển Từ khoá. Diện đề tài bao quát của Từ điển Từ khoá là về lĩnh vực khoa học tự nhiên và khoa học công nghệ.
Thứ ba là Bộ Từ khoá Khoa học Xã hội và Nhân văn do Viện Thông tin Khoa học Xã hội biên soạn và hoàn tất vào năm 2005. Đây là một bộ từ khoá đa ngành, tập hợp khoảng 40.000 thuật ngữ thuộc các lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn như: Triết học, tâm lý học, xã hội học, các khoa học kinh tế, lịch sử, khảo cổ học, nghiên cứu văn hoá, dân tộc học, ngôn ngữ học, nghiên cứu văn học... Vốn từ khoá trong bộ từ khoá này được lựa chọn từ các từ khoá được sử dụng trong các cơ sở dữ liệu của Viện Thông tin Khoa học Xã hội và các thư viện nghiên cứu chuyên ngành thuộc Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia trong nhiều năm, tính đến thời điểm tháng 6 năm 2002.
Trong công tác định chủ đề, cũng có một số thư viện đã tiến hành những việc làm thiết thực để hướng tới xây dựng một bảng đề mục chủ đề có khả năng đưa ra áp dụng rộng rãi. TVQG đã cho trích dịch bảng danh mục chủ đề của Thư viện Quốc hội Mỹ. Bảng dự thảo các đề mục chủ đề gồm trên 5000 khái niệm, thuật ngữ bước đầu được coi là tài liệu tham khảo trong công tác định chủ đề. Tuy nhiên, do điều kiện có hạn, TVQG mới chỉ tiến hành dịch tên của chủ đề chứ chưa dịch đầy đủ các tham chiếu và phụ đề cho các chủ đề. Bên cạnh bảng đề mục chủ đề dự thảo của TVQG, Câu lạc bộ thư viện với sự hỗ trợ của Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh cũng đã đã tiến hành biên soạn cuốn Chọn tiêu đề đề mục cho thư viện.
Tìm hiểu, khảo cứu các bộ từ khoá và bảng đề mục chủ đề của Việt Nam hiện hành, chúng ta sẽ thấy có một số điểm đáng chú ý sau:
Thứ nhất: Các quy định về chính tả được áp dụng trong các bộ từ khoá và đề mục chủ đề chưa được thống nhất. Vấn đề thể hiện tên người, tên địa danh vẫn còn tồn tại nhiều điểm chưa nhất quán. Từ điển Từ khoá Khoa học và Công nghệ có xu hướng dùng chữ y trong khi Bộ từ khoá của TVQG có xu hướng dùng chữ i đối với các thuật ngữ có tận cùng bằng chữ i như: qui tắc, kĩ thuật, qui trình,…Tên người, tên địa danh của nước ngoài có nơi áp dụng phiên tự, có nơi áp dụng phiên âm…
Thứ hai: Quy định về cách thể hiện các tham chiếu giữa các thư viện và cơ quan thông tin cũng chưa hoàn toàn thống nhất.
Ví dụ: Trong Bộ Từ khoá của TVQG, quan hệ tương đương (quan hệ đồng nghĩa) giữa các thuật ngữ được thể hiện và kiểm soát bởi hai tham chiếu xem và dùng cho (DC). Tham chiếu “xem” để chỉ dẫn từ không quy ước đến từ quy ước và đặt trước từ được ưu tiên sử dụng. Ký hiệu tham chiếu “DC” (dùng cho) được đặt sau từ được ưu tiên sử dụng và đặt trước từ không ưu tiên là từ đồng nghĩa với từ ưu tiên.
Có thể lấy một ví dụ cụ thể là:
Đậu nành
Xem
Đậu tương
Đỗ tương
Xem
Đậu tương
Đậu tương
DC
Đậu nành
Đỗ tương (3)
Trong khi đó, trong Từ điển Từ khoá Khoa học và Công nghệ và Bộ Từ khoá Khoa học Xã hội và Nhân văn sử dụng 2 tham chiếu: Dùng cho (DC) và Sử dụng (SD).
Ví dụ:   Đóng  bao
SD  Đóng gói
Đóng gói                          
DC  Gói
Bao gói
Đóng kiện (5)
Hay: Bách khoa toàn thư
SD: Bách khoa thư
Bách khoa thư
DC: Bách khoa toàn thư...(4)
Trên thực tế, đối với người sử dụng, tham chiếu xem hay sử dụng cùng có mục đích chỉ dẫn người làm công tác định từ khoá lựa chọn các thuật ngữ sau tham chiếu để mô tả cho khái niệm khi xử lý tài liệu. Tuy nhiên, nếu có sự thống nhất về cách quy ước, các bộ từ khoá có thể dễ dàng tích hợp để sử dụng chung một cách rộng rãi hơn.
Thứ ba, trong các bảng đề mục chủ đề và bộ từ khoá của Việt Nam hiện nay chủ yếu mới chỉ thiết lập các tham chiếu thể hiện mối quan hệ ngữ nghĩa tương đương và quan hệ liên đới chứ chưa thiết lập được các tham chiếu thể hiện mối quan hệ thứ bậc (bao gồm từ rộng (TR), từ hẹp (TH) và Từ đỉnh (TĐ) như đối với từ điển từ chuẩn hay các bảng đề mục chủ đề chuẩn của một số nước ngoài và tổ chức quốc tế).
Từ thực tiễn công tác xử lý tài liệu theo từ khoá và chủ đề để có thể khẳng định: Định từ khoá và định chủ đề là các khâu xử lý đang được áp dụng rộng rãi ở Việt Nam hiện nay. Trong tra cứu tìm tin, ngôn ngữ tìm tin theo chủ đề và từ khoá đã trở nên thông dụng và quen thuộc với người đọc và người dùng tin. Mặc dù đã có sự hình thành và áp dụng rộng rãi trong các thư viện và cơ quan thông tin nhưng cho đến nay ở Việt Nam hiện nay chưa hình thành một chuẩn chung về định từ khoá và định chủ đề. Việt Nam chưa xây dựng một bảng đề mục chủ đề hay từ điển từ chuẩn nào để có thể sử dụng mang tính thống nhất, rộng rãi trong phạm vi cả nước.
Để hướng tới sự chuẩn hoá công tác định từ khoá và định chủ đề tài liệu, chúng tôi xin đề xuất một số biện pháp sau:
1. Các thư viện và cơ quan thông tin đầu ngành cần sớm có sự phối kết hợp trong việc biên soạn một bộ từ điển từ chuẩn. Để có thể rút ngắn thời gian, các thư viện có thể kế thừa các bộ từ khoá và từ điển từ khoá hiện hành: lựa chọn, tích hợp và đặt ra các quy ước thống nhất về chính tả và việc diễn đạt từ vựng. Từ điển từ chuẩn sẽ trở thành công cụ quan trọng góp phần chuẩn hoá công tác định từ khoá.
2. TVQG và các thư viện lớn cần sớm bắt tay vào xây dựng một bảng đề mục chủ đề trên cơ sở rà soát lại các đề mục chủ đề đã được sử dụng trong công tác xử lý tài liệu tại các thư viện qua hệ thống mục lục chủ đề và có thể tham khảo thêm một số bảng đề mục chủ đề của nước ngoài như: Đề mục chủ đề của Thư viện Quốc hội, Đề mục chủ đề Sear, bảng RAMEAU của Thư viện Quốc gia Pháp.
3. Đẩy mạnh hơn nữa công tác biên mục tập trung và biên mục trong ấn phẩm để các thư viện có điều kiện sử dụng các sản phẩm biên mục có sẵn, vừa tiết kiệm được thời gian công sức, vừa đảm bảo tính chính xác và thống nhất trong biên mục.
4. Các cơ quan chức năng từng bước xây dựng và thông qua Tiêu chuẩn Việt Nam về xử lý tài liệu theo chủ đề và từ khoá.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Becdichepxkaia, Ch.M. Bảng chỉ dẫn chủ bên cạnh mục lục phân loại của thư viện khoa học/Đỗ Hữu Dư dịch. - H. - 1972.
2. Bảng đề mục chủ đề dự thảo. - H.: Thư viện Quốc gia Việt Nam, 1991.
3. Bộ từ khoá. - H.: Thư viện Quốc gia Việt Nam, 2005.
4. Bộ từ khoá khoa học xã hội và nhân văn. - H.: Viện Thông tin Khoa học Xã hội,  2005. - 2T.
5. Từ điển từ khoá khoa học và công nghệ. - H.: Trung tâm Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc Gia, 2001.
6. Nghiên cứu xây dựng bộ từ khoá cho các cơ sở dữ liệu đa ngành khoa học tự nhiên và kỹ thuật: báo cáo tổng kết đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ.- H.: Trung tâm Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia, 1997.
______________
Ths. Vũ Dương Thuý Ngà: Đại học Văn hoá Hà Nội
(Nguồn: Tạp chí Thư viện Việt Nam)
9/6/2014 10:00 AMĐã ban hành/Shared Documents/2014-09/chuan thu vien.jpg
Ngày hội sách lần thứ 5Ngày hội sách lần thứ 5
Nhằm hưởng ứng ngày Sách Việt Nam (21/04), ngày Sách và Bản quyền thế giới (23/04) do Chính phủ và Bộ Giáo dục - Đào tạo phát động, sáng ngày 20/04/2018, tại Thư viện Phạm Văn Đồng, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân đã diễn ra ngày hội sách do Trung tâm Thông tin - Thư viện, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân; Hội Thư viện Việt Nam cùng Chi hội Thư viện khối Kinh tế thuộc khu vực Hà Nội đồng tổ chức.

Với chủ đề “Sách - Tri thức kiến tạo tương lai”, Ngày Hội Sách Việt Nam lần thứ 5 được tổ chức nhằm tiếp tục khẳng định, tôn vinh những giá trị của Sách, khẳng định vai trò, vị trí, tầm quan trọng của sách trong đời sống xã hội; tôn vinh những người làm công tác sưu tầm, sáng tác, xuất bản, in, phát hành, lưu giữ, quảng bá sách; khuyến khích và phát triển phong trào đọc sách trong cộng đồng; nâng cao nhận thức của nhân dân về ý nghĩa to lớn và tầm quan trọng của việc đọc sách đối với việc tiếp thu kiến thức, kỹ năng, phát triển tư duy, giáo dục và rèn luyện nhân cách con người; nâng cao trách nhiệm của các cấp, các ngành, các cơ quan chức năng và các tổ chức xã hội đối với việc xây dựng và phát triển văn hóa đọc Việt Nam.

Tham gia ngày hội sách tại Thư viện Trường Đại học Kinh tế Quốc dân có sự tham gia của các đơn vị Thư viện Phạm Văn Đồng - Trường Đại học Kinh tế Quốc dân;   Thư viện Học viện Ngân hàng; Thư viện World Bank; Thư viện Trung tâm Thông tin và Dự báo Kinh tế – Xã hội Quốc gia; Thư viện Trung tâm Thông tin – Tư liệu Viện nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương;  cùng một số đơn vị, công ty IGroup (Asia Pacific) Limited; Công ty D&L; Công ty IDT Việt Nam; Công ty Nam Hoàng…
Ngày hội sách là cơ hội cho các bạn sinh viên yêu thích đọc sách được giao lưu.
8/3/2018 10:00 AMĐã ban hành/Shared Documents/2018-08/ns1.jpg
Quản lý dữ liệu nghiên cứu: Một cách tiếp cận quản trị dữ liệu cho các thư viện Việt NamQuản lý dữ liệu nghiên cứu: Một cách tiếp cận quản trị dữ liệu cho các thư viện Việt Nam
Giới thiệu chung

Sử dụng dữ liệu làm cơ sở cho các bài báo nghiên cứu ngày càng trở nên quan trọng. Với sự hỗ trợ của công nghệ xuất bản trực tuyến thì thông tin ngày càng trở nên có sẵn và các dịch vụ thông tin trở nên nở rộ để hỗ trợ người dùng một cách tốt nhất, thông tin vì thế được sử dụng và tái sử dụng để kết hợp với các dữ liệu khác. Trên thế giới hiện nay, xu thế “dữ liệu lớn” (big data) trong các lĩnh vực khác nhau đang được sử dụng, tái sử dụng và chia sẻ để rút ngắn thời gian không chỉ nghiên cứu và còn rút ngắn được quá trình hình thành nên công trình và sản phẩm. Cùng với đó, việc khai thác tiềm năng ở mức độ sâu sắc hơn về các dữ liệu nghiên cứu, chia sẻ và quản trị các dữ liệu này đã trở thành một vấn đề mang tính chất toàn cầu. Và cũng chính vì tiềm năng khai thác, sử dụng, chia sẻ và tái sử dụng dữ liệu thô/ dữ liệu nghiên cứu (DLNC) đang trở thành vấn đề được nhiều cơ quan tổ chức quốc tế đã điều chỉnh chính sách của mình để khuyến khích, tài trợ, thậm chí uỷ quyền cho các nhà nghiên cứu, các viện và tổ chức nghiên cứu để làm cho dữ liệu này có sẵn và truy cập mở.

Khái niệm dữ liệu nghiên cứu

Khái niệm về DLNC hiện nay còn nhiều tranh luận để đưa ra một khái niệm thống nhất, vì hình thức và nội dung của dữ liệu ở các lĩnh vực khác nhau thì khác nhau.

Khái niệm về DLNC cũng có thể được hiểu và diễn giải ở nhiều cách khác nhau, năm 2005, Quỹ Khoa học Quốc gia [3] đã xuất bản tập báo cáo có tựa đề “Phát triển bộ sưu tập số mang tính chất dài hạn: khuyến khích nghiên cứu và phát triển giáo dục trong thế kỷ XXI” (Long-Lived Digital Data Collections: Enabling Research and Education in the 21st Century) đã đề cập tới việc có thể phân chia DLNC bởi nguồn gốc của chúng được tạo ra, bởi vì các dữ liệu này có thể là các dữ liệu về thí nghiệm, máy tính hay quan sát. Trong đó dữ liệu quan sát có thể là các quan trắc về nhiễu độ hay quan sát về thái độ của người bỏ phiếu trước cuộc tổng tuyển cử. Dữ liệu về máy tính có thể là kết quả từ thực hiện mô hình mô phỏng hoặc có thể là các thông tin về cấu hình như phần cứng, phần mềm. Dữ liệu về nghiên cứu, thí nghiệm ví dụ các mẫu biểu hiện gen hay tốc độ phản ứng hoá học.

Trong quá trình vòng đời nghiên cứu, DLNC được tạo ra từ những quá trình đầu tiên của việc tiến hành xem xét, xử lý, phân tích, bảo quản, truy cập và tái sử dụng dữ liệu để tạo ra thông tin mới. Theo Hiệp hội lưu trữ dữ liệu của Vương quốc Anh [6], vòng đời nghiên cứu được hình thành và liên kết với nhau tạo thành một liên kết vòng tròn hỗ trợ nhau.

alt

Trong một số trường hợp, DLNC được định nghĩa là các biểu ghi, hay các bằng chứng, dẫn chứng về nội dung của thông tin có thể ở các hình thức vật lý dạng in ấn, điện tử hay các hình thức khác. Cơ quan Phát triển và Hợp tác về Kinh tế và Giáo dục của Liên minh châu Âu [4] đã cho rằng rất khó để phân biệt DLNC và dữ liệu sơ cấp, trong một số trường hợp dễ làm người nghiên cứu nhầm lẫn. Cơ quan này cho rằng “DLNC là những biểu ghi, dữ liệu thực tế mà có thể ở chữ số, ký hiệu, chữ viết, hình ảnh, âm thanh được sử dụng như một nguồn dữ liệu thứ cấp cho nghiên cứu được chấp nhận rộng rãi trong cộng đồng nghiên cứu để kiểm tra lại các kết quả nghiên cứu”.

Theo Đại học Boston [1], DLNC không giống như các loại hình thông tin khác, chúng được thu thập, quan sát hay tạo ra cho các mục đích phân tích để sản xuất ra các kết quả nghiên cứu. DLNC có thể được tạo ra cho các mục đích khác nhau thông qua các quá trình khác nhau và có thể được chia thành các nhóm dữ liệu khác nhau, tuy nhiên mỗi nhóm dữ liệu này yêu cầu một kế hoạch quản trị dữ liệu cũng khác nhau:

- Dữ liệu về quan sát: Dữ liệu được thu nhận trong cuộc sống hiện tại, không thể thay thế được như: dữ liệu thu về từ các cảm biến, quan trắc, dữ liệu phỏng vấn, hay các hình ảnh về quan sát từ vũ trụ gửi về trái đất.

- Dữ liệu về các thí nghiệm: Dữ liệu thu thập trực tiếp từ các phòng thí nghiệm, thường có thể tái sử dụng nhiều lần, nhưng khá đắt đỏ như: các chuỗi gen người, hay dữ liệu từ trường.

- Dữ liệu mô phỏng: Dữ liệu được tạo ra từ các mô hình thử nghiệm như: mô hình thử nghiệm kinh tế, mô hình thử nghiệm thời tiết.

DLNC có thể ở các hình thức sau:

- Văn bản, tài liệu, chữ, hay các bảng tính.

- Ghi chú trong phòng thí nghiệm, đi thực nghiệm, nhật ký.

- Bảng câu hỏi, bản ghi chép tay.

- Băng ghi âm, ghi hình.

- Hình ảnh, phim ảnh.

- Phản ứng thí nghiệm.

- Slide, hiện vật, mẫu vật, mẫu.

- Bộ sưu tập các đối tượng số được tạo ra và thu thập trong quá trình nghiên cứu.

- Hồ sơ dữ liệu.

- Nội dung cơ sở dữ liệu bao gồm cả hình ảnh, âm thanh, văn bản.

- Thuật toán, các kịch bản.

- Các phương pháp và quy trình công việc.

- Các quy trình tiêu chuẩn và giao thức.

Tuỳ thuộc vào mỗi cơ quan mục đích sử dụng khác nhau sẽ có sự phân biệt và sử dụng DLNC khác nhau. Chính vì điều này đã phân biệt sự khác nhau giữa dữ liệu xuất bản và DLNC ở bảng dưới đây [2]:

alt

Sự khác nhau giữa thông tin xuất bản và DLNC

Vai trò của việc quản lý DLNC đối với các cơ quan, tổ chức và cơ quan thư viện - thông tin

Phải nói rằng, đứng sau thành công của các nhà khoa học là thành công của các cơ quan nghiên cứu, tổ chức đã đồng hành cùng các nhà nghiên cứu đó. Đối với các trường đại học và các viện nghiên cứu, việc đưa ra một chiến lược cụ thể trong việc quản lý nguồn tài nguyên có giá trị này đem lại rất nhiều lợi ích về mặt kinh tế cũng như tiếng tăm. Theo tác giả Elsevier điều này có thể được nhìn thấy ở một vài khía cạnh sau [1]:

- Quản lý DLNC đem tới sự cải thiện về chất lượng và số lượng của các kết quả đầu ra vì tốc độ nghiên cứu sẽ tăng lên cùng với độ tin cậy của các bài báo nghiên cứu sẽ cải thiện khi DLNC được truy cập mở, sẵn có cho việc đánh giá.

- Tăng việc xuất bản và tăng chỉ số ảnh hưởng: Sự sẵn có của DLNC sẽ làm tăng việc xuất bản, dẫn tới sự bùng nổ tranh luận của nhiều quan điểm, chia sẻ dẫn tới làm tăng sự ảnh hưởng của bài viết, tạo ra nhiều trích dẫn.

- Tăng cường việc hợp tác: Dữ liệu được chia sẻ là một khởi đầu cho việc hợp tác, như các nhà nghiên cứu tìm kiếm để hiểu làm thế nào kết quả được thu thập và trao đổi các quan điểm trong việc phân tích và giải thích một vấn đề.

Để có thể khai thác toàn bộ tiềm năng của DLNC, đòi hỏi mỗi cơ quan, trung tâm thông tin - thư viện cần phải đưa ra những chiến lược phát triển và hợp tác hợp lý, trong đó đề cao việc thực hiện chiến lược và chính sách truy cập mở, đảm bảo việc hanh thông về tài chính và hỗ trợ về mặt công nghệ để tài liệu được truy cập mở và dễ dàng tìm thấy. Tuy nhiên, cùng một lúc cũng đảm bảo có các chính sách về bảo hộ quyền sở hữu và thông tin cá nhân, quyền riêng tư cùng với các tiêu chuẩn về an ninh, an toàn dữ liệu để xây dựng hệ thống phục vụ việc sử dụng và tra cứu dữ liệu. Ngoài ra, cần phải có chiến lược tái sử dụng thông tin, phục vụ hoạt động DLNC sẽ được phát hiện và tái sử dụng thông qua các xuất bản phẩm, trong đó hoạt động cốt lõi là thực hiện một giải pháp xuất bản phẩm tiên tiến xem xét việc công bố các dữ liệu, phần mềm và phương pháp trích dẫn. Quá trình kiểm duyệt, cài đặt và tạo ra các định danh đối tượng số duy nhất cho các dữ liệu và dữ liệu có liên quan. Hơn thế nữa, nhiệm vụ của các trung tâm, cơ quan thư viện - thông tin trong hoạt động này là phải đảm bảo dữ liệu được kết nối với nhau, nên chúng có thể dễ dàng được tìm kiếm bởi người dùng hoặc các đối tác trong cơ quan đó hay cộng đồng người dùng ngoài cơ quan. Để thúc đẩy dữ liệu có thể được tìm thấy, các chương trình liên kết dữ liệu cần phải được cài đặt và thiết lập. Ví dụ, trường Đại học Havard liên kết những bài báo của các nhà nghiên cứu trong trường với các cơ sở dữ liệu ở cả viện nghiên cứu và các cơ quan lưu trữ mà có liên kết với nhau về nhiều ngành nghề. Việc hỗ trợ tìm kiếm một lúc trên nhiều cơ sở dữ liệu hiệu quả cũng là một vấn đề cần phải được xem xét.

Vậy lợi ích của hoạt động quản lý DLNC đối với các nhà nghiên cứu là gì? Đơn giản với những nhà nghiên cứu, có một lý lẽ được đặt ra là có lẽ không cần phải thuyết phục với họ tầm quan trọng của DLNC là gì bởi vì hơn ai hết họ hiểu được việc này, tuy nhiên có nhiều nhà nghiên cứu vẫn không hiểu được tầm quan trọng và tiềm năng của việc chia sẻ nguồn tài liệu này với cộng đồng nghiên cứu mà có thể được liệt kê ở những điểm chính sau:

- Tăng cường sự hợp tác: Chia sẻ là hợp tác và đặc biệt điều này giúp cho việc kiểm soát, thẩm định lại kết quả của các nghiên cứu.

- Tăng các chỉ số ảnh hưởng và hoạt động xuất bản: Việc chia sẻ các DLNC và quản lý chúng một cách hiệu quả giúp quá trình nghiên cứu được rút ngắn, nhiều công trình được xuất bản hơn, nâng tầm nghiên cứu, tăng các chỉ số trích dẫn tài liệu và uy tín của nhà nghiên cứu.

- Tăng sự phân phối của các nghiên cứu: Truy cập tới các nguồn DLNC giúp tăng việc phân phối các nghiên cứu này tới nhiều cơ sở dữ liệu khác nhau, thúc đẩy sự trao đổi và tái sử dụng dữ liệu.

Để hiểu rõ hơn về quy trình quản lý và trách nhiệm của các bên liên quan, hệ thống quản lý, dịch vụ lưu trữ và chia sẻ DLNC tại Thư viện trường Đại học Oslo, Na Uy được lấy làm ví dụ.

Thư viện trường Đại học Oslo, Na Uy với sự ra đời một hệ thống bao gồm trang thiết bị cơ sở vật chất và nguồn nhân lực để quản lý và chia sẻ DLNC. Hệ thống quản lý và dịch vụ lưu trữ, chia sẻ DLNC tại Thư viện trường Đại học Oslo được chia thành hai phần chính: dịch vụ lưu trữ DLNC cho các cá nhân là các nhà nghiên cứu, cho các nhóm dự án nghiên cứu và cho các cơ quan tổ chức ở ngoài; và sử dụng các công cụ để lưu trữ dữ liệu dưới nhiều ngành nghề khác nhau. Tại Đại học Oslo có nhiều nguồn lực khác nhau trong hoạt động phân phối và kiểm soát DLNC.

- USIT (Trung tâm tin học của Đại học Oslo) đã thiết lập các hệ thống cho dịch vụ quản lý dữ liệu nhạy cảm tuỳ thuộc vào các chuyên ngành như y tế và giáo dục ở trong trường. Trong đó quản lý dữ liệu và mức độ truy cập dữ liệu tới từng đối tượng người sử dụng dịch vụ.

- Bên cạnh đó còn có Trung tâm quốc gia về dịch vụ dữ liệu khoa học xã hội (Norwegian Social Science Data Service) đảm bảo rằng việc duy trì các dịch vụ này phải đúng theo pháp luật. Tuy nhiên, khi người dùng sử dụng dịch vụ này để lưu trữ các DLNC ở hình thức tài liệu nghe, nhìn có liên quan tới các nhóm dự án nhất định, tất cả các thông tin liên quan tới cá nhân, tổ chức, các thông tin nhạy cảm đặc biệt được làm không rõ danh tính vì liên quan tới DLNC, đôi khi về sức khoẻ hay thông tin y tế thì thường hay nhạy cảm, nên tất cả các thông tin lưu trữ phục vụ mục đích nghiên cứu lâu dài phải loại bỏ hết tên, hay các thông tin đời tư khác. Tất cả các thông tin liên quan tới dự án phải được xoá bỏ, nếu là băng đĩa thì phải tiêu huỷ sau khi dự án kết thúc vì liên đới tới trách nhiệm của cơ quan tổ chức khác và để đảm bảo vấn đề về cá nhân.

- Norstore: Là một cơ sở hạ tầng quốc gia cho việc lưu trữ dữ liệu khoa học. Đây là cơ quan đầu tiên của Na Uy tiến hành hoạt động đưa DLNC được truy cập mở vì nhu cầu của cộng đồng, những nhà nghiên cứu cần một nơi để lưu trữ dữ liệu an toàn, phục vụ hoạt động nghiên cứu, xuất bản, quản lý DLNC và có thể truy cập mở một phần.

Hình dưới đây sẽ chỉ rõ ra trách nhiệm cũng như vai trò của các cơ quan có liên quan trong hoạt động quản lý nguồn DLNC tại Đại học Oslo [7].

alt

Hình vẽ phác thảo mô hình thu, nhận, chia sẻ và quản lý DLNC được chia ra thành bốn khu vực. Trong đó hai khu vực đầu tiên thể hiện trách nhiệm của các bên liên quan trong hoạt động đảm bảo DLNC không chỉ đơn thuần được truy cập bởi các nhà nghiên cứu mà được chia sẻ ở một mức độ mở nhất định. Và mức độ mở ấy của dữ liệu sẽ được quy định bởi một số các yếu tố như là yếu tố về mặt pháp lý, bản quyền hoặc yêu cầu thương mại.

Ở mức độ 2, đại diện cho giải pháp trung tâm để lưu trữ và chia sẻ DLNC dựa trên tiêu chí an toàn đầu tiên, sau đó dễ dàng tiếp cận trên các nền tảng, hệ thống dữ liệu khác nhau của người dùng. Do đó, các hệ thống khác nhau này cũng đem lại những khó khăn nhất định trong việc truy cập nguồn dữ liệu. Ngoài ra, một số chức năng cần thiết trong hệ thống để đảm bảo các siêu dữ liệu trong DLNC được truy cập ở một mức độ nhất định cũng đem lại những khó khăn cho người truy cập tới nguồn này. Tại Thư viện trường Đại học Oslo, hệ thống này sẽ được đặt trực tiếp trong thư viện để tạo ra một giải pháp kết nối sử dụng DLNC ở mức độ 1 và hướng tới thiết lập hệ thống lưu trữ DLNC cuối cùng ở mức độ 3.

Mức độ 3 có liên quan tới việc các DLNC được phân tích và đưa ra các đánh giá phục vụ cộng đồng nghiên cứu, việc này sẽ được xác nhận có lưu trữ dữ liệu này hay không. Ở cấp độ này, một số dữ liệu được lưu trữ sẽ được gắn một mã định danh đối tượng số (DOI) duy nhất, ở đó nội dung của DLNC phải được đảm bảo về mặt chất lượng, siêu dữ liệu (metadata) phải được điền đầy đủ thông tin các trường. Ở cấp độ quốc gia, sẽ có Trung tâm quốc gia về dịch vụ dữ liệu khoa học xã hội, NORSTORE (Trung tâm lưu trữ dữ liệu tại Na Uy) có thể có cả Trung tâm lưu trữ quốc gia Na Uy tham gia vào hoạt động lưu trữ và truy cập mở cho DLNC.

Truy cập tới DLNC để phục vụ nhu cầu của người dùng, sau đó dữ liệu được tái sử dụng và lưu trữ, vì vậy luôn đòi hỏi các siêu dữ liệu có chất lượng cao và đi kèm là công nghệ lưu trữ tân tiến, phục vụ mọi loại hình DLNC và nội dung của nó. Hiểu được tầm quan trọng của hoạt động này, các trung tâm nghiên cứu và dịch vụ, trường đại học và viện nghiên cứu ở Na Uy đã liên kết thiết lập nên hệ thống này và vai trò của sự liên kết, hợp tác là việc tìm ra các giải pháp để khắc phục khó khăn phát sinh đi kèm với khó khăn về mặt cơ sở vật chất hạ tầng. Ngày nay, DLNC được chia sẻ dưới nhiều kênh thông tin khác nhau từ email cho tới Dropbox, điều này có thể dẫn tới một số các vấn đề nguy hiểm nếu bị mất dữ liệu hoặc mật khẩu bị lấy cắp.

Tình hình lưu trữ dữ liệu của nghiên cứu sinh tại Việt Nam hiện nay

Theo dữ liệu thu về từ việc điều tra qua bảng hỏi của 100 nghiên cứu sinh được chọn lọc ở các ngành học khác nhau trong 5 trường đại học thành viên của Đại học Quốc gia Hà Nội cho thấy, quan điểm của nghiên cứu sinh và cách họ lưu trữ các DLNC được thể hiện ở biểu đồ sau đây:

alt

Các hình thức lưu trữ dữ liệu của nghiên cứu sinh

Nhìn vào dữ liệu cho thấy, trong 100 phiếu thu về thì số lượng các nghiên cứu sinh sử dụng dịch vụ lưu trữ ở nước ngoài với hình thức trả tiền đi kèm theo các dịch vụ bảo đảm trọn đời dữ liệu được bảo quản an toàn, được sao lưu tại nhiều nơi, giảm thiểu khả năng mất mát, hỗ trợ khả năng tìm kiếm nhanh gọn dễ dàng, với mỗi hình thức dữ liệu sẽ có gắn một mã định danh đối tượng số duy nhất và có thể truy cập trực tuyến chỉ chiếm 1%. Trong đó có 4% sử dụng các dịch vụ lưu trữ của thư viện, có thể là thư viện ở trường đại học và thư viện ở các viện nghiên cứu, hình thức này ngoài việc an toàn và bảo mật thông tin được đảm bảo thì gần như các cơ quan nói trên không hỗ trợ hình thức tìm kiếm tài liệu trực tuyến. Tuy nhiên, cũng phải kể tới 5% các nghiên cứu sinh sử dụng dịch vụ lưu trữ của các doanh nghiệp trong nước như Cloud Storage của Viettel IDC, hay Datacenter, ngoài những tiện ích của các dịch vụ này như tính an toàn, bảo mật cao, dung lượng không giới hạn, tốc độ tối đa giúp sao lưu phục hồi nhanh chóng, đơn giản dễ sử dụng thì dịch vụ này nhìn chung còn khá đắt tại Việt Nam. Có 15% trong số đó khẳng định nếu họ tham gia dự án trong quá trình làm nghiên cứu sinh thì sẽ trực tiếp sử dụng hình thức lưu trữ của dự án, trong đó mỗi cá nhân chỉ được cấp một mật khẩu và truy cập DLNC có phân cấp. Thực tế là các hình thức lưu trữ dữ liệu chủ yếu là tự lưu trữ dữ liệu trên các thẻ nhớ, ổ cứng, hay sử dụng các dịch vụ miễn phí, nhưng giới hạn về dung lượng, việc lưu trữ trên các thiết bị tự do chiếm đa số tới 80%, lưu trữ không giới hạn về dung lượng nhưng việc phải lưu nhiều lần trên các hình thức lưu trữ khác nhau, không đảm bảo về mặt an toàn và bảo mật dữ liệu, khi tìm lại dữ liệu có thể gây khó khăn, thông tin dễ bị lấy cắp, là một trong những hạn chế đáng kể của hình thức này.

Hình thức lưu trữ dữ liệu tại các trung tâm thông tin - thư viện ở Việt Nam

Tại Việt Nam, hình thức lưu trữ DLNC còn khá mới mẻ, theo khảo sát tại một số các trung tâm thông tin - thư viện và viện nghiên cứu cho thấy, đa số chưa có hình thức dịch vụ lưu trữ này. Các dịch vụ thư viện vẫn còn dừng lại ở hình thức phục vụ người dùng tin sử dụng và tra cứu thông tin như: dịch vụ cung cấp tài liệu theo yêu cầu, đăng ký sử dụng thư viện, số hoá tài liệu, bảo quản tài liệu. Với xu thế hiện nay, việc các nhà nghiên cứu tại các đơn vị và viện nghiên cứu phát triển được đem lại nguồn lợi về cả vật chất và danh tiếng cho cơ quan đó, vì vậy, mỗi trung tâm thông tin - thư viện cần phải hiểu được tầm quan trọng của DLNC là một nguồn dữ liệu có giá trị, nhưng đi kèm với đó là yêu cầu của nguồn nhân lực có kỹ năng và trình độ cao, tài chính để duy trì và tạo ra chúng. Để đi cùng xu thế phát triển, các trung tâm thông tin - thư viện cần lên kế hoạch chi tiết cho việc hỗ trợ hoạt động thu thập và quản lý nguồn dữ liệu này bằng cách xác định các mục tiêu sau:

- Những dữ liệu nghiên cứu nào sẽ được tạo ra và sẽ thu thập.

- Ai sẽ chịu trách nhiệm cho mỗi khía cạnh của hoạt động quản lý mà nhà nghiên cứu sẽ giao nộp dữ liệu.

- Cần có những chính sách gì bao gồm cả hoạt động tài chính và pháp lý sẽ áp dụng lên dữ liệu đó.

- Dữ liệu sẽ được tổ chức theo hình thức nào.

- Những trang thiết bị nào sẽ cần thiết: phần cứng, phần mềm, sao lưu dữ liệu, lưu trữ và bảo quản.

- Ai sẽ có quyền sở hữu và truy cập.

- DLNC sẽ được bảo quản và truy cập mở trong thời gian như thế nào.

Kết luận

Với sự phát triển không ngừng của các tiến bộ khoa học kỹ thuật, ngày càng có nhiều những nghiên cứu mới ra đời phục vụ nhu cầu và sự phát triển của con người, điều này cũng đặt ra thách thức mới cho các trung tâm thông tin - thư viện là làm thế nào để quản lý nguồn DLNC được hiệu quả, thúc đẩy quá trình nghiên cứu và rút ngắn thời gian nghiên cứu. Các nhà nghiên cứu, khoa học, học giả và các nhà yêu thích khoa học đang ngày đêm tạo ra một khối lượng dữ liệu mới, điều này đặt ra thách thức với các trung tâm thông tin - thư viện phải đầu tư cơ sở hạ tầng và nguồn nhân lực để thu thập và quản lý nguồn dữ liệu có giá trị này.

Tài liệu tham khảo

1. Elsevier. Research data management. http:// www.elsevier.com/about/open-science/research-data/research-data-management. Retrieved 24/2/2017.

2. Kuula, A. andBorg, S. Open Access to and Reuse of Research Data -The State of the Art in Finland. http://www.fsd.uta.fi/fi/julkaisut/julkaisusarja/FSDjs07_OECD_en.pdf.

3. National Science Foundation. Long-Lived Digital data collections: Enabling research and education in the 21st century. http://www.nsf.gov/pubs/ 2005/nsb0540/nsb0540.pdf.

4. OECD. Principles and Guidelines for Access to Research Data from Public Funding. http://www.oecd.org/science/sci-tech/38500813.pdf.

5. Research Data Management. http://www.bu.edu/datamanagement/. Retrieved 24/2/2017.

6. UK Data Archive. Research data lifecycle. http:// www.data-archive.ac.uk/create-manage/life-cycle. Retrieved 6/2/2017.

7. University of Oslo. The data explosion - a major challenge, and a great opportunity! http://www.uio.no/english/for-employees/support/research/research-data/ engelskversjonrapport. pdf. Retrieved 6/2/2017.

_____________

ThS. Nguyễn Thị Kim Lân

Khoa Thông tin - Thư viện, trường ĐH KHXH&NV, Đại học Quốc gia Hà Nội

Nguồn: Tạp chí Thư viện Việt Nam. - 2017. - Số 3. - Tr. 19-24,42.
9/14/2018 12:00 PMĐã ban hành/Shared Documents/2018-09/PhotoShare-e5897.png
aaaaaaaa
bbbbb
9/11/2014 11:05 AMĐã hủy ban hành/Shared Documents/2014-09/clipart-a-person-boy-512x512-b03b.pngccccc