Skip Ribbon Commands
Skip to main content
SharePoint
Kỷ niệm ngày thành lập Đoàn TNCS Hồ Chí Minh 26/3
******
Chào mừng kỷ niệm 45 năm ngày giải phóng miền Nam 30/4/1975 - 30/4/2020

Skip Navigation LinksTin Thư viện

Search
 
Tin Thư viện
 
​1. Khái niệm Internet of ThingsHiện nay, Mạng lưới vạn vật kết nối (Internet of Things - IoT) không còn là một khái niệm mới nhưng vẫn chưa có một định nghĩa chính thức. Có một số định nghĩa nhấn mạnh vào các khía cạnh kỹ thuật của IoT, một số định nghĩa khác lại tập trung vào chức năng của nó. Năm 1999, Kevin Ashton, nhà khoa học đã sáng lập ra Trung tâm Auto-ID ở Viện công nghệ Massachusetts (M... 
 
Kinh tế - xã hội nước ta ba tháng đầu năm 2020 diễn ra trong bối cảnh kinh tế thế giới tăng trưởng chậm, những nền kinh tế lớn như Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản, Cộng đồng chung châu Âu đang chứng kiến tình trạng suy giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế; giá dầu thô giảm mạnh do căng thẳng giữa A-rập Xê-út và Liên bang Nga, chiến tranh thương mại Mỹ - Trung vẫn tiếp diễn, căng thẳng địa chính trị gia tăng giữa Mỹ và Iran, cùng với biến đổi khí hậu và đặc biệt là dịch viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của vi rút Corona (Covid-19) bùng phát mạnh trên toàn cầu đã tác động tiêu cực đến kinh tế của các quốc gia trên thế giới[1]. Cục dự trữ Liên bang Mỹ (FED) liên tục cắt giảm lãi suất cho thấy dấu hiệu suy giảm sâu của kinh tế Mỹ, nhiều nước châu Âu đóng cửa biên giới nhằm ngăn chặn dịch bệnh lây lan đã đe dọa chuỗi cung ứng và làm tăng nguy cơ thiếu hụt nguyên liệu sản xuất, sản phẩm tiêu dùng. Trong nước, bên cạnh những thuận lợi từ kết quả tăng trưởng tích cực năm 2019, kinh tế vĩ mô ổn định nhưng phải đối mặt với không ít khó khăn, thách thức, dịch Covid-19 diễn biến phức tạp, khó lường làm tăng trưởng ở hầu hết các ngành, lĩnh vực chậm lại, tỷ lệ thất nghiệp, thiếu việc làm tăng cao. Bên cạnh đó, thời tiết những tháng đầu năm không thuận lợi, hạn hán, xâm nhập mặn diễn ra sớm ảnh hưởng đến năng suất và sản lượng cây trồng, dịch tả lợn châu Phi chưa được khống chế hoàn toàn. Trước tình hình đó, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã kịp thời chỉ đạo quyết liệt các bộ, ngành, địa phương thực hiện đồng bộ, hiệu quả các giải pháp vừa phòng chống dịch bệnh, bảo đảm sức khỏe người dân, vừa phòng chống suy giảm kinh tế và giữ vững ổn định xã hội, nỗ lực phấn đấu cao nhất thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2020. Ngày 4/3/2020, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 11/CT-TTg về các nhiệm vụ, giải pháp cấp bách tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, bảo đảm an sinh xã hội ứng phó với dịch Covid-19.  
 
Báo cáo trình bày các kết quả chủ yếu của cuộc điều tra lao động và việc làm năm 2018 nhằm cung cấp các thông tin về lao động, việc làm cho người sử dụng. bên cạnh đó, kết quả điều tra cũng bao gồm một số chỉ tiêu chủ yếu về thất nghiệp và thiếu việc làm đối với nhóm người trong độ tuổi lao động, số liệu được tổng hợp theo quý cho cấp toàn quốc và cấp vùng và theo năm cho cấp tỉnh/thành phố 
 
​1. Đặt vấn đềSự bùng nổ của công nghệ thông tin và truyền thông trong giai đoạn hiện nay đã tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan thư viện - thông tin trong việc tiếp cận đến người dùng tin (NDT) và quảng bá các sản phẩm, dịch vụ thư viện - thông tin. Nếu như trước đây các thư viện thường sử dụng các tờ rơi, pa nô, áp phích để truyền thông điệp đến NDT, thì ngày nay các thư viện có thể tận dụng... 
 
​Vai trò của thư viện trong việc thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững của Liên Hợp QuốcĐặt vấn đềBối cảnhTháng 9/2015, Liên hợp quốc (LHQ) đã thông qua Chương trình nghị sự (CTNS) 2030 với việc đặt ra 17 mục tiêu phát triển bền vững (PTBV) - Sustainable Development Goals (SDGs) cho 15 năm tới thay thế cho 8 mục tiêu phát triển thiên niên kỷ - Millennium Development Goals (MDGs) đã thực hiện ... 
 
​Giới thiệuTrong khoảng 10 năm qua, các thư viện và nhà nghiên cứu về lĩnh vực thư viện - thông tin đã có nhiều hội thảo, bài viết về sự phát triển lên thế hệ thư viện 3.0. Tất nhiên các nghiên cứu, bài viết tập trung và xoay quanh các vấn đề như: thư viện số, công nghệ số, lưu trữ số, điện toán đám mây, dịch vụ web, tìm kiếm thông minh… và gần đây trong bối cảnh nền cách mạng công nghiệp (CMC... 
 
Niên giám thống kê gồm các số liệu thống kế kinh tế - xã hội 2018 của Việt Nam 
 
Sau hơn 30 năm thực hiện công cuộc đổi mới, Việt Nam đã đat được nhiều thành tựu về phát triển kinh tế - xã hội, từng bước hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế khu vực và thế giới. Để có được thành tựu đó, đầu tư trực tiếp nước ngoài đã đóng góp một phần không nhỏ, cuốn sách Tổng điều tra kinh tế năm 2017 - Kết quả hoạt động của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài giai đoạn 2011-2016 thể hiện rõ những hoạt động của các doanh nghiệp FDI trong những năm gần đây. Nội dung sách gồm các phần: Phần I: Tổng quan về hoạt động đầu tư nước ngoài tại Việt Nam giai đoạn 2011-2016. Phần II: Số liệu thu hút đầu tư nước ngoài giai đoạn 2011-2016. Phần III: Số liệu tổng hợp kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp FDI giai đoạn 2011-2016  
 
 
  
  
Tóm tắt
Nội dung
  
  
  
Kinh tế - xã hội quý I năm 2020Kinh tế - xã hội quý I năm 2020
Kinh tế - xã hội nước ta ba tháng đầu năm 2020 diễn ra trong bối cảnh kinh tế thế giới tăng trưởng chậm, những nền kinh tế lớn như Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản, Cộng đồng chung châu Âu đang chứng kiến tình trạng suy giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế; giá dầu thô giảm mạnh do căng thẳng giữa A-rập Xê-út và Liên bang Nga, chiến tranh thương mại Mỹ - Trung vẫn tiếp diễn, căng thẳng địa chính trị gia tăng giữa Mỹ và Iran, cùng với biến đổi khí hậu và đặc biệt là dịch viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của vi rút Corona (Covid-19) bùng phát mạnh trên toàn cầu đã tác động tiêu cực đến kinh tế của các quốc gia trên thế giới[1]. Cục dự trữ Liên bang Mỹ (FED) liên tục cắt giảm lãi suất cho thấy dấu hiệu suy giảm sâu của kinh tế Mỹ, nhiều nước châu Âu đóng cửa biên giới nhằm ngăn chặn dịch bệnh lây lan đã đe dọa chuỗi cung ứng và làm tăng nguy cơ thiếu hụt nguyên liệu sản xuất, sản phẩm tiêu dùng. Trong nước, bên cạnh những thuận lợi từ kết quả tăng trưởng tích cực năm 2019, kinh tế vĩ mô ổn định nhưng phải đối mặt với không ít khó khăn, thách thức, dịch Covid-19 diễn biến phức tạp, khó lường làm tăng trưởng ở hầu hết các ngành, lĩnh vực chậm lại, tỷ lệ thất nghiệp, thiếu việc làm tăng cao. Bên cạnh đó, thời tiết những tháng đầu năm không thuận lợi, hạn hán, xâm nhập mặn diễn ra sớm ảnh hưởng đến năng suất và sản lượng cây trồng, dịch tả lợn châu Phi chưa được khống chế hoàn toàn.
Trước tình hình đó, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã kịp thời chỉ đạo quyết liệt các bộ, ngành, địa phương thực hiện đồng bộ, hiệu quả các giải pháp vừa phòng chống dịch bệnh, bảo đảm sức khỏe người dân, vừa phòng chống suy giảm kinh tế và giữ vững ổn định xã hội, nỗ lực phấn đấu cao nhất thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2020. Ngày 4/3/2020, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 11/CT-TTg về các nhiệm vụ, giải pháp cấp bách tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, bảo đảm an sinh xã hội ứng phó với dịch Covid-19.

4/1/2020 10:00 AMĐã ban hành/Shared Documents/2020-04/tải xuống.jpg
QUI TẮC BIÊN MỤC ANH-MỸ AACR2 VÀ THỰC TIỄN BIÊN MỤC VIỆT NAMQUI TẮC BIÊN MỤC ANH-MỸ AACR2 VÀ THỰC TIỄN BIÊN MỤC VIỆT NAM

Cuộc hội thảo về "Hệ thống và tiêu chuẩn cho thư viện Việt Nam", (26-28/ 9 / 2001) do Học viện Công nghệ Hoàng gia Melbourne (RMIT) tổ chức tại Hà Nội, với sự tham gia của một số lãnh đạo các thư viện và trung tâm thông tin lớn của ba miền đất nước như: Trung tâm Thông tin Tư liệu KHCN Quốc gia, Thư viện Quốc gia Việt Nam, Trung tâm Thông tin- Thư viện Đại học Quốc gia Hà Nội, Thư viện KHTH TP Hồ Chí Minh, Thư viện Đại học Cần Thơ, Đại học Đà Nẵng, Đại học Huế,…đã đi đến một trong số các khuyến nghị như sau:

"- Nếu Qui tắc biên mục Anh-Mỹ AACR2 đưược thông qua, Bộ Giáo dục và Đào tạo và Bộ Văn hoá- Thông tin Việt Nam nên:

a. Khuyến khích đưa AACR2 vào chương trình thư viện và thông tin học;

b. Tìm nguồn tài trợ để hiệu đính văn bản AACR2 hiện có cho phù hợp với thuật ngữ đương đại.

Ngoài ra, xu thế biên soạn MARC Việt Nam hiện nay dựa trên MARC 21 là một khổ mẫu có quan hệ chặt chẽ với AACR2 cũng khiến cho nhiều người trong Cộng đồng thông tin-thư viện Việt Nam quan tâm đến Qui tắc biên mục này.

Như chúng ta đều biết: Các nguyên tắc biên mục Paris (1961) đã là cơ sở để biên soạn các qui tắc mô tả và lập tiêu đề, là một bước tiến quan trọng tiến tới tiêu chuẩn hoá biên mục trên phạm vi toàn thế giới. Năm 1967, Mỹ và Anh đã hợp tác biên soạn và xuất bản một bộ qui tắc chung gọi tắt theo tiếng Anh là AACR (Anglo-American Cataloguing Rules), còn gọi là AACR1 để phân biệt với AACR2 sau này. Trong những năm về sau, còn có sự tham gia của các đồng nghiệp Canada và Úc vào Uỷ ban liên hợp chỉ đạo việc chỉnh lý bộ qui tắc này.

Một đổi mới quan trọng, khác với các qui tắc trước đây, trong đó có Qui tắc do Hội Thư viện Mỹ (ALA) biên soạn năm 1949, là nhấn mạnh đến sự ưu tiên lấy các thông tin trên trang nhan đề để đưa vào mô tả. Các thông tin trong lời nói đầu, lời giới thiệu và trong chính văn chỉ sử dụng đến khi trang nhan đề không có hay nói không rõ. AACR chú trọng lập tiêu đề theo các loại tên người (tác giả chính, phụ và những người khác tham gia xây dựng tác phẩm, nhân vật), hơn là thể loại. Qui tắc này phân biệt (bản) mô tả chính và mô tả bổ sung, phân biệt hai hình thức trình bày mô tả: theo tác giả và theo nhan đề (dòng treo).

AACR đề cập tới hình thức mô tả với tiêu đề tác giả tập thể là tên gọi thường dùng của các cơ quan tổ chức và những qui định đối với việc đưa tên gọi của các cơ quan cấp trên vào tiêu đề.

Xu hướng hạn chế dùng tên địa danh trong tiêu đề tác giả tập thể cũng thể hiện, tuy nhiên, trong lần xuất bản năm 1974, việc này mới được qui định dứt khoát.

Nhược điểm của AACR là còn có nhiều qui định bổ sung và ngoại lệ mang tính chắp vá do phải giải quyết những vướng mắc trong quá trình áp dụng để dung hoà với thực tiễn biên mục cũ. Chẳng hạn, chỉ những cơ quan tổ chức lần đầu tiên được lập tiêu đề, mới theo AACR, nghĩa là, lập tiêu đề trực tiếp theo tên gọi thông dụng của các cơ quan tổ chức đó, chứ không phải thông qua địa danh đặt ở trước. Như vậy, trong khoảng thời gian từ 1967 đến 1981, hàng ngàn tiêu đề của nhiều thư viện Mỹ vẫn lập theo kiểu cũ.

Năm 1974, đại diện của các hội thư viện và các thư viện quốc gia của Anh, Mỹ và Canađa đã họp lại để bàn về việc soạn thảo một văn bản hoàn toàn mới: Qui tắc AACR2, để khắc phục tình trạng chắp vá nói trên, tạo điều kiện thuận lợi cho người sử dụng mục lục nhanh chóng tìm được tư liệu và cải thiện hợp tác quốc tế trong lĩnh vực biên mục.

Một nguyên nhân quan trọng nữa thúc đẩy sự ra đời của AACR2 là sự cần thiết phải áp dụng Mô tả theo tiêu chuẩn quốc tế ISBD trong biên mục sách, xuất bản phẩm định kỳ cũng như các loại hình tư liệu và vật mang tin khác.

Mục tiêu của Hội nghị là:

– Thống nhất và hợp nhất các văn bản qui tắc của Bắc Mỹ và của Anh xuất bản năm 1967, đồng thời bổ sung những điều khoản đã sửa chữa hoặc thay đổi theo sự thoả thuận chung.

– Tạo điều kiện mở rộng sử dụng Qui tắc Anh-Mỹ ra ngoài phạm vi của Bắc Mỹ và Anh.

–  Xem xét để đưa vào Qui tắc Anh-Mỹ (AACR) những kiến nghị của các hội thư viện Mỹ, Canađa, Thư viện Quốc hội Mỹ cũng nhưư của các uỷ ban biên mục quốc gia tại các nước có tham khảo và sử dụng Qui tắc Anh-Mỹ.

AACR2 được chính thức xuất bản vào cuối năm 1978, nhưng đến tháng 1 năm 1981 mới thực sự được áp dụng tuơng đối rộng rãi. Và từ đó đã trải qua nhiều lần xuất bản có bổ sung và sửa chữa.

Khác với cách bố cục của các qui tắc biên mục trước đó, AACR2  trình bày các qui định về mô tả trước các qui định lựa chọn tiêu đề, bởi vì trình tự này phù hợp với thực tiễn biên mục hiện nay và trong tưương lai tại phần lớn các thư viện và cơ quan thư mục. Ngoài ra, nó cũng tạo điều kiện thuận lợi cho việc tích hợp các biểu ghi mô tả sách và các loại hình tư liệu khác trong cùng một thư mục.

Trong các qui định về tiêu đề mô tả (điểm truy nhập), AACR2 ít nhấn mạnh tới hình thức của bản mô tả chính và bản mô tả phụ và tạo khả năng sử dụng nhiều điểm truy nhập cùng một lúc và cung cấp mô tả thư mục đầy đủ.

Một thay đổi lớn nữa là trong khi chọn mô tả chính, người ta không sử dụng tràn lan tên các cơ quan tổ chức làm "tác giả tập thể" mà chỉ qui định một số trường hợp mà thôi, còn các trường hợp khác được chuyển sang mô tả bổ sung, nếu cần.

Bỏ phụ tiêu đề thống nhất hình thức "luật", "hiệp ước", "kinh thánh"… cho các tác phẩm pháp lý và tôn giáo. Thay vào đó là sử dụng "nhan đề thống nhất" hoặc "đề mục chủ đề ".

Đối với các tiêu đề tên người, thì ưu tiên sử dụng các tên hay biệt hiệu thông dụng, không đảo tên người trong thành phần của tên gọi các cơ quan tổ chức, giải quyết thống nhất tên các bang của Úc, Liên Xô cũ, các hạt (county) của Anh theo kiểu các bang nước Mỹ.

AACR2  đặt nền tảng cho sự hợp tác biên mục trên phạm vi quốc gia và quốc tế, cải tiến các dịch vụ thư mục và tiết kiệm được giá thành. Do cung cấp một mẫu mô tả thống nhất cho tất cả các loại hình tư liệu, nên qui tắc này đã tạo khả năng thực hiện mục lục tích hợp đa phương tiện (multimedia). Ngoài ra, giảm được thời gian tìm kiếm tư liệu cho người sử dụng bằng cách cung cấp những tiêu đề (điểm truy nhập) tương thích nhiều hơn với những hình thức quen dùng trong sách báo và tham chiếu trích dẫn.

Thư viện Quốc hội Mỹ đã đi đầu trong việc áp dụng AACR2 và có những đóng góp đáng kể trong việc sửa đổi, hiệu chỉnh qui tắc này.

Ngoài một số ít thư viện quyết định ngừng mục lục phiếu hiện có và tạo lập mục lục mới với phương pháp mô tả theo AACR2, còn phần lớn chỉ thay đổi tiêu đề theo qui định mới và làm tham chiếu (chỉ chỗ) qua lại "xem thêm:" cho hệ thống mục lục hiện có.

Năm 1988, AACR2 đã đưược chỉnh biên với tên gọi Qui tắc Anh- Mỹ 2 có chỉnh lý, AACR2 R (Anglo-American Cataloguing Rules 2 Revision).

Một sự thay đổi có ý nghĩa quan trọng là trong cơ cấu nội dung của AACR2 R, phần I, mở đầu, có một chương chung giới thiệu các điều khoản có thể áp dụng  cho tất cả các loại hình tư liệu và các tình huống khác nhau dựa theo tinh thần của ISBD (G). Tiếp đó là các chương riêng phản ánh đặc điểm mô tả của từng loại hình tư liệu riêng biệt với mức độ qui định chặt chẽ và chi tiết hơn. Thí dụ: Chương hai: Mô tả sách hay chuyên khảo in; Chương 5: Nhạc phẩm; Chương 6 : Tưư liệu ghi âm; Chương 9: Tệp tin học; Chương 12: Xuất bản phẩm nhiều kỳ (serials),…

AACR2 R cũng nói rõ trong quá trình mô tả, có khi người biên mục phải tra cứu nhiều chương. Thí dụ, một xuất bản phẩm nhiều kỳ có thể đưược sản xuất dưới dạng vi phiếu (microfiche) hay đĩa quang (CD-ROM). Trong tình huống này, họ vừa phải dựa vào các qui định trong chương mô tả xuất bản phẩm nhiều kỳ, vừa phải tra cứu các chương qui định về mô tả tư liệu vi hình hay về các tưư liệu đa phương tiện (multimedia).

Ngoài ra, AACR2 còn đưa vào sơ đồ mô tả một khoản thông tin khái quát chung về loại hình tư liệu gọi là "Định danh chung về loại tư liệu" (GMD: General Material Designation) đặt trong ngoặc vuông, ngay sau nhan đề chính, ở vùng thứ nhất của mô tả.Thí dụ, Đời sống động vật [ghi hình], mặc dầu vùng mô tả vật thể (vùng đặc trưng số lưượng) cũng có những thông tin về loại hình, nhưưng đó là những thông tin riêng, cụ thể, về vật mang tin của tư liệu đưược mô tả (Định danh riêng về loại tư liệu), Thí dụ:  băng hình, phim điện ảnh, đĩa quang,…

Các qui tắc trong AACR2 R thể hiện được tính linh hoạt, mềm dẻo với 3 mức độ mô tả chi tiết tuỳ theo nhu cầu của từng nước hay tầm cỡ của thư viện sử dụng, nhưng vẫn đảm bảo theo đúng chuẩn mực quốc tế.

Trong quá trình chuyển đổi mục lục phiếu truyền thống sang mục lục đọc máy và các mục lục truy nhập trực tuyến (on-line), các thưư viện Anh, Mỹ đều xây dựng tiêu đề (điểm truy nhập) theo AACR2 R và có các tham chiếu đối với các hình thức đã dùng trước đây. Cho đến lần chỉnh biên năm 1988, AACR2 đã được áp dụng trong hầu hết các nước nói tiếng Anh.

Năm 1997, một cuộc hội nghị quốc tế về các nguyên tắc và sự phát triển tương lai của AACR2 đã được tổ chức tại Toronto, Canada [5]. Hội nghị đã phân tích tính lôgic của các qui tắc nhằm xác định những nguyên tắc làm cơ sở cho những qui tắc ấy để AACR2 đáp ứng được các tiêu chuẩn chính xác, mềm dẻo, thân thiện với người dùng, tương thích và hiệu quả, với hi vọng biến bộ qui tắc này trở thành một chuẩn quốc tế; đồng thời cũng xem xét lại khái niệm và định nghĩa của xuất bản phẩm nhiều kỳ (serials) trong bối cảnh xuất hiện các nguồn tin điện tử, đặc biệt là các nguồn tin trên mạng. Những người dự Hội nghị cũng đã đề nghị chỉnh sửa Phần I của AACR2 theo sát ISBD hơn nữa, đặc biệt là Chương 9: Tệp tin học (CF) cần đổi tên là Nguồn tin điện tử (ER) theo đúng tinh thần và nội dung của ISBD (ER). Đã có khuyến nghị sử dụng thuật ngữ "xuất bản phẩm hoặc nguồn còn đang diễn tiến" (on-going publications/resource), bao hàm các dạng tài liệu: xuất bản phẩm nhiều kỳ, tờ rời và cơ sở dữ liệu, thay cho thuật ngữ "xuất bản phẩm nhiều kỳ". Một khuyến nghị nữa rất đáng chú ý nữa là phải cải biên lại điều 0.24 của AACR2 theo tinh thần nhấn mạnh đến nội dung tri thức của tài liệu hơn là vật mang tin cho phù hợp của với phương châm phát triển nguồn tin hiện nay là kết hợp giữa sở hữu tại chỗ và truy nhập tài liệu từ xa, ở nơi khác. Qui định này (0.24) nói rằng khi mô tả phải trực diện với tài liệu, nghĩa là có tài liệu trong tay, do đó đã làm cho AACR2 không đủ linh hoạt để mô tả các tài liệu luôn luôn thay đổi theo thời gian, là một trong những đặc trưng chung của các nguồn tin điện tử [5,6]. Có ý kiến nhận định AACR2 đang đứng trước nguy cơ bị "teo lại" trước thách đố của sự phát triển siêu dữ liệu (đặc biệt là chuẩn Dublin Core). Tuy nhiên, theo bà Ann Huthwaite, người quản lý các dịch vụ thư mục của Thư viện Trường đại học Queenland (Úc) thì tính bất ổn định, không có ranh giới rõ rệt của các nguồn tin trên Internet, vấn đề làm thế nào để tạo lập các biểu ghi mới, giải quyết trường hợp có rất nhiều phiên bản (version) của cùng một tư liệu,… cũng là những câu hỏi và thách đố đặt ra đối với những người phát triển siêu dữ liệu. Và cuối cùng thì họ vẫn phải đối mặt với vấn đề kiểm soát tính nhất quán của các tên người và cơ quan tổ chức. Nếu chỉ dựa vào tìm tin theo từ khoá không thôi thì chưa đủ, vì tiêu chuẩn hoá và tính nhất quán của các điểm truy nhập là những yếu tố rất cơ bản để tìm tin có hiệu quả. Trong mục lục thư viện, điều này đã đạt được thông qua việc áp dụng các qui tắc trong phần II của AACR2. Nếu không áp dụng những qui tắc này thì sự kiểm soát thư mục sẽ rối loạn. Nhìn chung, có sự tưương ứng giữa AACR2 và các tiêu  chuẩn siêu dữ liệu và các chuẩn này có thể chuyển đổi lẫn nhau. Tuy nhiên, khi AACR2/MARC chuyển đổi sang siêu dữ liệu thì tính chính xác sẽ bị mất đi một cách đáng kể (một số yếu tố không biết đưa vào đâu). Còn ngược lại, khi siêu dữ liệu chuyển đổi sang AACR2/MARC thì ngay lập tức nó không thể tạo được một biểu ghi đầy đủ. Phải mất công hiệu đính nội dung, để nó tuân thủ với các tiêu chuẩn của AACR2. Hội nghị đi đến kết luận rằng Cộng đồng thư viện nên ráng sức ủng hộ sự phát triển tiếp tục của AACR2 và dự kiến năm 1998, chỉnh biên một lần nữa cho phù hợp với những bưước phát triển mới trong lịch sử AACR2. Đến nay, bộ qui tắc này đã được dịch sang 18 thứ tiếng khác và được xuất bản đồng thời dưới 2 dạng: ấn phẩm và điện tử. Để hỗ trợ cho AACR2 còn có 2 bản hưướng dẫn mới được xuất bản: "Hướng dẫn mô tả thư mục cho tư liệu multimedia tương tác" và "Hướng dẫn mô tả thư mục cho các phiên bản" (reproduction).

Trước năm 1975, AACR đã thâm nhập vào miền Nam nước ta, nơi đã lưu hành và sử dụng bản dịch AACR với nhan đề : "Qui tắc tổng kê Anh-Mỹ". Gần đây, năm 2001, các đồng nghiệp Việt Nam ở nước ngoài, ông Lâm Vĩnh Thế và bà Phạm Thị Lệ Hương đã hoàn thành bản dịch tiếng Việt của Bộ qui tắc Biên mục Anh Mỹ 2 rút gọn (The Concise AACR2), và Hội hỗ trợ thư viện và giáo dục Việt Nam ở Hoa Kỳ (LEAF-VN) dự định xuất bản và đưa về nước phổ biến trong năm nay, sau khi đã lấy ý kiến góp ý của một số chuyên gia biên mục trong nước.

Có thể nói, nhiều qui định trong AACR2 không xa lạ với thực tiễn biên mục Việt Nam vì:

– Từ những năm 70 của thế kỷ trước, các qui tắc biên mục trên thế giới nói chung đã được chuẩn hoá về số lưượng, thứ tự trình bày và hệ thống dấu phân cách các yếu tố/vùng mô tả theo Tiêu chuẩn mô tả thư mục (ISBD). AACR2, như đã trình bày ở trên, không phải là một ngoại lệ. Trong khi đó, từ năm 1984, qui tắc mô tả thư mục của các thư viện Việt Nam hiện hành (đặc biệt là qui tắc của hai thư viện đầu ngành: Thư viện Quốc gia Việt Nam và Thư viện KHKT Trung ương), ở những mức độ khác nhau, đều được biên soạn theo ISBD.

– Thực tế biên mục Việt Nam, trước năm 1985 (năm bắt đầu có những bộ qui tắc dựa theo ISBD), chịu ảnh hưởng rất nhiều của Liên Xô cũ, nơi mà nhiều cán bộ thư viện Việt Nam được đào tạo, nhiều chuyên gia thư viện Liên xô được cử sang Việt Nam hướng dẫn và giảng dạy về biên mục và đặc biệt là bộ qui tắc "Những qui tắc thống nhất mô tả ấn phẩm" (Edinye pravila dlja proizvedenij pechati) đã là tài liệu cơ bản để dịch và biên soạn các qui tắc mô tả của ta thời bấy giờ. Tuy vậy, các qui tắc mô tả ấn phẩm của Liên Xô cũ lại được biên soạn dựa theo truyền thống biên mục Anh-Mỹ (mặc dầu có hạn chế hiện tượng sử dụng tràn lan tiêu đề tác giả tập thể của Qui tắc Anh Mỹ AACR). Ta thấy rất rõ các dấu ấn của AACR trong "Những qui tắc thống nhất mô tả ấn phẩm" của Liên Xô cũ và các qui tắc mô tả của Thư viện Quốc gia Việt Nam (Tác giả: Hoàng Đình Dương) và Thư viện KHKT Trung ương (Tác giả: Nguyễn Kim Anh) thời gian này như: sử dụng những qui định về nhan đề đồng nhất (Uniform title) mặc dầu ít dùng trong thực tế, Tác giả tập thể, bản mô tả chính và bản mô tả phụ, mô tả theo nhan đề với hình thức dòng treo (nhan đề bắt đầu từ vạch dọc thứ nhất của tờ phiếu),…

Những điểm còn có sự khác biệt giữa thực tế biên mục thủ công của Việt Nam hiện nay với AACR2 như sau:

– Từ khi theo ISBD, các thư viện lớn ở Việt Nam đã không phân biệt mô tả chính (đầy đủ) và mô tả phụ (giản lược) [2].

– Qui tắc mô tả của Việt Nam không áp dụng hình thức tiêu đề hay điểm truy nhập kết hợp giữa tên tác giả và nhan đề (tác giả/nhan đề) như đã được đề cập tới trong AACR2 (Điều 21.30G).

– Trong các qui tắc mô tả của Việt Nam (theo ISBD), ở vùng nhan đề và thông tin trách nhiệm, số lượng các tác giả được qui định ghi như sau: Nếu có từ 4 tác giả trở xuống, thì ghi họ tên của tất cả các tác giả ấy; Nếu có từ 5 tác giả trở lên thì chỉ ghi họ tên của 3 tác giả đầu tiên rồi phẩy … [et al.] [1]. Trong khi đó, theo Điều 1.1F5 của AACR2, thì nếu có trên 3 tác giả thì chỉ ghi tên tác giả đầu tiên và… [et al.].

– Trong Qui tắc mô tả của Việt Nam không đề cập đến Định danh chung về tài liệu [GMD] trong vùng nhan đề và thông tin về trách nhiệm.

– Theo các sách giáo khoa và tài liệu hướng dẫn sử dụng AACR2 và trên phiếu mục lục của Thư viện Quốc hội Mỹ, khoản ghi thông tin theo dõi các tiêu đề bổ sung và tham chiếu (tracings) có thêm các tiêu đề (đề mục) chủ đề, đưược đánh thứ tự bằng số ả rập. Còn ở ta, các qui tắc chính thống hầu như không đề cập đến việc ghi tiêu đề (đề mục) chủ đề ở khoản này.

– Bản AACR2 rút gọn so với bản đầy đủ có giản lưược bớt một số qui định, thí dụ, không dùng các chữ viết tắt [s.l.], [s.n.] trong vùng địa chỉ xuất bản trong trường hợp không xác định đưược nơi xuất bản và nhà xuất bản, trong khi đó các qui tắc Việt Nam vẫn có những qui định này.

Như vậy, nếu nhưư cần sử dụng qui tắc biên mục AACR2 để điền vào các phiếu nhập tin theo MARC 21, thì rất nhiều các qui định trong các qui tắc biên mục hiện hành của Việt Nam vẫn còn nguyên giá trị, ta chỉ cần lưu ý đến một số điểm khác biệt đã nêu ở trên. Tuy nhiên, cần nói thêm rằng, MARC 21 (mặc dầu được thiết kế theo mô hình phiếu mục lục AACR2) không nhất thiết đòi hỏi phải sử dụng AACR2, như đã thể hiện bằng các mã trong vị trí 18 của đầu biểu (leader) (mã a: sử dụng AACR2; mã i: sử dụng ISBD).

Tài liệu tham khảo

1. Giáo trình biên mục mô tả / Vũ Văn Sơn. – Hà Nội: Nxb Đại học Quốc gia, 2000. – 250 tr..

2. Một số quan niệm và khái niệm về biên mục trong quá trình phát triển / Vũ Văn Sơn // Tạp chí Thông tin & Tưư liệu. – 1998, No 3 . – tr.3-6.

3. Anglo-American Cataloguing Rules . – 2nd ed., 1988 rev. – Chicago,…: ALA,…, 1988 . – XXV, 677p.

4. The concise AACR2 . – 1998 revision. – Chicago,…: ALA,…, 1988 . -XV, 168p.

5. AACR2 and its place in the digital world / Ann Huthwaite . – http://lcweb.loc.gov/catdir/bibcontrol/huthwaite.html

6. The Anglo-American Cataloguing Rules and their future / R.W. Manning // 64th IFLA General Conference , Amsterdam, 1998 Proceedings . – Paper code number 083-126-E.

Vũ Văn Sơn

(Nguồn trích: Tạp chí Thông tin tư liệu)

​ 

10/27/2016 3:00 PMĐã ban hành/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
Tổng điều tra kinh tế năm 2017 - Kết quả hoạt động của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài giai đoạn 2011-2016Tổng điều tra kinh tế năm 2017 - Kết quả hoạt động của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài giai đoạn 2011-2016
Sau hơn 30 năm thực hiện công cuộc đổi mới, Việt Nam đã đat được nhiều thành tựu về phát triển kinh tế - xã hội, từng bước hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế khu vực và thế giới. Để có được thành tựu đó, đầu tư trực tiếp nước ngoài đã đóng góp  một phần không nhỏ, cuốn sách Tổng điều tra kinh tế năm 2017 - Kết quả hoạt động của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài giai đoạn 2011-2016 thể hiện rõ những hoạt động của các doanh nghiệp FDI trong những năm gần đây.
Nội dung sách gồm các phần:
Phần I: Tổng quan về hoạt động đầu tư nước ngoài tại Việt Nam giai đoạn 2011-2016.
Phần II: Số liệu thu hút đầu tư nước ngoài giai đoạn 2011-2016.
Phần III: Số liệu tổng hợp kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp FDI giai đoạn 2011-2016
5/13/2019 11:00 AMĐã ban hành/Shared Documents/2019-05/FDI-08d18.jpg
Nghiên cứu ứng dụng Internet of Things trong tạo lập, quản lý tài nguyên sốNghiên cứu ứng dụng Internet of Things trong tạo lập, quản lý tài nguyên số

1. Khái niệm Internet of Things

Hiện nay, Mạng lưới vạn vật kết nối (Internet of Things - IoT) không còn là một khái niệm mới nhưng vẫn chưa có một định nghĩa chính thức. Có một số định nghĩa nhấn mạnh vào các khía cạnh kỹ thuật của IoT, một số định nghĩa khác lại tập trung vào chức năng của nó. Năm 1999, Kevin Ashton, nhà khoa học đã sáng lập ra Trung tâm Auto-ID ở Viện công nghệ Massachusetts (MIT) - nơi thiết lập các quy chuẩn toàn cầu cho RFID (một phương thức giao tiếp không dây dùng sóng radio) cũng như một số loại cảm biến khác nhận định: "Ngày nay máy tính và Internet hầu như hoàn toàn phụ thuộc vào con người mới có thông tin. Gần như tất cả trong số khoảng 50 petabyte (1 petabyte là 1.024 terabyte) dữ liệu trên Internet lần đầu tiên được con người nắm và tạo ra bằng cách đánh máy, nhấn nút ghi âm, chụp ảnh hoặc quét mã vạch. Vấn đề là, con người rất hạn chế về thời gian, sự chú ý và chính xác trong việc lưu giữ dữ liệu về mọi thứ trong thế giới. Nếu có những chiếc máy tính biết mọi thứ - sử dụng được dữ liệu chúng thu thập mà không cần sự giúp đỡ của con người thì chúng ta sẽ có thể theo dõi và đếm mọi thứ, điều này sẽ giúp giảm sự lãng phí, thất bại và chi phí. Chúng ta sẽ biết khi nào mọi thứ cần thay thế, sửa chữa hoặc phục hồi và liệu chúng còn có thể tiếp tục hoạt động hay hoạt động tốt nhất nữa không" [4].

Phải hơn 10 năm sau, thế giới mới nhận thấy ảnh hưởng ngày càng sâu rộng của xu hướng này. Sau hội nghị thế giới về công nghệ thông tin (Internet Protocol version 6 - Giao thức mạng Internet thế hệ 6) lần thứ 4 diễn ra tại Pháp năm 2014, chủ đề IoT mới thực sự phổ biến trên thế giới.

Theo Liên minh Viễn thông quốc tế (International Telecommunication Union - ITU) định nghĩa năm 2012: "Internet of Things là một cơ sở hạ tầng toàn cầu đối với xã hội thông tin làm cho các dịch vụ tiên tiến có sẵn bằng cách liên kết đối tượng (vật lý hay ảo) thông qua các thông tin và truyền thông công nghệ tương thích hiện có hoặc phát triển" [9].

Như vậy, có thể hiểu IoT là khái niệm dùng để chỉ việc mọi vật được kết nối với nhau qua mạng Internet, trong đó người dùng có thể chia sẻ, trao đổi, khai thác dữ liệu và kiểm soát các thiết bị của mình qua mạng Internet.

2. Các thuộc tính của Internet of Things

IoT là một hệ thống của các hệ thống

IoT gồm các giải pháp kỹ thuật RFID, TCP/IP, một đối tượng vật lý thông qua hệ thống truyền thông không dây, có thể là một con chip RFID, bluetooth hoặc wifi, công nghệ di động cho phép thu hồi, lưu trữ, xử lý và truyền dữ liệu không chỉ trong môi trường vật lý mà còn giữa thế giới vật lý và thế giới ảo. Vật thể trong hệ thống IoT có thể chia sẻ thông tin về điều kiện và môi trường xung quanh chúng với con người, với các hệ thống phần mềm và các máy móc khác. IoT không phải là công nghệ mà là một hệ thống của các hệ thống cho phép điều chỉnh, sử dụng linh hoạt. Khả năng tương tác giữa các hệ thống tích hợp tất cả các thành phần tạo ra mức độ phức tạp cao. Khả năng quản lý các giao diện sẽ là yếu tố quyết định cho IoT trở thành mạng lưới thực sự của các mạng.

IoT là một mạng lưới các mạng, kết nối mạng thực với mạng ảo

Các nghiên cứu hiện tại về Internet được giới hạn trong các loại hình tài liệu (văn bản, hình ảnh, âm thanh) lưu hành trên đó, tuy nhiên, IoT sẽ có thể mở rộng phạm vi này. Do đó, trong cùng một cách mà một trang web có một địa chỉ duy nhất (URL) có thể sẽ phù hợp với mỗi đối tượng với một nhận dạng điện tử duy nhất mà có thể đọc được và chuyển giao qua mạng lưới giao thức Internet. IoT không chỉ không giới hạn trên thế giới trực tuyến, mà còn có khả năng cung cấp cho mỗi đối tượng với một đội ảo, đó là một bản sao đơn giản của các đặc tính của các đối tượng vật lý. Những đặc điểm này theo quan điểm lý thuyết thuần tuý có thể gần như vô hạn. Để đạt được mối liên kết giữa tính vật lý và các thế giới ảo, các thiết bị kỹ thuật phải thiết kế các mô hình dựa trên bối cảnh thực và sau đó "ảo hoá" chúng. Dữ liệu trong IoT có thể có kích thước nhỏ và thường xuyên trao đổi, số lượng thiết bị hoặc các điểm kết nối có kết nối vào mạng lớn gấp nhiều lần trong hệ thống máy tính truyền thống. Việc giao tiếp giữa máy móc, khả năng chiết suất thông tin từ sự vật và hệ thống mạng cho phép tự động hoá một số quá trình đơn giản mà không phụ thuộc vào trung tâm điều khiển hay các dịch vụ và ứng dụng trên nền tảng điện toán đám mây. Các thuộc tính này mang lại cơ hội thu thập thông tin lớn, nhưng cũng mang lại nhiều thách thức trong thiết kế mạng dữ liệu và an ninh mạng.

3. Các đặc tính của Internet of Things

Khi nói đến các thiết bị IoT chúng ta thường thấy có những đặc tính sau:

- Tính kết nối liên thông: Với IoT, bất cứ điều gì cũng có thể kết nối với nhau thông qua mạng lưới thông tin và cơ sở hạ tầng liên lạc tổng thể.

- Tính thông minh: Các thiết bị IoT trên thị trường thường hay được gọi là thiết bị thông minh. Các thiết bị được trang bị khả năng tính toán và kết nối mạng sẽ đem lại tính năng ưu việt so với thiết bị truyền thống và có những tính năng mới mà thiết bị truyền thống không thể có được.

- Cảm biến môi trường: Các thiết bị IoT được trang bị rất nhiều cảm biến môi trường khác nhau, chính những thông tin về môi trường xung quanh này giúp cho thiết bị thông minh hơn.

- Giao diện với điện toán đám mây: Thiết bị IoT hoạt động như một cửa ngõ (tới tài nguyên vô tận của điện toán đám mây, các tính năng mà người dùng tin không bị giới hạn bởi khả năng của thiết bị.

- Tính không đồng nhất: Các thiết bị trong IoT không đồng nhất vì nó có phần cứng và mạng lưới khác nhau. Các thiết bị giữa các mạng lưới có thể tương tác với nhau nhờ vào sự liên kết của các mạng lưới.

- Tương tác với các thiết bị khác: Các thiết bị IoT có khả năng tính toán và kết nối mới có thể tương tác với nhau cục bộ hoặc qua Internet. Việc các thiết bị tương tác với nhau tạo ra những khả năng mới mà trước đây từng thiết bị không thể làm được.

- Thay đổi linh hoạt: Trạng thái của các thiết bị tự động thay đổi, kết nối hoặc ngắt, thay đổi vị trí thiết bị, thay đổi tốc độ…

- Quy mô lớn: Sẽ có một số lượng rất lớn các thiết bị được quản lý và giao tiếp với nhau. Số lượng này lớn hơn nhiều so với số lượng máy tính kết nối Internet hiện nay. Số lượng các thông tin được truyền bởi thiết bị sẽ lớn hơn nhiều so với được truyền bởi con người.

4. Cách thức hoạt động của Internet of Things

Cơ sở hạ tầng kết nối

IoT hoạt động chủ yếu dựa vào việc sử dụng các công nghệ miễn phí không dây và di động. Công nghệ kết nối không dây rất nhiều và đa dạng, việc sử dụng cái này hay cái khác thường được quyết định bởi phạm vi của mạng được đề xuất. Một số trường hợp sử dụng cũng đòi hỏi phải có sự kết hợp của công nghệ không dây và có dây để kết nối thiết bị mạng WAN riêng hoặc Internet.

Dữ liệu trong IoT có thể có kích thước nhỏ và thường xuyên trao đổi. Số lượng thiết bị hoặc các điểm kết nối có kết nối vào mạng lớn gấp nhiều lần trong hệ thống máy tính truyền thống. Việc giao tiếp giữa máy móc, khả năng chiết suất thông tin từ sự vật và hệ thống mạng cho phép tự động hoá một số quá trình đơn giản mà không phụ thuộc vào trung tâm điều khiển hay các dịch vụ và ứng dụng trên nền tảng đám mây.

Phương thức hoạt động

Các thiết bị của IoT được tích hợp với các bộ cảm biến, bộ xử lý của máy tính và những phần mềm có thể tương tác với nhau. Dữ liệu từ những thiết bị được kết nối sẽ truyền tới các thiết bị khác tạo thành một quá trình được gọi là M2M (machine -to-machine). Các thiết bị sẽ tự hoạt động trong hầu hết các khâu và sẽ kết nối trực tiếp với nhau  mà không cần tới sự can thiệp của con người. Mỗi thiết bị đều có khả năng chuyển tiếp dữ liệu ngược lại với mô hình mạng tập trung, trong đó đa phần dữ liệu sẽ được đẩy về một thiết bị trung tâm để được xử lý/ chuyển tiếp (như các bộ định tuyến hay máy chủ). Như vậy:

- Luồng dữ liệu tự động sinh ra từ các sự vật được gắn cảm biến theo thời gian thực.

- Hệ thống quản lý dữ liệu theo thời gian thực và các quyết định được đưa ra theo thời gian thực.

Phương thức truyền dữ liệu

Để kết nối trên diện rộng và khoảng cách xa, các thiết bị trong IoT sẽ phải tận dụng rất nhiều kênh truyền tải dữ liệu không dây khác nhau. Trong đó sẽ bao gồm cả mạng điện thoại di động, mạng vệ tinh, hay các kênh sóng TV đang được bỏ trống. Mỗi công nghệ phát sóng sẽ có lợi thế riêng tuỳ vào hoàn cảnh sử dụng, vì vậy sẽ phải sử dụng kết hợp. Phương thức kết nối là trực tiếp trên mạng của một nhà điều hành truyền thông điện tử, thông qua một thiết bị trung gian (hộp kết nối của một nhà điều hành, điện thoại thông minh, thiết bị đô thị), thông qua một mạng lưới chuyên dụng, tuỳ chọn tốc độ thấp và kết nối hay không để một mạng lưới điều hành thông qua cổng kỹ thuật…

Theo Liên minh Viễn thông Quốc tế (ITU), IoT bao gồm: Lớp cảm biến; Lớp truy cập; Lớp mạng; Các lớp ứng dụng.

5. Nghiên cứu ứng dụng IoT trong tạo lập và quản lý tài nguyên số

IoT đang phát triển mạnh mẽ và nhận được nhiều sự quan tâm từ mọi lĩnh vực. Theo dự đoán từ những chuyên gia của Business Insider - một blog tài chính nổi tiếng về tương lai của IoT như sau [3]:

- IoT sẽ là thị trường thiết bị lớn nhất trên thế giới. Vào năm 2019, số lượng thiết bị IoT sẽ gấp đôi tổng số điện thoại thông minh, máy tính cá nhân, máy tính bảng, thiết bị đeo thông minh cộng lại.

- IoT sẽ mang lại 1.700 tỷ đô la giá trị gia tăng cho nền kinh tế toàn cầu trong năm 2019. Con số này bao gồm phần cứng, phần mềm, chi phí lắp đặt, dịch vụ quản lý và giá trị kinh tế gia tăng.

- Giá trị của các thiết bị IoT sẽ chạm mốc 6,7 tỷ đô la vào năm 2019. Trong đó doanh thu từ phần cứng sẽ chỉ chiếm 8% (khoảng 50 triệu đô la), các nhà sản xuất phần mềm và các công ty cơ sở hạ tầng sẽ thu lợi nhiều hơn từ cổ phiếu IoT.

- Sự tăng trưởng của IoT sẽ mang lại hiệu quả lớn và chi phí thấp hơn tại nhà, nơi làm việc và các thành phố trong tương lai. Tuy nhiên, việc sử dụng các thiết bị điện tử trong hệ thống an ninh vẫn là một vấn đề nan giải.

- Nền tảng IoT đang thiếu một chuẩn công nghệ và tiêu chuẩn chung để tương thích và sử dụng với các thiết bị. Hiện nay, có rất ít các tiêu chuẩn (hoặc quy định) cho những thiết bị chạy trên nền tảng này. Vấn đề cấp bách nhất là phải chuẩn hoá nền tảng IoT và giải quyết những vấn đề an ninh hiện tại.

Các ứng dụng của IoT có nhiều công dụng thực tế, tác động trực tiếp đến cuộc sống của các cá nhân, doanh nghiệp và cộng đồng. Có thể kể ra một số ứng dụng như: quản lý và lập kế hoạch quản lý đô thị, quản lý môi trường, quản lý chất thải, phản hồi trong các tình huống khẩn cấp, mua sắm thông minh, quản lý các thiết bị cá nhân, đồng hồ đo thông minh và tự động hoá ngôi nhà.

Ngoài các lĩnh vực xác định ở trên, IoT còn có tiềm năng ứng dụng rộng rãi, có khả năng tích cực ảnh hưởng đến tất cả các lĩnh vực trong cuộc sống. Trong những năm gần đây, với sự phát triển và gia tăng các thư viện số, các bộ sưu tập tài liệu điện tử và tài liệu số ngày càng đóng vai trò quan trọng trong những bộ sưu tập tài liệu của thư viện. Từ góc nhìn của người dùng tin, thư viện số là một cơ sở dữ liệu lớn. Còn đối với những người làm thư viện thì đó là một ứng dụng của web. IoT là một mạng lưới rộng lớn bao gồm các đối tượng được kết nối bằng cách xử lý dữ liệu trong không gian thực. Dữ liệu được coi là huyết mạch của IoT và IoT sẽ nhận diện tài nguyên thông tin số. Khi điện toán đám mây ngày càng được ứng dụng trong phân phối giữa các thiết bị và cơ sở hạ tầng thì dữ liệu được tạo ra từ các thiết bị này sẽ đóng vai trò to lớn. Cần thiết phải ưu tiên các dữ liệu quan trọng và các dữ liệu này sẽ làm cuộc cách mạng hoá việc quản lý, lưu trữ, bảo mật và xử lý thông tin trong môi trường số. Xây dựng các thiết bị thông minh trong môi trường số cần môi trường lưu trữ, yếu tố bảo mật và tính năng an toàn cho nguồn tài nguyên thông tin số.

Xây dựng thư viện số là xây dựng một nền tảng công nghệ để tạo lập những bộ sưu tập thông tin số. Ứng dụng IoT trong quản lý tài nguyên số sẽ tiết kiệm được nhiều chi phí.

- IoT sẽ thông tin về tình trạng của máy móc, thiết bị, giúp cho việc bảo trì, thay thế được thực hiện đúng lúc, giảm thiểu thời gian chết trong hệ thống.

- Phát hiện tài liệu đã số hoá: Máy tính là công cụ quan trọng nhất trong xây dựng các thư viện số, nhưng phải có sự can thiệp của con người mới giúp cho các hoạt động trong thư viện kết hợp lại với nhau và duy trì mọi hoạt động. Các bộ sưu tập số đã được chọn lọc, thu thập, tổ chức và tạo truy cập. Nhiều nơi cùng tiến hành số hoá một tài liệu sẽ mất nhiều thời gian, công sức, tiền bạc. Vì vậy, với IoT dữ liệu được theo dõi, điều chỉnh bằng các công cụ quản lý thiết bị, xử lý, phân tích dữ liệu. Dữ liệu sau khi xử lý sẽ được lưu trữ, phân tích, phát hiện trùng lặp và báo cho cơ quan thư viện - thông tin dự định tiến hành số hoá địa chỉ đã số hoá tài liệu đó.

- Chuyển đến người dùng tin nơi đã số hoá: Với mục đích tiết kiệm thời gian tìm kiếm cho người dùng tin khi tìm kiếm tài liệu số hoá, tại quyền truy cập trong một thư viện số, khi không tìm thấy tài liệu cần tìm, IoT sẽ chuyển đến cho người dùng tin nơi chứa tài liệu số hoá đó. Như vậy, IoT là một trong những giải pháp đầu tiên được xây dựng với khả năng tìm kiếm thông tin từ các bộ sưu tập số riêng biệt khác nhau trong kho dữ liệu của các thư viện số để sau đó trả về kết quả dưới dạng một đường dẫn thông báo nơi chứa tài liệu. Việc làm này giúp người dùng tin tránh phải tìm kiếm thông tin qua máy nhện (spider - là máy dùng các chương trình đặc biệt đi tới các trang web) hoặc phải tìm qua các cổng thông tin của từng thư viện. IoT sẽ cho phép tự động tìm kiếm và khai thác thông tin.

Để làm được điều đó, tại máy chủ của thư viện số cần cài các cảm biến nối mạng không dây. Các cảm biến từ các máy chủ của các thư viện số sẽ thu thập, phân tích, tạo ra một khối lượng dữ liệu khổng lồ. Nhờ đó, thông tin được tạo ra bởi sự liên kết giữa các cảm biến. Kết nối với thiết bị tạo số liệu và quản lý chúng là xu hướng chính của nhiều ngành. IoT được đặc trưng bởi nhu cầu nhập dữ liệu nhanh, phân tích và xử lý dữ liệu, nhờ đó IoT giúp thư viện số nắm rõ hơn và quản lý các tài nguyên số cũng như tương tác với người dùng tin và người tạo lập.

Trước đây, dữ liệu được lưu trữ trên ổ cứng, hiện nay các thiết bị chứa dữ liệu đã có sự thay đổi vượt bậc nhờ những tiến bộ của khoa học công nghệ và phần mềm. Công nghệ RFID (Radio  Frequency Identification) đã được ứng dụng vào quản lý thư viện hiện đại từ năm 2000 với những tính năng tiện lợi và ưu thế vượt trội so với các công nghệ quản lý tài liệu thư viện trước đó. Những mã định danh được viết trên các mã vạch, thẻ RFID được gắn liền với các đối tượng vật lý. Hiện nay, công nghệ này đã và đang nghiên cứu ứng dụng cho thư viện số. Với khả năng lưu trữ và truyền đạt thông tin, nhờ RFID mọi thứ sẽ thay đổi, bao gồm khả năng truy tìm các đối tượng trong chuỗi cung ứng, các vấn đề trùng lặp... Tham gia vào IoT, các thiết bị thông minh trong môi trường số cần có định hướng rõ ràng để phát triển và thích ứng theo thời gian, tuỳ thuộc vào việc cung cấp dịch vụ nguồn tài nguyên số.

Để IoT ứng dụng vào tạo lập và quản lý nguồn tài nguyên số, cần phải giải quyết được những vấn đề cơ bản sau:

- Cần có sự hợp tác liên thư viện, không chỉ trong nước mà cả ngoài nước. Hợp tác liên thư viện là việc chia sẻ nguồn lực thông tin giữa các cơ quan/ trung tâm thông tin - thư viện. Mỗi thư viện số có một nguồn lực thông tin đặc trưng, đặc biệt là thư viện các trường đại học, thư viện các cơ quan thông tin khoa học. Tài liệu được số hoá tại các cơ quan này là những tài liệu mang tính đặc thù. Hợp tác để cùng chia sẻ, nhưng phải bảo đảm được vấn đề bản quyền. Khi có sự hợp tác, việc ứng dụng IoT trong tạo lập và quản lý nguồn tài nguyên số sẽ hoàn toàn khả thi bởi các cảm biến sẽ xử lý nguồn thông tin số, giúp cho việc tạo lập tài nguyên số không bị trùng lặp và quản lý được nguồn tài nguyên này để từ đó thông tin tới người có nhu cầu tin tại các thư viện số của các cơ quan thư viện - thông tin. 

- Nghiên cứu chiến lược điện toán đám mây trong việc ảo hoá dữ liệu giúp quản lý các tài nguyên thông tin, từ đó cung cấp thông tin qua môi trường điện toán đám mây. Việc xây dựng một hệ thống máy chủ (server) và trung tâm dữ liệu (data center) thông qua ảo hoá trên nền tảng đám mây đang là xu hướng công nghệ thông tin hiện nay. Đó là việc ảo hoá hệ thống nền tảng công nghệ thành nền tảng điện toán đám mây để quản lý một cách linh động và nhanh chóng. Khi nguyên tắc này được áp dụng cho các tài nguyên số, IoT sẽ lấy thông tin ra và tổng hợp lại một cách tự động nhưng vẫn bảo đảm một cơ chế bảo mật thông tin hiệu quả khi xác định các thành phần trích dẫn lấy ra từ các thiết bị vật lý là máy chủ.

- Các giao thức định tuyến nhằm cung cấp sự trao đổi dữ liệu liên tục trong các mạng. Trong một mạng lớn như mạng lưới liên kết các nguồn tài nguyên số giữa các cơ quan thư viện - thông tin sẽ có rất nhiều định tuyến. Việc cập nhật bảng định tuyến một cách thủ công là hoàn toàn không thể. Do đó, cần xây dựng một giao thức định tuyến để chọn đường dẫn tốt nhất cho các gói tin, cung cấp các tiến trình để chia sẻ thông tin định tuyến và cho phép liên lạc với các routing (định tuyến - đường đi từ mạng này đến mạng khác) khác để cập nhật và duy trì bảng định tuyến.

- Bảo đảm tính bảo mật thông tin. Khi cài đặt IoT cho các máy chủ của thư viện số, các thiết bị, các bộ điều khiển hoạt động cần được xác thực và mã hoá nhằm tránh các cuộc tấn công bất hợp pháp, bảo vệ và tránh mã độc xâm nhập vào các thiết bị IoT và các router (bộ định tuyến/ thiết bị định tuyến - thiết bị mạng máy tính dùng để chuyển các gói dữ liệu qua một liên mạng và đến các đầu cuối). Đồng thời thực hiện mã hoá dữ liệu, xác thực mạng an toàn và liên tục cập nhật thiết bị IoT với các hệ điều hành.

Kết luận

Mặc dù IoT vẫn đang trong giai đoạn mới bắt đầu được áp dụng triển khai nhưng phạm vi ứng dụng của nó vô cùng lớn và ngày càng mở rộng ra nhiều lĩnh vực. Nhân loại đã và đang bước sang một xã hội mới - xã hội thông tin. Thế kỷ XXI, thế kỷ được dự báo có nhiều biến đổi to lớn và sâu sắc cả trong lĩnh vực khoa học và công nghệ, có ảnh hưởng đến sự tiến bộ xã hội nói chung và hoạt động thư viện - thông tin nói riêng. Thông tin trở thành yếu tố không thể thiếu, giúp con người đổi mới, hoàn thiện các quy trình và phương pháp sản xuất hiện hành, phát triển kinh tế và nâng cao sức sản xuất. Để giúp người dùng tin tiếp cận nguồn thông tin số nhanh hơn, đầy đủ hơn, chính xác hơn đòi hỏi ngành Thư viện - Thông tin phải không ngừng nghiên cứu, nỗ lực trong điều kiện mà công nghệ điện tử và viễn thông đang là ngành khoa học mũi nhọn. Nếu công nghệ IoT được phát triển rộng rãi, ứng dụng không chỉ trong hoạt động thư viện - thông tin mà cả trong tạo lập và quản lý nguồn tài nguyên số của thư viện sẽ mang lại hiệu quả và lợi ích không nhỏ cho người dùng tin, góp phần nâng cao tri thức, phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia. Tổng luận Internet vạn vật: hiện tại và tương lai, 2016.

2. IoT là gì? Ứng dụng của IoT trong cuộc sống hiện đại. http://dvms.vn/tin-tuc/tin-nganh/ 245-iot-la-gi-ung-dung-cua-iot-trong-cuoc-song-hien-dai.html. Truy cập ngày 30/05/2017.

3. Nền tảng Internet of things sẽ như thế nào trong 5 năm tới. http://genk.vn/do-choi-so/nen-tang -internet-of-things-se-nhu-the-nao-trong-5-nam-toi-20150207141454998.chn. Truy cập ngày 30/05/2017.

4. An introduction to the internet of things (IoT): Part 1 of  "The IoT series" / Lopez Research LLC, 2013. - P. 2.

5. Avans Dave. L'internet des objets: comment l'évolution actuell d'internet transforme – t- elle le monde?, 2011. http://www.cisco.com/c/dam/ global/en_ca/solutions/executive/assets/pdf/internet-ofthings-fr.pdf. Truy cập ngày 11/12/2017.

6. Morelon, Dominique. Les objets conservés dans les bibliothèques : rencontres professionnelles de Bibliopat // Actualités de la conservation. - 2015. - No. 33. - 5 p.

7. Oliver Wyman. Internet des objets: les business model remis en cause?. - Marsh & McLennan compagnies, 2015.

8. Par Patrick Gray. 10 choses à savoir sur l'internet des objets, 2013. http://www.zdnet.fr/actualites/10-choses-a-savoir-sur-l-internet-des-objets-39788312.htm. Truy cập ngày 11/12/2017.

9. Union international des télécommunications (UIT). Termes et définitions applicables à l'Internet des objets, 2012.

 ___________________________

 
  

ThS. Nguyễn Thị Minh Phượng

Thư viện Học viện Hành chính Quốc gia

​ 

4/3/2020 10:00 AMĐã ban hành/Shared Documents/2020-04/anh.jpg
Nghiên cứu phát triển của web cùng các “thế hệ thư viện” và đề xuất mô hình thư viện đại học việt nam trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0Nghiên cứu phát triển của web cùng các “thế hệ thư viện” và đề xuất mô hình thư viện đại học việt nam trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0

​Giới thiệu

Trong khoảng 10 năm qua, các thư viện và nhà nghiên cứu về lĩnh vực thư viện - thông tin đã có nhiều hội thảo, bài viết về sự phát triển lên thế hệ thư viện 3.0. Tất nhiên các nghiên cứu, bài viết tập trung và xoay quanh các vấn đề như: thư viện số, công nghệ số, lưu trữ số, điện toán đám mây, dịch vụ web, tìm kiếm thông minh… và gần đây trong bối cảnh nền cách mạng công nghiệp (CMCN) 4.0 thì chuyển sang IoT, AI, BigData, Robot,…

Xem các giai đoạn phát triển của web tương ứng với các giai đoạn phát triển thư viện: web 1.0 là web thụ động, một phía như truyền hình, web 2.0 là giai đoạn nội dung có tác động thêm bởi người sử dụng, tức là có sự tương tác hai chiều và gọi là web xã hội, web 3.0 là web ngữ nghĩa và web 4.0 được dự đoán là web thông minh, lúc "con người và công nghệ hợp nhất" (Rohrbeck, Battistella Huizingh, 2012) [15], "kết nối Internet là liên tục", "không gian vật lý và không gian ảo không còn giới hạn" (Farber, 2007) [6] thì có thể nói rằng cùng trong dòng chảy phát triển đi lên của nó, các "thế hệ thư viện" 1.0, 2.0, 3.0, 4.0 cũng sẽ thích nghi và phát triển tương ứng như vậy.

1. Chuyển động của nền cách mạng công nghiệp 1.0 đến 4.0

Theo Gartner (2015), CMCN 4.0 xuất phát từ khái niệm "Industrie 4.0" trong một báo cáo của chính phủ Đức năm 2013. "Industrie 4.0" kết nối các hệ thống nhúng và cơ sở sản xuất thông minh để tạo ra sự hội tụ kỹ thuật số giữa công nghiệp, kinh doanh, chức năng và quy trình bên trong [8]. Nếu định nghĩa của Gartner còn khó hiểu, Klaus Schwab (2016) người sáng lập và chủ tịch điều hành Diễn đàn Kinh tế thế giới mang đến cái nhìn đơn giản hơn về CMCN 4.0 như sau: "Cách mạng công nghiệp đầu tiên sử dụng năng lượng nước và hơi nước để cơ giới hoá sản xuất. Cuộc cách mạng lần 2 diễn ra nhờ ứng dụng điện năng để sản xuất hàng loạt. Cuộc cách mạng lần 3 sử dụng điện tử và công nghệ thông tin để tự động hoá sản xuất. Bây giờ, cuộc cách mạng công nghiệp thứ 4 đang nảy nở từ cuộc cách mạng lần 3, nó kết hợp các công nghệ lại với nhau, làm mờ ranh giới giữa vật lý, kỹ thuật số và sinh học" [10].

alt

Hình 1. Lịch sử 4 cuộc cách mạng công nghệ của nhân loại (Nguồn Internet)

Công nghiệp 1.0:Đó là cơ giới hoá (mechanization), tức là dùng máy móc cơ khí thay thế một số công việc của con người. Nền công nghiệp này được đánh dấu bằng sự ra đời của động cơ hơi nước. Tính cách mạng ở đây là chuyển từ sản xuất thủ công sang sản xuất công nghiệp bằng máy móc.

Công nghiệp 2.0:Đó là điện khí hoá (electrification) và sản xuất hàng loạt (mass production). Điểm đặc trưng là một nền sản xuất quy mô lớn, cho ra đời những đại công xưởng ngày nay (các nhà máy sản xuất điện thoại, ô tô, máy bay...).

Công nghiệp 3.0:Đó là số hoá (digitalization) và tự động hoá (automation). Điểm đặc trưng là việc máy móc có thể vận hành tự động dưới sự điều khiển của máy tính với chương trình viết sẵn (lập trình). Vai trò của con người nằm ở việc quản lý những máy móc tự động đó và kết nối chúng với nhau. Tính cách mạng ở đây là tính tự động hoá trong sản xuất. Nền tảng công nghệ của cuộc cách mạng nằm ở việc phát minh và sử dụng máy tính trong sản xuất và kỹ thuật điều khiển tự động.

Công nghiệp 4.0:Đó là tính kết nối (connection) và tính thông minh (smart/ intelligence) của một hệ thống sản xuất. Người ta dùng từ cyber-physical system chính là để chỉ những hệ thống mà các (cụm) thiết bị vật lý được kết nối thông tin với nhau. Tính cách mạng ở đây, trong thực tế, chưa thực sự rõ ràng. Nền tảng khoa học và công nghệ cho nền sản xuất này vẫn còn non trẻ, chưa chín muồi (khoa học dữ liệu, trí tuệ nhân tạo...). Nền công nghiệp này mới manh nha, chưa thành hiện thực rõ nét. CMCN 4.0 đang ảnh hưởng sâu sắc tới tất cả các lĩnh vực trong đời sống xã hội. Ảnh hưởng của CMCN 4.0 với các nội dung trên dự báo sẽ thay đổi toàn bộ quy trình sản xuất, quản lý, vận hành của các ngành kinh tế, từ công nghiệp, dịch vụ cho đến nông nghiệp.

2. Sự phát triển của các thế hệ web

Theo Berners Lee (2006), Web 1.0 là thế hệ đầu tiên của Internet, chỉ cho đọc nội dung và người dùng bắt buộc công nhận thông tin một chiều đó. Web 1.0 bắt đầu như một loại không gian thông tin để thông báo dữ liệu cho mọi người với các tương tác rất hạn chế giữa người dùng và nhà cung cấp thông tin [3].

Web 2.0 với các đặc trưng là phương tiện truyền thông xã hội, chẳng hạn như Wikipedia, Facebook và Twitter.

Hassanzadeh và Keyvanpour (2011) cho rằng, Web 3.0 hoặc web ngữ nghĩa đã làm giảm thời gian chờ đợi các yêu cầu của người dùng và rút ngắn thời gian cho việc ra quyết định. Web 3.0 còn có thể hiểu là web của công nghệ ngữ nghĩa. Web ngữ nghĩa đại diện cho các tiêu chuẩn mở và mạng xã hội cho phép hợp tác giữa người dùng và máy móc hiệu quả hơn [9].

Web 4.0 sẽ là "web đọc, viết, triển khai và đồng bộ hoá", là web thông minh và luôn ở trạng thái sẵn sàng. Web 4.0 là một mạng cộng sinh các trang web với nhau, nơi con người và máy móc tương tác gần như "phẳng".

Fowler và Rodd (2013) nói rằng "điện tử siêu thông minh là tác nhân chính", sẽ là định nghĩa và tính năng của Web 4.0, chúng cũng tổng hợp các đặc tính của Web 1.0, Web 2.0 và khẳng định rằng giữa các thế hệ web đó phát triển nhanh hơn, mỗi thế hệ web có thời gian sống ngắn hơn [7].

Aghaei, Nematbakhsh và Farsanim (2012) đã thảo luận về sự phát triển của Web 1.0 đến Web 4.0 và họ đã định nghĩa chúng như sau: Web 1.0 là một trang web kết nối thông tin, Web 2.0 là một trang web kết nối mọi người, Web 3.0 là web kết nối tri thức và Web 4.0 là một trang web kết nối thông minh [1].

alt

Hình 2.Sự phát triển của web theo thời gian
(Nguồn: http://www.scribd.com/doc/99678417/Web2-0-Web3-0-Web4-0)

alt

Bảng 1. Một số tính năng chính của web [16]

3. Sự phát triển của các "thế hệ thư viện" tương ứng

Các "thế hệ thư viện" gắn liền với sự phát triển của các thế hệ web. Thư viện 1.0 được hiểu tương ứng với Web 1.0 và Thư viện 2.0, 3.0 và 4.0 cũng như vậy. Thuật ngữ "Thư viện 1.0" bắt đầu được sử dụng và so sánh với thuật ngữ "Thư viện 2.0" được giới thiệu bởi Casey Michel (2006) [5].

Thư viện 2.0 đề cập đến việc áp dụng các công cụ của Web 2.0 cho các dịch vụ thư viện. Thư viện 2.0 thường được coi là ứng dụng của các công nghệ dựa trên web tương tác, cộng tác và đa phương tiện cho các dịch vụ thư viện và các bộ sưu tập [12].

Belling và các cộng sự (2011) giải thích rằng thuật ngữ Thư viện 3.0 đề cập đến việc sử dụng các công nghệ mới nổi như web ngữ nghĩa, điện toán đám mây, thiết bị di động và các công cụ được thiết lập như hệ thống tìm kiếm được liên kết, tạo thuận lợi cho sự phát triển, tổ chức và chia sẻ của người dùng tạo ra nội dung thông qua sự cộng tác liền mạch giữa người dùng, chuyên gia và thư viện [2]. Kwanya, Stilwell và Underwood (2013) đã định nghĩa Thư viện 3.0 là thế hệ thông minh, có tổ chức, một mạng lưới đường dẫn, thông tin liên kết [11].

alt

Bảng 2. Các phiên bản thư viện [16]

Dữ liệu tăng nhanh, đặc biệt là dữ liệu số cũng là vấn đề đặt ra đối với các thư viện trong tương lai. Thuật ngữ BigData, dịch vụ đám mây, nguồn mở… cũng xuất hiện. Dữ liệu lớn là tập dữ liệu có kích thước khổng lồ, được lưu trữ, quản lý hoặc phân tích bởi các thiết bị phần mềm, cơ sở dữ liệu (Manyika và các cộng sự, 2011) [13].

alt

Hình 3.Sự phát triển của các thế hệ thư viện [16]

4. Đề xuất mô hình phát triển thư viện cho các thư viện đại học Việt Nam

Dựa trên kết quả tìm hiểu, nghiên cứu về các giai đoạn phát triển web và các "thế hệ thư viện" trên đây, tác giả mạnh dạn đề xuất mô mình phát triển cho các thư viện đại học tại Việt Nam trong kỷ nguyên số, CMCN 4.0. Mô hình được thiết kế vẫn xoay quanh các yếu tố Công nghệ - Dữ liệu - Dịch vụ - Con người và tất nhiên có sự ảnh hưởng, tác động chính của Internet vạn vật kết nối, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, Robot, môi trường điện toán đám mây và các công cụ tương tác, giao tiếp cầm tay hiện đại như điện thoại thông minh, Ipad...

alt

Hình 4.Mô hình đề xuất cho các thư viện đại học Việt Nam trong bối cảnh CMCN 4.0

Về công nghệ:Chắc chắn rằng cổng thông tin/ trang web vẫn là công cụ giao tiếp chính giữa người dùng với thư viện, nhưng đã và sẽ phát triển đến thế hệ cao là Web 4.0 (dữ liệu lớn, tích hợp, liên kết nhiều trang web với nhau, cộng sinh, thông minh) và các phần mềm tìm kiếm tập trung/ thông minh (One Search - Smart Search) của các công ty chuyên về sản phẩm, dịch vụ thư viện đang phát triển mạnh mẽ hiện nay vẫn giữ vai trò chủ đạo trong các ứng dụng khám phá tài nguyên thông tin trong các thư viện. Sản phẩm thương mại như WORLDCAT (OCLC), SUMMON (EXLIBRIS), EDS (EBSCO), ENCORE (III-INNOVATIVE), PRIMO (EXLIBRIS)... Sản phẩm mã nguồn mở cho ứng dụng này đang được sử dụng nhiều là VuFind (Villanova University).

Tìm kiếm một lệnh hay tìm kiếm thông minh cung cấp khả năng một lệnh tìm nhưng truy cập tới không chỉ các bộ sưu tập in (tài liệu dưới dạng vật lý) mà còn bao gồm nhiều xuất bản điện tử, cơ sở dữ liệu điện tử từ các nhà xuất bản hay những bộ sưu tập số nội sinh, tài liệu truy cập mở...

Có hai xu hướng công nghệ với công cụ này là gom dữ liệu từ trước và khi nào có lệnh tìm thì mới truy vấn (Realtime). Mỗi công nghệ có một điểm mạnh riêng, ví dụ tích hợp dữ liệu từ trước sẽ cho kết quả nhanh hơn, còn realtime chậm nhưng kết quả cập nhật hơn.

Hiện nay các thư viện có thể mua sản phẩm tìm kiếm một lần/ thông minh về cài đặt trên máy chủ của đơn vị hoặc sử dụng dịch vụ điện toán đám mây từ các nhà cung cấp. Nếu sử dụng dịch vụ điện toán đám mây, các thư viện không cần hạ tầng công nghệ như máy chủ, bộ lưu trữ, cán bộ tin học... mà chỉ cần duy trì kết nối đến hệ thống để sử dụng.

Cho đến khi các thư viện vẫn còn các bộ sưu tập tài liệu in thì việc sử dụng một phần mềm quản trị thư viện tích hợp (Integrated Library System) để quản lý chúng là tất yếu. Có đầy đủ các sản phẩm thương mại và mã nguồn mở trong và ngoài nước cho công việc này. Các sản phẩm cũ như Virtua, Aleph, Voyager, Millennium, Symphony, Sabinet, Libol, Ilib, Verbrary... cho đến Sierra, Alma, Kipos, Koha... để các thư viện lựa chọn.

Các sản phẩm quản trị tài nguyên số cũng rất đa dạng và phong phú. OCLC có sản phẩm ContentDM, ExLibris có Digital Preservation Rosetta, Innovative có Digital Asset Management Vital... hoặc có thể sử dụng phần mềm mã nguồn mở Dspace (DuraSpace), Eprints (Đại học Southampton) là những gợi ý cho các thư viện.

Một giải pháp truy cập cơ sở dữ liệu điện tử từ xa giúp cho người dùng tìm kiếm, khai thác các tài liệu điện tử từ các nhà xuất bản đang được các thư viện sử dụng rộng rãi đó là EZPROXY của OCLC. Thông thường các nhà xuất bản chuyển giao các cơ sở dữ liệu điện tử cho các thư viện thông qua dải IP truy cập Internet của đơn vị đó. Giải pháp này giúp cho người dùng của các thư viện có thể truy cập thư viện từ bất cứ đâu (nhà riêng, quán cà phê...) nhưng vẫn đảm bảo yếu tố kỹ thuật như đang sử dụng dịch vụ thư viện từ đơn vị. Đã có những sản phẩm tương tự từ các công ty của Ấn Độ, tuy nhiên mức độ sử dụng chưa được rộng rãi như Ezproxy.

Để giúp người dùng/ sinh viên thuận tiện trong sử dụng các dịch vụ của thư viện, cũng như các ứng dụng khác trong trường đại học như: đăng ký môn học, sử dụng phòng thí nghiệm, truy cập Internet... thì các trường đại học đã phát triển các ứng dụng đăng nhập 1 lần (Single Sign On). Người dùng trong cơ sở dữ liệu LDAP chỉ dùng một tài khoản và mật khẩu duy nhất để đăng nhập tất cả các dịch vụ, giúp cho người dùng không phải nhớ nhiều tài khoản và mật khẩu.

Hỗ trợ phát triển các sản phẩm và dịch vụ thư viện - thông tin hiện đại hiện nay chính là sản phẩm LibApps của Springshare. Theo số liệu công bố trên trang web https://www.springshare.com/ (tính đến tháng 8/2018) thì hiện có 5.700 thư viện của 80 quốc gia với 120.000 người làm thư viện sử dụng công cụ cho công việc hàng ngày và hơn 10 triệu người sử dụng dịch vụ này đánh giá là công cụ hỗ trợ tích cực cho hoạt động học tập và nghiên cứu của họ. Các thư viện có thể sử dụng một hoặc nhiều dịch vụ của Springshare cho công việc chuyên môn.

LibApps hiện có các ứng dụng hỗ trợ các thư viện là: LibGuides, LibCMS, LibAnswers + Social, LibCal, LibInsight, LibCRM, LibStaffer, LibWizard. Ứng dụng LibGuides được các thư viện sử dụng nhiều nhất trong việc tạo lập các hướng dẫn sử dụng thư viện hiệu quả cho người dùng.

Về dữ liệu:Sự gia tăng nhanh chóng của các loại hình dữ liệu, đặc biệt là dữ liệu số dẫn tới hình thành các trung tâm/ kho dữ liệu lớn là tất yếu. Vấn đề này đòi hỏi các thư viện cũng phải dần thích ứng để phát triển hạ tầng, tổ chức lưu trữ, bảo quản và khai thác hiệu quả.

Trong mô hình đề xuất, nhánh của dữ liệu thể hiện 4 yếu tố chính gồm tài liệu in, tài liệu số nội sinh, tài liệu truy cập mở và cơ sở dữ liệu điện tử. Đây cũng là 4 loại hình tài liệu chính hiện nay mà các thư viện đại học đang có và tập trung bổ sung. Sự dịch chuyển từ loại hình tài liệu in ấn sang tài liệu số và mức độ sử dụng thuận tiện, hiệu quả của nó làm cho cán cân đầu tư kinh phí của các thư viện đại học cũng dần lệch sang phía các dữ liệu điện tử là ebook và ejournal. Một nghiên cứu của chúng tôi ở thư viện đại học Nanyang thì mỗi năm việc sử dụng tài liệu điện tử của người dùng tăng từ 10% đến 20%, nên việc đầu tư tới vài trăm cơ sở dữ liệu điện tử bao gồm hàng triệu sách điện tử và tạp chí điện tử so với một vài cơ sở dữ liệu điện tử của các thư viện đại học Việt Nam là sự khác biệt quá lớn.

Với một số lượng lớn các tạp chí học thuật truy cập mở (Open Access) đã công bố hiện nay, chủ đề khoa học phủ đều ở các lĩnh vực, các thư viện đại học Việt Nam cũng có thể tận dụng, giới thiệu đến người dùng để sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên thông tin này, nó có thể tiết kiệm một lượng lớn tài chính mà các thư viện vẫn có nguồn tạp chí điện tử dồi dào.

Về dịch vụ thư viện:Đồng bộ với sự phát triển của công nghệ thì các dịch vụ thư viện cũng hướng sang chiều hướng hiện đại hoá từ tra cứu bằng mục lục điện tử, đặt mượn đến người dùng có thể tự mượn trả qua các thiết bị như selfcheck, trả tài liệu 24/7 qua bookreturn... đến các dịch vụ "cao cấp" hơn như đào tạo kiến thức/ năng lực thông tin (information literacy) có thể giúp người dùng từ A đến Z trong học tập và nghiên cứu, từ định hướng thông tin khoa học, tìm kiếm, chắt lọc thông tin, sử dụng thông tin hợp pháp, phòng tránh đạo văn đến phương pháp nghiên cứu khoa học, cách viết một bài báo khoa học hay hoàn thành công trình khoa học của học viên và nghiên cứu sinh. Một dịch vụ thư viện - thông tin hiện đại khác hiện nay được rất nhiều thư viện phát triển đó là dịch vụ hướng dẫn chủ đề (subject guides). Tại đây người làm thư viện đã "biên tập sẵn" các nội dung theo từng chủ đề khoa học giúp cho người dùng thư viện học tập/ nghiên cứu chủ đề nhanh chóng nắm bắt, định hướng thông tin, khai thác thư viện một cách hiệu quả nhất.

Việc sử dụng các mạng xã hội như Facebook, Twitter, LinkedIn... hay các ứng dụng Email, Google+ để tương tác với người dùng nhằm chuyển tải thông tin cập nhật, nhanh chóng nên được các thư viện tận dụng, áp dụng rộng rãi.

Mặc dù tập trung đầu tư phát triển hạ tầng công nghệ, dữ liệu lớn và các dịch vụ thư viện hiện đại không hẳn chỉ phục vụ người dùng truy cập thư viện từ xa. Xây dựng không gian vật lý thư viện đẹp, phù hợp, hấp dẫn, tổ chức các phòng học nhóm, phòng thuyết trình, phòng chiếu phim, thu hút người dùng đến thư viện cũng được các thư viện đại học hàng đầu thế giới quan tâm. Với các slogan như Trung tâm Tri thức (Knowledge Hub), Kết nối - Giao lưu - Hợp tác (Connect - Communicate - Collaborate) đã khẳng định điều đó. Mô hình trên đây đã thể hiện đến thư viện là đến không gian cho sáng tạo, đến nơi giao lưu, kết nối để phát triển ý tưởng, tìm kiếm sự hợp tác và phát triển trong khoa học và công nghệ.

Về nhân lực thư viện:Vấn đề con người đóng vai trò quan trọng nhất trong tất cả các yếu tố ở bất kỳ lĩnh vực nào và ở đâu. Trong sự phát triển lên các thư viện đại học hiện đại/ thông minh thì mỗi người làm thư viện cũng phải thích nghi, vươn lên với sự phát triển đó. Không còn là người làm thư viện đơn thuần, đảm bảo tốt các công tác chuyên môn thư viện như bổ sung, biên mục, phục vụ thông thường mà phải trở thành người "thủ thư số".

Người làm thư viện trong thời đại số ngoài các kỹ năng được trang bị trong nhà trường như: xây dựng thư viện số, công nghệ mới, tìm kiếm thông tin, trình bày thông tin… phải là những chuyên gia trong lĩnh vực thông tin khoa học, của từng chủ đề đào tạo trong nhà trường. Họ có thể giảng dạy kiến thức/ năng lực thông tin, hướng dẫn trích dẫn/ đạo đức trong khoa học, hướng dẫn lưu trữ dữ liệu nghiên cứu, hướng dẫn học tập và nghiên cứu khoa học, cách viết một bài báo, luận án, luận văn…

Và "Hello, I am a Librarian" thì trong kỷ nguyên số phải được chuyển thành "Hello, I am an Expert".

Kết luận

Ngay từ năm 2013, người ta đã bàn luận, đưa ra những ý tưởng về thời đại Web 5.0 khi mà chúng ta còn chưa bước vào thế giới Web 4.0. Và bây giờ trong bối cảnh CMCN 4.0 đã hiện hữu thì Web 4.0 và Thư viện 4.0 cũng phải phát triển tương ứng theo. Phát triển của thư viện gắn liền với phát triển của công nghệ, chúng ta thảo luận về các "thế hệ thư viện" tất nhiên qua các giai đoạn Thư viện 1.0, 2.0, 3.0 thì phải đến Thư viện 4.0.

Đề xuất mô hình thư viện đại học hiện đại và các phân tích trên đây có thể chưa đầy đủ nhưng có một điều chắc chắn rằng thư viện thế hệ 4.0 là thư viện thông minh, dựa trên nền tảng Internet of Things, các trang web cộng sinh, kết nối con người qua thế giới ảo 3D, với các nguồn dữ liệu lớn, thể hiện các trạng thái của con người qua trí tuệ nhân tạo, các biểu cảm, cảm xúc trên khuôn mặt, thay đổi qua thời gian thực, cũng như hỗ trợ từ các phần mềm mã nguồn mở, công nghệ nội dung, dịch vụ điện toán đám mây, trình bày các tác phẩm khoa học dưới dạng mỹ thuật, nghệ thuật hình ảnh... chính là thư viện của tương lai.

Các nghiên cứu và thảo luận tiếp theo về các công nghệ cho một thư viện hiện đại cần được tiếp tục để phục vụ hiệu quả nhất cho người sử dụng và cộng đồng.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Aghaei, S., Nematbakhsh, M. A. and Farsanim, H. K. Evolution of the world wide web: From web 1.0 to web 4.0 // International Journal of Web & Semantic Technology. - 2012. - No. 3(1). - P. 1-10.

2. Belling, A., Rhodes, A., Smith, J., Thomson, S. and Thorn, B. Exploring Library 3.0 and beyond. http://www.libraries.vic.gov.au/downloads/ 20102011_Shared_Leadership_Program_ Presentation_Day_/exploring_library_3.pdf. Truy cập ngày 15/10/2017.

3. Berners-Lee, T. Linked data - Design issues. http://www.w3.org/DesignIssues/LinkedData .html/. Truy cập ngày 20/6/2018.

4. Burrus, D. Bigthink: From Web 3.0 to Web 4.0. http://bigthink.com/videos/from-web-30-to-web-40. Truy cập ngày 20/6/2018.

5. Casey, M. LibraryCrunch: bringing you a library 2.0 perspective. http://www.librarycrunch .com/. Truy cập ngày 25/7/2018.

6. Farber, Dan. From semantic Web (3.0) to the WebOS (4.0) // International Journal of Web & Semantic Technology (IJWesT). - 2007. - Vol. 3 (No.1).

7. Fowler, J. and Rodd, E. Web 4.0: The ultra-intelligent electronic agent is coming. http://bigthink.com/big-think-tv/web-40-the-ultra-intelligent-electronic-agent-is-coming. Truy cập ngày 25/7/2018.

8. Gartner. What Is Industrie 4.0 and What Should CIOs Do About It?. https://www.gartner.com/newsroom/id/3054921. Truy cập ngày 26/7/ 2018.

9. Hassanzadeh, H. and Keyvanpour, M. R. A machine learning based analytical frame-work for semantic annotation requirements // International Journal of Web & Semantic Tech nology. - 2011. - No. 2(2). - P. 27-38.

10. Klaus, Schwab. The Fourth Industrial Revolution, by Klaus Schwab. https://www.weforum.org/about/the-fourth-industrial-revolution-by-klaus-schwab. Truy cập ngày 27/7/2018.

11. Kwanya, T., Stilwell, C. and Underwood, P.G. Intelligent libraries and apomediators: Distinguishing between Library 3. 0 and Library 2.0 // Journal of Librarianship and Information Science. - 2013. - No. 45 (3). - P. 187-197.

12. Maness, J.M. Library 2.0 Theory: Web2.0 and Its Implications for Libraries // Webology. - 2006. - No. 3(2). http://www.w ebology.ir/200 6/v3n2/a25. html?q=link:webology.ir/. Truy cập ngày 15/6/2018.

13. Manyika, J., Chui, M., Brown, B., Bughin, J., Dobbs, R., Roxburgh, C. and Byers, A. H. Big Data: The Next Frontier for Innovation, Competition and Productivity. McKinsey. GlobalInstitute. [online]. [cited 2013.10.9.]. http://www.mckinsey .com/Insights/MGI/Research/Technology_and_Innovation/Big_data_The_next_frontier_for_innovation. Truy cập ngày 25/7/2018.

14. Norasak, S. Web 3.0. http://web- user.hsfurtwangen.de/~heindl/ebte-08ssweb-20-Suphakorntanakit.pdf. Truy cập ngày 15/7/2018.

15. Rohrbeck, R., Batti stella, C. and Huizingh, E. The road ahead for research on corporate foresight // Report on the corporate foresight track at the ISPIM Annual Conference. - 2012.

16. Younghee Noh. Imagining Library 4.0: Creating a Model for Future Libraries // The Journal of Academic Librarianship. - 2015. - No. 41. - P. 786-797.

________________________________

ThS. Lê Bá Lâm, Nguyễn Hồng Minh

Trung tâm Thông tin - Thư viện, Đại học Quốc gia Hà Nội

 

1/7/2020 11:00 AMĐã ban hành/Shared Documents/2020-01/2017_4_1-03.jpg
Ứng dụng subject guides trong hoạt động thư viện - thông tinỨng dụng subject guides trong hoạt động thư viện - thông tin

1. Đặt vấn đề

Sự bùng nổ của công nghệ thông tin và truyền thông trong giai đoạn hiện nay đã tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan thư viện - thông tin trong việc tiếp cận đến người dùng tin (NDT) và quảng bá các sản phẩm, dịch vụ thư viện - thông tin. Nếu như trước đây các thư viện thường sử dụng các tờ rơi, pa nô, áp phích để truyền thông điệp đến NDT, thì ngày nay các thư viện có thể tận dụng các kênh thông tin hiện đại để thay thế các cách thức đã thực hiện trong quá khứ.

Bên cạnh đó, hiện nay các nguồn thông tin đang ngày càng gia tăng nhanh chóng, vì vậy các thư viện có thể khai thác tối đa các nguồn thông tin này để chọn lọc và làm đa dạng, phong phú nguồn tài nguyên thông tin của mình. Tuy nhiên, việc phát triển của các nguồn thông tin mang lại nhiều thuận lợi cho NDT trong việc tìm kiếm và sử dụng thông tin hữu ích, nhưng cũng là một thách thức đối với NDT thiếu kỹ năng trong việc tìm kiếm và đánh giá thông tin. Do đó, sự bùng bổ của các công cụ web 2.0 miễn phí đã tạo ra nhiều cơ hội cho các thư viện trong việc tạo ra các nguồn thông tin hiệu quả, tiết kiệm được chi phí thực hiện và định hướng cho NDT đến các nguồn tài nguyên thông tin hữu ích.

Hơn nữa, đối với một nước đang phát triển như nước ta, điều kiện hoạt động hiện tại của các thư viện vẫn còn rất khó khăn, đặc biệt là về kinh phí đầu tư cho các hoạt động của thư viện. Do đó, để khắc phục những hạn chế của NDT thiếu kỹ năng và nâng cao hiệu quả hoạt động của mình, thư viện giữ vai trò quan trọng trong việc tìm kiếm, thu thập và tổ chức các nguồn thông tin phù hợp đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của NDT. Vì thế, việc ứng dụng subject guides trong hoạt động thư viện - thông tin trong giai đoạn hiện nay là rất cần thiết.

Subject guides là công cụ được sử dụng phổ biến hiện nay ở nhiều cơ quan thư viện - thông tin trên thế giới và một số thư viện Việt Nam. Việc tận dụng các công nghệ phát triển để tạo lập các thông tin theo từng chủ đề khác nhau nhằm đáp ứng tốt hơn cho NDT là một xu thế tất yếu và mang lại nhiều lợi ích cho thư viện.

2. Khái quát về subject guides

Trong những năm gần đây thuật ngữ subject guides được sử dụng nhiều trong hoạt động thư viện - thông tin ở Việt Nam. Tuy nhiên, trên thế giới thuật ngữ subject guides được đề cập vào năm 1973 như là “một loại bản đồ chỉ dẫn đến nguồn tài nguyên của thư viện; nó là một định vị thông tin để NDT tìm kiếm các tài liệu được lưu trữ theo một chủ đề mà họ quan tâm” [8].

Nội dung subject guides vào năm 1973 khác với subject guides ngày nay. Thuật ngữ ban đầu chỉ bao hàm ý nghĩa là các chỉ dẫn (pathfinders) và hơn 30 năm sau, các thư viện trên khắp Hoa Kỳ sử dụng một loạt các thuật ngữ để mô tả các loại subject guides như: subject guides, research guides (danh mục tài liệu nghiên cứu), research tools (công cụ nghiên cứu), pathfinders (chỉ dẫn), electronic library guides or e-guides (danh mục thư viện điện tử hoặc danh mục tài liệu điện tử), web- liographies (danh mục trang web), Internet resource collections (bộ sưu tập nguồn tài nguyên Internet), resource lists (danh sách nguồn tài nguyên), hoặc subject portals (cổng thông tin theo chủ đề) [8]. Mục đính chính của danh mục này là nhằm cung cấp một điểm khởi đầu cho việc nghiên cứu của NDT. Các sinh viên và giảng viên trong môi trường đại học thường thực hiện việc tìm kiếm các nguồn thông tin, tài liệu phục vụ cho việc nghiên cứu của họ. Vì vậy, một số thư viện cho rằng các danh mục như là một điểm khởi đầu cho việc bắt đầu nghiên cứu của họ [8]. Sở dĩ nói subject guides là một điểm khởi đầu cho việc tìm kiếm các tài liệu nghiên cứu vì các subject guides sẽ phân chia các thông tin theo từng chủ đề khác nhau và trong từng chủ đề sẽ tập hợp tất cả các nguồn tài nguyên thông tin về chủ đề đó, từ tài liệu in ấn, đến nguồn tài liệu số, cơ sở dữ liệu (CSDL), các trang web… Các nguồn tài nguyên sẽ được tích hợp theo từng chủ đề và NDT có thể tìm kiếm thông tin qua các liên kết đã được tập hợp để mở rộng khả năng tìm kiếm tài liệu phù hợp. Do đó, theo tác giả Nedelina Tchangalova và Amanda Feigley [8], subject guides trợ giúp cho việc nghiên cứu trong một ngành cụ thể hoặc về một chủ đề cụ thể. Chúng cũng cung cấp những thông tin hữu ích giúp cho việc tìm kiếm và sử dụng thông tin trong các hình thức cụ thể, chẳng hạn như các bằng sáng chế hoặc luận văn, luận án…

Có thể thấy rằng, subject guides là danh sách các nguồn tài nguyên thông tin được tạo ra bởi người làm thư viện để hỗ trợ NDT với nhu cầu nghiên cứu của họ. Danh sách các nguồn tài nguyên thông tin có thể bao gồm nhiều chủ đề nhưng không giới hạn ở sách, báo, tạp chí, CSDL, các trang web, cũng như bất kỳ chủ đề khác mà người làm thư viện cảm thấy sẽ hỗ trợ được cho việc nghiên cứu của NDT [6].

Trong khi đó, theo Buffy J. Hamilton, subject guides là một tập hợp các nguồn lực được thiết kế giúp NDT nghiên cứu và khám phá đầy đủ về một chủ đề [3].

Tác giả Tim Wales [10] cho rằng, subject guides là hệ thống hoá các kiến thức liên quan đến vị trí và việc truy xuất thông tin theo một chủ đề nhất định hoặc bộ sưu tập các thông tin liên ngành để cung cấp cho NDT. Theo ông, đây là kỹ thuật duy nhất để hướng dẫn cho NDT trực tuyến truy cập từ các siêu liên kết đến các tài liệu hướng dẫn khác nằm ở những nơi khác nhau trên các trang web của tổ chức hoặc trên từng trang web riêng của thư viện, do đó có thể rút ngắn khoảng cách giữa NDT và thư viện.

Như vậy, có thể hiểu subject guides là một danh sách các nguồn tài nguyên thông tin được tổ chức và sắp xếp theo các chủ đề khác nhau. Nguồn tài nguyên thông tin này rất đa dạng và không giới hạn ở bất kỳ nguồn nào bao gồm: sách, báo, tạp chí điện tử, tài liệu số, CSDL, trang web, bộ sưu tập thông tin trên Internet, tên các khoá học, RSS feeds, tài liệu giảng dạy, các công cụ đánh giá, tài liệu hướng dẫn, tiêu chuẩn học tập, các cuộc phỏng vấn hay thông tin phản hồi từ giáo viên, sinh viên…

Một số đặc điểm của subject guides

- Dễ dàng tạo lập, cập nhật và duy trì:Subject guides là công cụ được sử dụng để cung cấp thông tin theo từng chủ đề đến NDT mà người tạo lập không cần phải tốn nhiều thời gian và công sức trong việc thiết lập, bởi vì người tạo subject guides sử dụng các mẫu có sẵn, giống như tạo một trang blog mới. Với mỗi subject guides, người tạo lập có thể dễ dàng thiết lập các trang thông tin khác nhau. Mỗi trang thông tin có thể tích hợp các nội dung khác nhau từ tài liệu in, CSDL, bài báo, tạp chí đến các trang web, tài liệu số hay các nguồn thông tin tham khảo trực tuyến. Các subject guides thường có một bố cục thống nhất nên việc thiết lập rất dễ dàng và không giới hạn về số lượng các nội dung thông tin hay các liên kết được đăng tải. Do đó, người làm thư viện được yêu cầu phải theo một khuôn mẫu để tạo sự nhất quán giữa các subject guides. Mỗi subject guides cho phép đưa nội dung ở nhiều định dạng khác nhau như văn bản, hình ảnh, âm thanh, các liên kết, tích hợp nhiều ứng dụng như RSS, video, audio, chat, bình luận, mạng xã hội... [8].

Ngoài ra, các subject guides có bố cục giống nhau nên việc cập nhật hoặc sao chép các subject guides mới được thực hiện một cách dễ dàng và không tốn nhiều thời gian, công sức của người tạo lập.

- Dễ quản lý:Subject guides được hầu hết các thư viện tích hợp lên trang web của cơ quan mình, bởi vì đây là công cụ dễ sử dụng và dễ quản lý. Subject guides cho phép phân quyền cho nhiều người làm thư viện trong việc tạo ra các danh mục tài liệu và đưa lên trang web bất cứ lúc nào, cũng như quản lý tính nhất quán của các subject guides. Bên cạnh đó, subject guides cũng là công cụ hiệu quả trong việc xem xét các số liệu thống kê lượt truy cập vào từng nội dung khác nhau [1].

Linh động, dễ tìm kiếm, sinh động, đơn giản cho NDT: Subject guides là công cụ đơn giản, dễ sử dụng và thân thiện với NDT thông qua các nguồn thông tin về tài liệu được thiết lập theo từng chủ đề khác nhau, nguồn thông tin đa dạng; giao diện quen thuộc với NDT và có các hỗ trợ khác nhau như chat trực tiếp với người làm thư viện; gửi email hoặc phản hồi trực tiếp theo từng nội dung của subject guides. Các thông tin phản hồi này sẽ giúp xây dựng mối quan hệ chặt chẽ, gần gũi giữa NDT và người làm thư viện; tiếp nhận ý kiến phản hồi từ phía NDT để cải tiến và phát triển các subject guides ngày càng đa dạng, phong phú và đáp ứng nhu cầu của NDT [8]. Bên cạnh đó, các subject guides được thiết kế theo các mẫu đơn giản, người làm thư viện có thể điều chỉnh và chèn các hình ảnh phù hợp cho từng chủ đề cụ thể.

alt 

Hình 1. Subject guides của Thư viện El Dorado. http://www.flc.losrios.edu/~jimener/

 3. Vai trò của subject guides

Hiện nay nhiều cơ quan thư viện - thông tin trên thế giới và một số thư viện Việt Nam đã sử dụng subject guides như là một công cụ hiệu quả để đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của NDT. Subject guides được sử dụng phổ biến hiện nay là bởi những giá trị của nó như:

Tập hợp các nguồn thông tin theo chủ đề: Subject guides giúp người làm thư viện có thể tạo lập và sắp xếp các nguồn thông tin đa dạng theo từng chủ đề khác nhau. Mỗi chủ đề sẽ bao gồm các thông tin được liên kết và tích hợp trong subject guides. Các nguồn tài liệu đa dạng như các nguồn tin trên Internet, video clip, hình ảnh, CSDL, danh mục các trang web… Do đó, điều này sẽ giúp cho NDT có thể tìm hiểu các nguồn thông tin theo từng chủ đề một cách nhanh chóng, tiết kiệm thời gian và công sức trong việc tìm kiếm tài liệu.

Hướng dẫn đến các nguồn thông tin hữu ích: Nhân viên tạo lập subject guides là người am hiểu các nguồn thông tin và chọn lọc các nguồn thông tin có giá trị, có chất lượng để đáp ứng nhu cầu của NDT. Vì vậy, NDT chỉ cần tìm đến các chủ đề mình có nhu cầu để truy cập đến các nguồn thông tin một cách hữu ích.

Truy cập không giới hạn: Các subject guides đã được các cơ quan thư viện - thông tin tích hợp trên trang web của mình và có sẵn trong môi trường trực tuyến, do đó NDT có thể truy cập mọi lúc, mọi nơi mà không cần phải đến trực tiếp tại thư viện. Đây là tính hữu ích của công cụ này trong giai đoạn hiện nay vì phù hợp với xu hướng phát triển của công nghệ thông tin và thoả mãn nhu cầu của NDT.

Quảng bá: Subject guides là công cụ quảng bá hữu hiệu về nguồn tài nguyên thông tin của các cơ quan thư viện - thông tin, bởi vì đây là công cụ tập hợp đầy đủ các nguồn thông tin một cách đa dạng về nhiều chủ đề khác nhau. Thông qua việc truy cập vào các subject guides, NDT có thể nắm được các nguồn thông tin về từng chủ đề mà hiện nay một cơ quan đang có, cũng như chất lượng của các nguồn thông tin này. Đối với những người ít khi hoặc không bao giờ ghé thăm các trang web thư viện, việc đăng các liên kết để hướng dẫn, định hướng cho NDT trên các trang web là một hình thức quan trọng để tiếp cận cộng đồng. Bởi vì, hầu hết NDT thường không liên hệ hoặc truy cập vào trang web của tất cả các trường đại học, họ chỉ đơn giản là tìm thấy các tài nguyên thông qua một công cụ tìm kiếm trên Internet [6]. Vì vậy, các cơ quan thư viện - thông tin có thể tiến hành quảng bá các subject guides thông qua các buổi giới thiệu, hướng dẫn sử dụng thư viện, sử dụng email hoặc mạng xã hội… để cung cấp thông tin đến NDT.

4. Một số công nghệ được sử dụng để tạo lập subject guides trong hoạt động thư viện - thông tin

Khi sử dụng các công nghệ mới và khác nhau vào việc tạo lập các subject guides, đòi hỏi tư duy sáng tạo của người làm thư viện để có thể lựa chọn các công nghệ này một cách hiệu quả và hữu ích. Việc lựa chọn các công nghệ phù hợp với đặc điểm và điều kiện của thư viện sẽ giúp cho việc thiết kế các subject guides tiết kiệm thời gian, công sức và việc truy cập của NDT được dễ dàng và thuận tiện hơn. Sau đây là một số công nghệ có thể sử dụng để tạo lập subject guides:

Wikis

Wikis là một ứng dụng cho phép người làm thư viện có thể thêm hoặc xoá nội dung trong một môi trường năng động, là nơi mà các chuyên gia có thể hợp tác, kết hợp kiến thức và chia sẻ ở bất cứ nơi nào [8]. Nền tảng wikis phổ biến (như Mediawiki, Seedwiki, Twiki, Pbwiki…) đã được sử dụng bởi nhiều thư viện để tạo nguồn thông tin trong nội bộ và đang nhanh chóng lan rộng, trở thành dịch vụ của thư viện. Wikis có lẽ là lựa chọn tốt nhất cho sự hợp tác giữa người làm thư viện, giảng viên và sinh viên, dù thư viện đã có những đối tượng cộng tác ở các mức độ khác nhau [5].

Mặc dù, việc đóng góp của NDT trong việc tạo lập các subject guides trên wikis sẽ giúp cho người làm thư viện tiết kiệm thời gian và công sức trong việc tạo lập. Tuy nhiên, các mục thông tin trên wikis có thể thiếu tính thống nhất khi chúng được hoàn thành bởi một loạt các cá nhân. Để subject guides là một nguồn cung cấp các thông tin có uy tín, các cá nhân tham gia vào việc tạo và chỉnh sửa các nội dung cần được các chuyên gia trong các lĩnh vực, người làm thư viện chuyên đề, hoặc cá nhân có hiểu biết về các lĩnh vực khác nhau biên tập và xem xét lại. Do đó, các subject guides được tạo lập bằng công cụ wikis sẽ đòi hỏi một mức độ bảo trì và an ninh nhất định để đảm bảo độ chính xác [4].

Social Bookmarking (Đánh dấu xã hội)

Social Bookmarking là dịch vụ đánh dấu trang cộng đồng giúp người dùng Internet lưu trữ, quản lý và tìm kiếm những thông tin trên Internet hiệu quả hơn dựa trên công cụ trình duyệt web và từ khoá [2].

Ứng dụng đánh dấu xã hội là một tính năng có thể được đưa vào để tạo lập subject guides. Đánh dấu xã hội cho phép NDT giữ một thư mục "yêu thích" và nó có sẵn ở bất cứ đâu. Nếu NDT sử dụng các đánh dấu trang hay tính năng yêu thích thông thường trên máy tính, các trang web mà họ đánh dấu chỉ ghi lại hoặc đánh dấu trên máy tính đó. Với đánh dấu xã hội, các trang web mà NDT đánh dấu sẽ có sẵn ở bất cứ nơi đâu có Internet. Ngoài ra, một lợi ích nữa của đánh dấu xã hội là NDT có thể xem các đánh dấu của người khác [8].

Một số trang web Social Bookmarking được sử dụng để tạo lập subject guides như: delicious.com, slashdot.org, digg.com, technorati.com, reddit.com, connotea.org, spurl.net, diigo.com… [2].

Databases (Cơ sở dữ liệu)

CSDL là một hệ thống các thông tin có cấu trúc, được lưu trữ trên các thiết bị lưu trữ nhằm thoả mãn yêu cầu khai thác thông tin đồng thời của nhiều NDT hay nhiều chương trình ứng dụng chạy cùng một lúc với những mục đích khác nhau [7].

Người làm thư viện sẽ là người trình bày một phương pháp cho NDT để thao tác và thiết kế nội dung thông tin của riêng họ. Để tìm thấy những thông tin mình cần, NDT có thể lựa chọn các yếu tố cần truy cập và sau đó các CSDL sẽ chỉ trình bày các nguồn lực đáp ứng các yếu tố do NDT xác định [8]. Chẳng hạn, CSDL Source Finder của Virginia Military Institute’s Preston Library là một ví dụ minh hoạ cho trường hợp này:

alt 

Hình 2. Virginia Military Institute’s Preston Library http://www1.vmi.edu/sourcefinder

Việc sử dụng hệ thống CSDL này sẽ khắc phục được những khuyết điểm của cách lưu trữ dưới dạng hệ thống tập tin, đó là [7]:

- Giảm trùng lặp thông tin ở mức thấp nhất, đảm bảo tính nhất quán và toàn vẹn dữ liệu.

- Đảm bảo dữ liệu được truy xuất theo nhiều cách khác nhau, từ nhiều người khác nhau và nhiều ứng dụng khác nhau.

- Tăng khả năng chia sẻ thông tin.

Server Side Includes (SSI)

Một cách ít tốn kém để có được các tính năng giống CSDL như là thông qua việc sử dụng các máy chủ (SSI). Lợi ích của SSI là việc chỉnh sửa chỉ cần được thực hiện ở một nơi có máy chủ và có thể cập nhật cho tất cả các nguồn thông tin được xuất hiện trên trang web. Bằng cách sử dụng SSI, người làm thư viện có thể chèn một file HTML hoặc tập tin văn bản vào một vị trí xác định trên trang web của mình. SSI ít tốn kém hơn so với việc tạo ra một CSDL, nhưng nó vẫn có thể cung cấp một số tính năng tương tự như CSDL.

Như vậy, có thể thấy rằng thư viện có thể sử dụng các công nghệ khác nhau trong việc tạo lập subject guides. Tuy nhiên, mỗi công nghệ có những ưu, nhược điểm khác nhau trong việc tạo lập các subject guides. Dưới đây là bảng so sánh những thuận lợi và khó khăn mỗi công nghệ [8,9].

 

alt 

Ngoài các công nghệ được kể trên, hiện nay một số công nghệ mã nguồn mở miễn phí mà nhiều thư viện đã lựa chọn cho việc tạo lập các subject guides theo định hướng của CSDL như: MyLibrary (http:// libguides.library.nd.edu/), SubjectsPlus (http://www. subjec tsplus.com/), LibData (http://libdata.source forge .net/), hay Library Course Builder (https://sourceforge.net/projects/libcb/)... [5].

alt 

Hình 3. Subject guides tại Thư viện Trung tâm Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh

Tại Việt Nam, một số thư viện Việt Nam đã bắt đầu ứng dụng subject guides trong việc tạo lập và cung cấp thông tin cho NDT như: Thư viện Trung tâm - Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, Trung tâm Học liệu - Đại học Cần Thơ, Trung tâm Thông tin Học liệu - Đại học Đà Nẵng, Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên, Trung tâm Thông tin - Thư viện, Đại học Quốc gia Hà Nội…

Kết luận

Có thể thấy hiện nay nhiều thư viện ở Việt Nam đã bắt đầu sử dụng các công nghệ có sẵn để hỗ trợ cho việc tạo lập danh mục các nguồn tài nguyên thông tin theo chủ đề. Ở đây có nhiều công nghệ khác nhau mà các thư viện có thể sử dụng để thiết kế subject guides. Tuy nhiên, mỗi công nghệ có những ưu, nhược điểm riêng và đòi hỏi người làm thư viện khi sử dụng phải xác định được nhu cầu, khả năng của các nhóm NDT, đặc điểm và điều kiện của thư viện. Do vậy, subject guides sẽ phát huy hiệu quả nhất nếu đáp ứng cả 2 yêu cầu:

- Dễ dàng để tạo lập, cập nhật và duy trì cho người làm thư viện.

- Linh động, dễ tìm kiếm, sinh động, đơn giản cho NDT.

Subject guides đã thay đổi, phát triển và tạo điều kiện cho thư viện kể từ khi xuất hiện. Tuy nhiên, subject guides sẽ có hiệu quả hơn nếu thư viện có khả năng thay đổi và cải thiện hơn nữa khi tiếp tục khám phá các khả năng hỗ trợ của các công nghệ mới, đặc biệt các ứng dụng với subject guides. Điều quan trọng thư viện cần là tiếp tục khám phá, cải tiến và vượt qua những thách thức phải đối mặt trong quá trình ứng dụng các công nghệ mới để tạo lập subject guides.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Nguyễn Thị Kim Tri. Phát triển Thông tin tài liệu theo chủ đề (LibGuide) phục vụ học tập và nghiên cứu tại Trung tâm Học liệu trường Đại học Cần Thơ. Http://www.lirc.udn.vn/bantin9/index.php/ chuyende/49-phat-trin-thong-tin-tai-liu-theo-ch-libguide-phc-v-hc-tp-va-nghien-cu-ti-trung-tam-hc-liu-trng-i-hc-cn-th-. Truy cập ngày 5/4/2016.

2. Phạm Tấn Cường. Vì sao các web cần Social Bookmarking? Http://internetmarketingnhatrang.com/social-media/vi-sao-cac-web-can-social-bookmarking.html. Truy cập ngày 5/4/2016.

3. Buffy J. Hamilton. Creating Subject Guides for the 21st Century Library. Http://www.slideshare.net/buffyjhamilton/creating-subject-guides-for-the-21st-century-library-by-buffy-hamilton-september-2011. Truy cập ngày 20/3/2016.

4. Chad Athens. Using a wiki as a research guide: a year’s experience. Http://libraryvoice.com/wikis/using-a-wiki-as-a-research-guide-a-years-experience. Truy cập ngày 5/4/2016.

5. Edward M. Corrado and Kathryn A. Frederick. Free and Open Source Options for Creating Database-Driven Subject Guides. Http:// journal.code4lib.org/articles/47. Truy cập ngày 29/3/ 2016.

6. Fichter D. Subject guides. Http://www.libsuccess.org/Subject_Guides. Truy cập ngày 20/3/2016.

7. Momizat Team. Tìm hiểu cơ sở dữ liệu là gì? và hệ quản trị CSDL MYSQL. Http://freetuts.net/tim-hieu-co-so-du-lieu-la-gi-va-he-quan-tri-csdl-mysql-168.html. Truy cập ngày 5/4/2016.

8. Nedelina Tchangalova and Amanda FeigleySubject Guides: Putting a New Spin on an Old Concept. Http://southernlibrarianship.icaap.org/content/v09n03/tchangalova_n01.html. Truy cập ngày 20/3/2016.

9. The University of british Columbia. Http://wiki.ubc.ca/Library:HSS_Subject_Guides. Truy cập ngày 30/3/2016.

10. Tim Wales. Library subject guides: a content management case study at the Open University, UK // Program. - 2005. - Vol. 39 Iss 2. - P.112-121.

___________

ThS. Nguyễn Thị Lan

Khoa Thư viện - Thông tin học, Đại học KHXH&NV Tp. HCM

Nguồn: Tạp chí Thư viện Việt Nam. - 2017. - Số 1. - Tr. 33-39.​

1/7/2020 11:00 AMĐã ban hành/Shared Documents/2020-01/jessica-ruscello-196422-unsplash-1200x800.jpg
Niên giám thống kê 2017 (bản tóm tắt)Niên giám thống kê 2017 (bản tóm tắt)
9/17/2018 1:00 PMĐã ban hành/Shared Documents/2018-09/cccd0ce09adb40b0e2a3b46bfb7808dd.jpg
Báo cáo Điều tra Lao động việc làm Quý 4 năm 2017Báo cáo Điều tra Lao động việc làm Quý 4 năm 2017
9/15/2018 12:00 PMĐã ban hành/Shared Documents/2018-09/sanayi_devrimi_1.jpg
Kết quả khảo sát Mức sống dân cư Việt Nam năm 2016Kết quả khảo sát Mức sống dân cư Việt Nam năm 2016
10/30/2018 11:00 AMĐã ban hành/Shared Documents/2018-10/Photo_Download.jpg
NIÊN GIÁM THỐNG KÊ 2018NIÊN GIÁM THỐNG KÊ 2018
Niên giám thống kê gồm các số liệu thống kế kinh tế - xã hội 2018 của Việt Nam
7/31/2019 10:00 AMĐã ban hành/Shared Documents/2019-07/Photo_Download.jpg
Vai trò của thư viện trong việc thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững của Liên Hợp QuốcVai trò của thư viện trong việc thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững của Liên Hợp Quốc

Vai trò của thư viện trong việc thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững của Liên Hợp Quốc

Đặt vấn đề

Bối cảnh

Tháng 9/2015, Liên hợp quốc (LHQ) đã thông qua Chương trình nghị sự (CTNS) 2030 với việc đặt ra 17 mục tiêu phát triển bền vững (PTBV) - Sustainable Development Goals (SDGs) cho 15 năm tới thay thế cho 8 mục tiêu phát triển thiên niên kỷ - Millennium Development Goals (MDGs) đã thực hiện trong giai đoạn 2000-2015 [10]. Mục tiêu phát triển thiên niên kỷ đã cải thiện cuộc sống của hàng triệu người trên thế giới và với việc đặt ra các mục tiêu PTBV, LHQ cùng các quốc gia trên thế giới còn kỳ vọng nhiều hơn trong việc nâng cao chất lượng cuộc sống, thúc đẩy bình đẳng, bảo vệ môi trường, chung sống hoà bình, tăng cường hợp tác và vì sự thịnh vượng chung trên toàn thế giới.

Việt Nam đã ký cam kết thực hiện CTNS của LHQ và đang tích cực xây dựng bản kế hoạch quốc gia về PTBV. Chính phủ Việt Nam đã cam kết tập trung mọi nguồn lực xã hội, huy động tất cả các bộ, ngành, địa phương, các tổ chức, cộng đồng và người dân để thực hiện thành công CTNS 2030 và các mục tiêu PTBV [1]. Chính phủ cũng đang kêu gọi các tổ chức, cá nhân tham gia đóng góp xây dựng chương trình hành động quốc gia về PTBV và triển khai các hoạt động thực hiện các mục tiêu này.

Trong lĩnh vực thư viện, Liên đoàn quốc tế các hội và cơ quan thư viện (International Federation of Library Associations and Institutions - IFLA) đang tích cực hỗ trợ các hiệp hội thư viện và các thư viện tại các quốc gia tích cực vào quá trình vận động tham gia xây dựng chính sách quốc gia về PTBV [5]. IFLA cho rằng các thư viện đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện các mục tiêu PTBV của mỗi quốc gia. Thư viện và xã hội có mối liên kết và phụ thuộc lẫn nhau. Xã hội không có thư viện thì mất đi một thành tố quan trọng làm cho cuộc sống con người ý nghĩa hơn và các thư viện không có xã hội thì không có nền tảng nguồn gốc. Thư viện đóng vai trò như là một phương tiện để phát triển xã hội. Với nguồn thông tin phong phú và kỹ năng nghề nghiệp trong việc thu thập, cung cấp thông tin, người làm thư viện được cho là một nhân tố tích cực đóng góp vào sự thành công của mục tiêu PTBV. IFLA sẵn sàng hỗ trợ các hiệp hội thư viện các nước trong việc xây dựng bản kế hoạch hành động, cũng như triển khai các hoạt động cho mục tiêu PTBV. IFLA đánh giá cơ quan quản lý nhà nước về thư viện, hội thư viện và thư viện quốc gia là ba tổ chức đóng vai trò quan trọng trong việc dẫn dắt các thư viện tham gia mục tiêu PTBV.

Cơ hội thế kỷ dành cho các thư viện Việt Nam

Tham gia xây dựng và triển khai các mục tiêu PTBV quốc gia là cơ hội tốt để các thư viện Việt Nam khẳng định vị thế và nâng cao vai trò quan trọng của mình trong xã hội Việt Nam. Một thực tế chúng ta cần thẳng thắn nhìn nhận đó là ngành Thư viện vẫn chưa được coi trọng tại Việt Nam. Tuy nhiên, với sự biến đổi của kinh tế, xã hội, dân trí ngày càng tăng, thông tin đóng vai trò ngày càng quan trọng trong việc phát triển kinh tế, xã hội và thúc đẩy phát triển toàn diện của mỗi cá nhân, thì các thư viện với nguồn thông tin đa dạng, trụ sở hiện đại, nhân lực có chuyên môn sẽ làm được nhiều việc đóng góp vào tiến trình phát triển kinh tế, xã hội của đất nước theo hướng bền vững, cũng như hỗ trợ mỗi cá nhân thực hiện việc học tập suốt đời. Cơ hội đã đến, vấn đề phụ thuộc vào mỗi thư viện, mỗi người làm thư viện xem chúng ta tận dụng cơ hội này để phát triển như thế nào? Mỗi thư viện sẽ gắn hoạt động của mình với những mục tiêu PTBV mà LHQ đưa ra, điều này có thể nhận được sự hỗ trợ từ chính quyền, các tổ chức, cá nhân cho mục tiêu phát triển chung của cộng đồng. Việc gắn hoạt động chuyên môn với mục tiêu PTBV các thư viện sẽ có những đóng góp quan trọng như sau:

• Tăng cường hơn nữa trong việc đóng góp của thư viện, sự phát triển kinh tế, giáo dục, khoa học, văn hoá, xã hội ở mỗi địa phương và trên bình diện quốc gia thông qua các hoạt động cụ thể thúc đẩy đạt mục tiêu PTBV của Việt Nam và LHQ.

• Khẳng định rõ tầm quan trọng của thư viện trong nền kinh tế tri thức, đó là tổ chức có chức năng thu thập, lưu trữ và chuyển giao tri thức giữa các thế hệ, giữa nhà nghiên cứu và người ứng dụng các kết quả nghiên cứu, giữa nhà sản xuất thông tin và người có nhu cầu về thông tin.

• Thúc đẩy phát triển năng lực cơ bản của mỗi cá nhân và hỗ trợ việc học tập suốt đời của họ.

Vụ Thư viện với vai trò là cơ quan quản lý nhà nước về ngành Thư viện, Hội Thư viện Việt Nam với số lượng hội viên lớn và đa dạng trải khắp đất nước và Thư viện Quốc gia Việt Nam với vai trò đầu tàu về chuyên môn nghiệp vụ, sẽ định hướng, khuyến khích và thúc đẩy các thư viện thành viên tích cực tham gia các hoạt động đóng góp vào mục tiêu PTBV quốc gia. Các đơn vị này cần chủ trương kêu gọi các hội viên xây dựng kế hoạch hành động và tham gia tích cực đóng góp vào mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội của từng địa phương, cũng như của quốc gia. Tham gia thực hiện mục tiêu PTBV cũng thúc đẩy thư viện Việt Nam hội nhập sâu với đồng nghiệp quốc tế trong các hoạt động chung của IFLA.

1. Khái niệm về phát triển bền vững và nội dung của mục tiêu phát triển bền vững

1.1. Khái niệm về phát triển bền vững

Khái niệm "phát triển" (development) đang còn gây nhiều tranh cãi cả trong lý thuyết lẫn thực tiễn. Các tác giả Sumner và Tribe [9] đã chỉ ra hiện nay có ba hướng tiếp cận về phát triển, đó là: (1) Phát triển là quá trình chuyển đổi cấu trúc xã hội lâu dài; (2) Phát triển là kết quả ngắn hay trung hạn của những mục tiêu đáng ước mơ; (3) Phát triển là một thuật ngữ chủ yếu của tính hiện đại phương Tây (hình 1).

alt

Hình 1. Khái niệm về phát triển [9]

- Quan điểm coi "phát triển" là quá trình chuyển đổi cấu trúc xã hội cho rằng phát triển là một quá trình thay đổi lịch sử và chuyển đối cấu trúc kinh tế, xã hội mang tính dài hạn. Ví dụ, sự chuyển đổi từ một xã hội nông thôn (nông nghiệp) sang một xã hội thành thị (công nghiệp). Quan điểm này được giới học thuật ủng hộ, tuy nhiên giới ứng dụng không coi trọng cách tiếp cận này.

- Quan điểm coi "phát triển" là kết quả ngắn hay trung hạn của những mục tiêu đáng ước mơ cho rằng phát triển là sự thay đổi tiến bộ, có tính tích cực. Quan điểm này tập trung vào đánh giá kết quả hoạt động dựa trên các chỉ số thực hiện cụ thể. Hay nói cách khác là tập trung vào kết quả của sự thay đổi. Giới nghiên cứu cho rằng đây là cách tiếp cận "phi lịch sử". Ví dụ, sự thay đổi về mức độ nghèo đói hay thu nhập.

- Hai quan điểm đầu tập trung vào sự thay đổi và các kết quả thì ở hướng tiếp cận thứ ba - coi "phát triển" là một thuật ngữ chủ yếu của tính hiện đại phương Tây cho rằng phát triển bao gồm cả những thay đổi "xấu" và kết quả xấu trong quá trình áp đặt khái niệm vị chủng[1] về phát triển lên thế giới thứ ba (ví dụ các nước đang phát triển). Quan điểm này coi phát triển (và nghèo đói) là những khái niệm mang tính xã hội, chúng không tồn tại một cách khách quan ngoài các câu chuyện cụ thể.

Thuật ngữ "tính bền vững" (sustainability) hướng tới mong muốn thu hẹp khoảng cách giữa sự phát triển kinh tế, xã hội với môi trường. Khái niệm này bắt nguồn từ lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp và nước ngầm, dùng để chỉ lượng tài nguyên thiên nhiên có thể khai thác. Ví dụ, sản lượng đánh bắt cá bền vững tối đa mà không ảnh hưởng, phá vỡ đến cấu trúc tự nhiên, có thể dẫn đến huỷ hoại môi trường tự nhiên, mất cân bằng sinh thái hoặc dẫn đến sự tuyệt chủng của một số loài. Hiện nay, khái niệm bền vững áp dụng với tất cả các lĩnh vực, khía cạnh của phát triển, trong đó phát triển liên quan đến con người, xã hội và môi trường. Để đạt được tính bền vững, theo các tác giả Rogers, Jalal và Boyd [8], phát triển phải:

- Để mọi thứ ở trạng thái nguyên thuỷ, hay đưa tất cả trở lại trạng thái đó. Tuy nhiên, theo đánh giá điều này khó có thể xảy ra.

- Phát triển theo hướng không ảnh hưởng quá nặng nề tới sức tải của hệ thống. Ví dụ, xác định xem trái đất của chúng ta với lượng tài nguyên như thế, mức sống của con người như thế thì trái đất sẽ chịu được tối đa bao nhiêu người.

- Tính bền vững sẽ tự động duy trì nếu như có tăng trưởng kinh tế. Có nghĩa là khi cuộc sống của con người khá hơn, họ sẽ tự động quan tâm đến môi trường nhiều hơn.

- Người gây ô nhiễm và nạn nhân gây ô nhiễm có thể tự tìm giải pháp.

- Theo quan điểm kinh tế thì hãy để thị trường tạo ra sự bền vững.

- Tái đầu tư thuế có được từ nguồn tài nguyên không thể tái tạo.

- Trao cho thế hệ sau những thời cơ hay năng lực để họ có cuộc sống tốt đẹp như chúng ta.

Thuật ngữ "phát triển bền vững" (sustainable development) xuất hiện vào năm 1980, được giới thiệu bởi Hiệp hội Bảo tồn Thiên nhiên và Tài nguyên thiên nhiên Quốc tế (International Union for Conservation of Nature - IUCN) với nội dung đơn giản ban đầu là sự phát triển của nhân loại không thể chỉ chú trọng tới phát triển kinh tế, mà còn phải tôn trọng những nhu cầu tất yếu của xã hội và sự tác động đến môi trường sinh thái [6].  Khái niệm này được sử dụng rộng rãi vào năm 1987 bởi Uỷ ban Môi trường và Phát triển Thế giới (World Commission on Environment and Develop- ment - WCED). Theo tổ chức này, PTBV là sự phát triển có thể đáp ứng được những nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng hay làm tổn hại đến những khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai [12]. WCED đề cập đến 2 vấn đề trong PTBV đó là:

• Khái niệm về nhu cầu, đặc biệt là người nghèo trên thế giới là đối tượng được trao ưu tiên hàng đầu.

• Vấn đề giới hạn về khả năng của môi trường đối với việc để đáp ứng nhu cầu hiện tại và tương lai.

Theo Ngân hàng Phát triển châu Á (Asian Deve- lopment Bank - ADB) thì PTBV là một loại hình phát triển có sự lồng ghép quá trình sản xuất với bảo tồn tài nguyên và nâng cao chất lượng môi trường. PTBV cần phải đáp ứng các nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không phương hại đến khả năng đáp ứng các nhu cầu của thế hệ tương lai. Theo ADB, việc theo đuổi PTBV là một hành động cân bằng đòi hỏi khi thực hiện các chính sách, chiến lược, chương trình và các dự án thì phải coi môi trường và phát triển là một vấn đề. Nó yêu cầu về sự thay đổi trong quan điểm, thái độ và hành vi của các bên liên quan [2].

Mục tiêu của PTBV là đạt được sự đầy đủ về vật chất, sự giàu có về tinh thần và văn hoá, sự bình đẳng của mỗi cá nhân và sự đồng thuận của xã hội, sự hài hoà giữa con người và tự nhiên trong các vấn đề PTBV về kinh tế, xã hội và môi trường. Nói cách khác, PTBV là trạng thái con người sống trong điều kiện tốt và môi trường/ hệ sinh thái tự nhiên ở điều kiện tốt.

alt

Hình 2. Mô hình PTBV theo 3 yếu tố kinh tế, xã hội  và môi trường

Xét trên khía cạnh kinh tế, một hệ thống bền vững phải có khả năng tạo ra sản phẩm và dịch vụ một cách liên tục ở mức độ có thể kiểm soát bởi chính phủ và nợ nước ngoài, thông qua đó tìm kiếm sự phát triển hài hoà giữa ba lĩnh vực là nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ.

Tiếp cận về mặt xã hội, một hệ thống bền vững phải tạo lập được sự công bằng trong phân phối và cung cấp đầy đủ các dịch vụ xã hội bao gồm y tế, giáo dục, bình đẳng giới, sự tham gia và trách nhiệm chính trị của mọi công dân.

Đứng về góc độ môi trường, một hệ thống bền vững cần duy trì nguồn tài nguyên thiên nhiên ổn định, tránh khai thác quá mức các nguồn lực có thể tái tạo, đồng thời có sự đầu tư thay thế một cách xứng đáng các nguồn tài nguyên không thể tái tạo. Bên cạnh đó, cần duy trì các nguồn lực thường không được coi là nguồn lực phát triển kinh tế như sự đa dạng sinh học, sự ổn định khí quyển và các hoạt động sinh thái khác.

PTBV có những nguyên tắc để xác định rõ quyền và nghĩa vụ của các tổ chức, cá nhân đối với cộng đồng, đó là:

• Các quyết định về kinh tế và môi trường phải có sự tương hợp lẫn nhau.

• Sự kết nối và bình đẳng giữa các thế hệ. Đảm bảo nhu cầu hiện tại, không ảnh hưởng đến nhu cầu của các thế hệ tương lai.

• Chia sẻ trách nhiệm và sự hiểu biết.

• Phòng ngừa: tất các quyết định về phát triển cần được xem xét cẩn thận để không đe doạ đến nền kinh tế, môi trường, sức khoẻ con người và phúc lợi xã hội.

• Trách nhiệm toàn cầu. Vì sự phát triển chung của nhân loại.

• Sự uỷ thác của nhân dân, phân quyền và uỷ quyền.

• Người gây ô nhiễm phải trả tiền và người sử dụng phải trả tiền.

Có thể thấy PTBV tập trung giải quyết vấn đề phát triển cân bằng giữa kinh tế, xã hội và môi trường. Những quyết định của thế hệ đi trước sẽ không làm tổn hại hay ảnh hưởng đến nhu cầu của các thế hệ tương lai.

1.2. Chương trình nghị sự 2030 của Liên hợp quốc về phát triển bền vững

Bối cảnh

Thế giới đối mặt với những vấn đề lớn đó là đói nghèo, ô nhiễm môi trường và những bất ổn xã hội. Theo Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp LHQ (Food and Agriculture Organization - FAO), thế giới hiện có khoảng 795 triệu người bị thiếu ăn hàng ngày, chiếm khoảng 10,7% dân số thế giới [3], tức là cứ 9 người thì có 01 người trên thế giới sống trong đói nghèo cùng cực. Theo LHQ, gần một phần tư trẻ em dưới 5 tuổi sinh ra đã không được ghi nhận, 1,1 tỷ người đang sống không có điện và sự khan hiếm nước ảnh hưởng đến hơn 2 tỷ người [11]. Trong xã hội, khoảng cách giàu nghèo ngày càng tăng dẫn đến bất ổn xã hội. Tài nguyên thiên nhiên bị khai thác cạn kiệt và tình trạng ô nhiễm môi trường ngày càng nghiêm trọng. Xung đột quốc tế đang có dấu hiệu gia tăng, đe doạ đến an ninh và hoà bình trên thế giới. Đứng trước những vấn đề này, LHQ đã chủ trương xây dựng CTNS 2030 về PTBV.

Năm 1992, tại Hội nghị thượng đỉnh Trái Đất về môi trường và phát triển, các nhà lãnh đạo thế giới lần đầu tiên cam kết thúc đẩy PTBV nhất trí kế hoạch hành động CTNS 21, một số nguyên tắc chính và thông qua 5 văn kiện quan trọng. Năm 2002, Hội nghị thượng đỉnh thế giới về PTBV đã nhắc lại các mục tiêu xã hội và môi trường được phản ánh trong Mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ và CTNS 21. Năm 2012, Hội nghị cấp cao của LHQ về PTBV đã đảm bảo cam kết chính trị không ngừng cho PTBV, giải quyết những thách thức mới đang nổi lên, khởi động quá trình xây dựng mục tiêu PTBV toàn cầu. Từ tháng 9/2013, các nước đặt ra một bộ mục tiêu và khởi động các cuộc đàm phán liên chính phủ về CTNS sau năm 2015, đưa ra bộ 17 mục tiêu PTBV, 169 chỉ tiêu. Ngày 25/9/2015, CTNS 2030 chính thức được thông qua tại Hội nghị thượng đỉnh LHQ tại New York. CTNS 2030 có độ bao phủ chính sách phổ quát, rộng lớn, toàn diện, vì lợi ích của mọi người dân trên toàn thế giới, cho các thế hệ hôm nay và mai sau với mục tiêu hoàn tất công việc dang dở của Mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ và CTNS 21 không để ai bị bỏ lại phía sau.

Nội dung cơ bản của 17 mục tiêu phát triển bền vững

alt

Hình 3. Tổng quan 17 mục tiêu phát triển bền vững của LHQ

Mục tiêu 1: Xoá nghèo dưới mọi hình thức, ở mọi nơi. Xoá bỏ hoàn toàn nghèo đói cho tất cả mọi người ở mọi nơi.

Mục tiêu 2: Xoá đói, đảm bảo an ninh lương thực và cải thiện dinh dưỡng, phát triển nông nghiệp bền vững.

Mục tiêu 3: Đảm bảo cuộc sống khoẻ mạnh và thúc đẩy hạnh phúc cho tất cả mọi người ở mọi lứa tuổi.

Mục tiêu 4: Đảm bảo giáo dục chất lượng, rộng mở, công bằng và nâng cao cơ hội học tập suốt đời cho tất cả mọi người.

Mục tiêu 5: Đạt được bình đẳng giới và trao quyền cho tất cả phụ nữ và trẻ em gái.

Mục tiêu 6: Đảm bảo sự sẵn có và quản lý bền vững nguồn nước và cải thiện các điều kiện vệ sinh cho tất cả mọi người.

Mục tiêu 7: Đảm bảo việc tiếp cận năng lượng với giá cả hợp lý, tin cậy, bền vững và hiện đại cho tất cả mọi người.

Mục tiêu 8: Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế dài hạn, rộng mở và bền vững, việc làm đầy đủ, năng suất và công việc tốt cho tất cả mọi người.

Mục tiêu 9: Xây dựng cơ sở hạ tầng vững chắc, đẩy mạnh công nghiệp hoá rộng mở và bền vững, khuyến khích đổi mới.

Mục tiêu 10: Giảm bất bình đẳng trong mỗi quốc gia và giữa các quốc gia.

Mục tiêu 11: Xây dựng các đô thị và các khu dân cư mở cửa cho tất cả mọi người, an toàn, vững chắc và bền vững.

Mục tiêu 12: Đảm bảo các mô hình tiêu dùng và sản xuất bền vững.

Mục tiêu 13: Có biện pháp khẩn cấp để chống lại biến đổi khí hậu và các tác động của nó.

Mục tiêu 14: Bảo tồn và sử dụng bền vững các đại dương, biển và các nguồn tài nguyên biển cho PTBV.

Mục tiêu 15: Bảo vệ, tái tạo và khuyến khích sử dụng bền vững các hệ sinh thái trên cạn, quản lý tài nguyên rừng bền vững, chống sa mạc hoá, chống xói mòn đất và mất đa dạng sinh học.

Mục tiêu 16: Thúc đẩy xã hội hoà bình và rộng mở cho PTBV, mang công bằng đến với tất cả mọi người và xây dựng các thể chế hiệu quả, có trách nhiệm và rộng mở ở tất cả các cấp.

Mục tiêu 17: Đẩy mạnh cách thức thực hiện và đem lại sức sống mới cho quan hệ đối tác toàn cầu để PTBV.

Có thể thấy mục tiêu chung tổng thể của CTNS 2030 của LHQ về PTBV là tập trung vào việc nâng cao chất lượng cuộc sống con người, thúc đẩy bình đẳng, bảo vệ môi trường, chung sống hoà bình, tăng cường hợp tác và vì sự thịnh vượng chung trên toàn thế giới, với phương châm phát triển là không để ai ở lại phía sau.

2. Thư viện với việc thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững

2.1. Chỉ dẫn của IFLA cho các thư viện

Vậy với mục tiêu PTBV đã đặt ra, các thư viện sẽ làm gì để thực hiện các mục tiêu này? Với lợi thế là có thông tin, trụ sở và cơ sở vật chất được trang bị tốt, người làm thư viện được đào tạo bài bản và mạng lưới trải khắp cả nước, các thư viện Việt Nam sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện các mục tiêu PTBV. Theo IFLA [4], các thư viện có thể thực hiện vai trò của mình trong từng mục tiêu PTBV theo gợi ý sau:

Mục tiêu 1: Xoá nghèo - Thư viện hỗ trợ mục tiêu này bằng việc:

• Hỗ trợ tiếp cận thông tin một cách rộng rãi và cung cấp các nguồn lực nhằm mang tới cơ hội cải thiện cuộc sống cho tất cả mọi người.

• Đào tạo các kỹ năng mới cần thiết cho giáo dục và việc làm.

• Cung cấp thông tin hỗ trợ chính phủ, xã hội dân sự và doanh nghiệp ra quyết định để chống lại nạn nghèo.

Mục tiêu 2: Xoá đói - Thư viện hỗ trợ mục tiêu này bằng việc:

• Cung cấp các nghiên cứu và dữ liệu nông nghiệp nhằm tăng năng suất mùa vụ và bền vững hơn.

• Giúp nông dân tiếp cận các nguồn lực trực tuyến về giá cả thị trường trong nước, báo cáo thời tiết và các thiết bị mới.

Mục tiêu 3: Sức khoẻ tốt và cuộc sống hạnh phúc - Thư viện hỗ trợ mục tiêu này bằng việc:

• Cung cấp các nghiên cứu sẵn có trong các thư viện y khoa và thư viện của bệnh viện, hỗ trợ giáo dục và cải thiện hoạt động y tế cho những nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khoẻ.

• Hỗ trợ tiếp cận thông tin một cách rộng rãi về sức khoẻ và hạnh phúc trong các thư viện công cộng, giúp các cá nhân và gia đình sống khoẻ mạnh.

Mục tiêu 4: Giáo dục chất lượng - Thư viện hỗ trợ mục tiêu này bằng việc:

• Người làm thư viện tận tâm hỗ trợ việc đọc, viết sớm và học tập suốt đời cho người dân.

• Giúp người dân, sinh viên và học sinh tiếp cận thông tin để học tập và nghiên cứu ở mọi lúc mọi nơi.

• Cung cấp không gian mở và hiện đại, gỡ bỏ rào cản chi phí để tiếp cận tri thức và kỹ năng mới cho tất cả mọi người dân.

Mục tiêu 5: Bình đẳng giới - Thư viện hỗ trợ mục tiêu này bằng việc:

• Cung cấp không gian hội họp an toàn và thân thiện.

• Cung cấp các chương trình và dịch vụ riêng đáp ứng nhu cầu của phụ nữ và trẻ em gái như quyền lợi và sức khoẻ.

• Hỗ trợ tiếp cận thông tin, công nghệ thông tin và truyền thông hỗ trợ phụ nữ xây dựng kỹ năng kinh doanh và sản xuất.

Mục tiêu 6 và 7: Nước sạch và vệ sinh, năng lượng sạch và giá hợp lý - Thư viện hỗ trợ mục tiêu này bằng việc:

• Hỗ trợ người dân tiếp cận thông tin có chất lượng và những quy định tốt để hỗ trợ quản lý nước và các dự án vệ sinh môi trường ở địa phương.

• Cung cấp truy cập miễn phí và tin cậy tới nguồn điện và ánh sáng để đọc, học tập và làm việc.

Mục tiêu 8: Tăng trưởng kinh tế và việc làm bền vững- Thư viện hỗ trợ mục tiêu này bằng việc:

• Hỗ trợ người dân tiếp cận thông tin và đào tạo kỹ năng mà mọi người cần để tìm kiếm, xin việc và đạt được công việc tốt hơn.

Mục tiêu 9: Công nghiệp, sáng tạo và hạ tầng - Thư viện hỗ trợ mục tiêu này bằng việc:

• Cho sử dụng miễn phí cơ sở hạ tầng thư viện dành cho việc nghiên cứu và sáng tạo, cung cấp các chuyên gia thư viện có kỹ năng để hỗ trợ tìm kiếm thông tin.

• Cung cấp không gian công cộng thân thiện và toàn diện.

• Hỗ trợ người dân tiếp cận công nghệ thông tin và truyền thông với đường truyền Internet tốc độ cao.

Mục tiêu 10: Giảm bất bình đẳng - Thư viện hỗ trợ mục tiêu này bằng việc:

• Cung cấp không gian trung lập và thân thiện để tất cả mọi người kể cả các nhóm thứ yếu như người nhập cư, người tị nạn, dân tộc thiểu số, người bản địa và người khuyết tật dễ dàng tiếp cận việc học tập.

• Tiếp cận công bằng tới thông tin hỗ trợ toàn diện về xã hội, chính trị và kinh tế.

 Mục tiêu 11: Thành phố và cộng đồng bền vững - Thư viện hỗ trợ mục tiêu này bằng việc:

• Đóng vai trò là các tổ chức tin cậy cống hiến cho việc thúc đẩy hiểu biết và toàn diện văn hoá.

• Dẫn chứng tư liệu và bảo quản di sản văn hoá cho các thế hệ tương lai.

Mục tiêu 12, 13, 14 và 15: Tiêu dùng và sản xuất có trách nhiệm; Hành động bảo vệ khí hậu; Cuộc sống dưới nước; Cuộc sống trên mặt đất- Thư viện hỗ trợ các mục tiêu này bằng việc:

• Cung cấp hệ thống chia sẻ và lưu thông tài liệu bền vững giúp giảm thiểu lãng phí.

• Ghi chép lịch sử về thay đổi miền ven biển và sử dụng đất đai.

• Cung cấp các nghiên cứu và dữ liệu cần thiết để ứng phó với biến đổi khí hậu.

• Hỗ trợ tiếp cận rộng rãi tới các thông tin cần thiết nhằm định hướng các chính quyền địa phương và quốc gia ra quyết định về các vấn đề như săn bắt, đánh bắt cá, sử dụng đất đai và quản lý nước

Mục tiêu 16: Xã hội hoà bình - Thư viện hỗ trợ mục tiêu này bằng việc:

• Tiếp cận công cộng tới thông tin về chính phủ, xã hội dân sự và các tổ chức khác.

• Đào tạo người dân các kỹ năng cần thiết để hiểu và sử dụng thông tin này.

• Cung cấp không gian trung lập chính trị và toàn diện cho mọi người hội họp.

Mục tiêu 17: Quan hệ đối tác toàn cầu - Thư viện hỗ trợ mục tiêu này bằng việc:

• Tham gia mạng lưới toàn cầu các tổ chức cộng đồng hỗ trợ các dự án phát triển địa phương.

Trên cơ sở các định hướng này, các thư viện Việt Nam sẽ xây dựng kế hoạch hành động của mình để tham gia vào mục tiêu PTBV. Tuỳ từng đặc thù địa phương và thế mạnh của mình mà mỗi thư viện sẽ lựa chọn những mục tiêu phù hợp để thực hiện.

2.2. Kế hoạch hành động của các thư viện Việt Nam

Để các thư viện tham gia tích cực vào xây dựng kế hoạch hành động quốc gia về thực hiện mục tiêu PTBV của LHQ, các thư viện Việt Nam cần có một kế hoạch cụ thể cho riêng mình triển khai các hoạt động chuyên môn phù hợp với định hướng của mục tiêu PTBV. Cụ thể, ở mức độ quốc gia, hệ thống các thư viện cần có một bản kế hoạch hành động chung với những nội dung cơ bản sau:

Về mục tiêu

Nâng cao nhận thức của các thư viện, người làm thư viện và cộng đồng về vai trò của thư viện trong việc thực hiện mục tiêu PTBV. Giúp họ nhận thức được tầm quan trọng của mục tiêu PTBV và đóng góp của thư viện trong việc thực hiện các mục tiêu này.

Xây dựng kế hoạch hành động của các thư viện để tham gia sâu vào kế hoạch PTBV quốc gia. Thúc đẩy các thư viện sáng tạo hoạt động, chương trình, sáng kiến cụ thể tại đơn vị mình để đóng góp nhiều hơn nữa cho sự phát triển của cộng đồng.

Nội dung triển khai

Phát động phong trào hưởng ứng lời kêu gọi của LHQ và IFLA về tham gia mục tiêu PTBV trong tất cả các loại hình thư viện Việt Nam.

Tổ chức các khoá đào tạo (training workshops) để hướng dẫn các thư viện/ người làm thư viện xây dựng các hoạt động/ chương trình cho thư viện mình tham gia sâu hơn vào đóng góp cho sự phát triển kinh tế, xã hội của địa phương/ khu vực, cũng như nâng cao dân trí và các hoạt động chuyên môn của mỗi người dân.

Tổ chức hội thảo quốc gia về vai trò của thư viện trong việc tham gia thực hiện mục tiêu PTBV quốc gia và đóng góp của thư viện trong bối cảnh kinh tế, xã hội mới của Việt Nam.

Xây dựng tài liệu, các chương trình quảng bá về mục tiêu PTBV và sự tham gia của các thư viện trong việc thực hiện các mục tiêu này.

Tìm kiếm đối tác, nhà tài trợ và sự ủng hộ của các cấp chính quyền cho thư viện trong việc thực hiện các hoạt động vì mục tiêu PTBV quốc gia.

Kế hoạch thực hiện

Hội Thư viện Việt Nam phối hợp với các bên liên quan lên kế hoạch hành động chung về PTBV - chương trình hành động về mục tiêu PTBV.

Mỗi Chi hội, Liên chi hội trong Hội Thư viện Việt Nam tham gia thúc đẩy phổ biến về chương trình này đối với các hội viên mà mình phụ trách.

Quảng bá vai trò của thư viện bằng "ngôn ngữ" của PTBV.

Tổ chức khoá đào tạo cho người làm thư viện về PTBV và xây dựng nội dung hoạt động cho thư viện mình đang công tác.

Xây dựng các hoạt động, chương trình cụ thể để các thư viện tham gia trực tiếp vào PTBV của quốc gia/ địa phương/ lĩnh vực.

Các thư viện thu thập những câu chuyện/ dữ liệu về việc các thư viện đang có những hoạt động đóng góp tích cực cho cộng đồng. Xây dựng các sản phẩm truyền thông để quảng bá.

Tổ chức hội thảo quốc gia về vai trò của thư viện trong việc thực hiện mục tiêu PTBV của LHQ.

Các thư viện triển khai các hoạt động cụ thể góp phần vào mục tiêu PTBV quốc gia. Các hoạt động chuyên môn cụ thể sẽ lồng ghép vào mục tiêu PTBV của từng địa phương mà thư viện đó hoạt động.

Các bên tham gia phối hợp thực hiện

alt

Kết luận

Tham gia thực hiện mục tiêu PTBV của LHQ là cơ hội tốt để các thư viện Việt Nam nâng tầm của mình trong xã hội Việt Nam hiện đại. Việc thực hiện các mục tiêu này cần có sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý, các hội nghề nghiệp, các thư viện và sự hỗ trợ của quốc tế. Trong đó nổi bật là vai trò của Vụ Thư viện, Hội Thư viện Việt Nam và Thư viện Quốc gia Việt Nam trong việc hoạch định chiến lược phát triển và xây dựng kế hoạch hành động cho mục tiêu PTBV. Các thư viện cần xây dựng cho mình kế hoạch hành động cụ thể để triển khai các hoạt động chuyên môn phù hợp với các mục tiêu PTBV, thông qua đó có thể kêu gọi được sự hỗ trợ về nguồn lực cho sự phát triển từ nhà nước, các tổ chức và cá nhân trong toàn xã hội. Trước khi chúng ta kêu gọi xã hội công nhận mình thì hãy hành động để chứng minh sự đóng góp quan trọng của thư viện trong việc phát triển kinh tế, xã hội, môi trường và tham gia thực hiện mục tiêu PTBV của LHQ được coi là cơ hội thế kỷ cho các thư viện Việt Nam.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Bộ Kế hoạch và Đầu tư. Hội thảo "Chương trình nghị sự 2030 vì sự phát triển bền vững và cập nhật tình hình triển khai thực hiện ở Việt Nam". Truy cập từ http://www.mpi.gov.vn/Pages/tinbai.aspx?id- Tin=35534.

2. ADB. ADB Sustainable Development Timeline. Truy cập từ https://www.adb.org/sites/default/files/publication/27485/sustainable-development-timeline.pdf.

3. FAO. World hunger falls to under 800 million, eradication is next goal. Truy cập từ http://www.fao.org/news/story/en/item/288229/icode/.

4. IFLA. Libraries can drive progress across the entire UN 2030 Agenda. Truy cập từ http:// www.ifla.org/files/assets/hq/topics/libraries development/documents/sdgs-insert.pdf.

5. IFLA. The International Advocacy Programme (IAP). Truy cập từ https://www.ifla.org/node/11149.

6. IUCN. World conservation strategy. Truy cập từ https://portals.iucn.org/library/efiles/documents/ WCS-004.pdf.

7. Manitoba. Principles and Guidelines of Sus- tainable Development. Truy cập từ http://www. gov.mb.ca/sd/susresmb/principles-susdev/.

8. Rogers, P.P, Jalal , K.F andBoyd, J.A. An introduction to sustainable development. - Abingdon: Routledge, 2007.

9. Sumner, A. andTribe, M.A. International development studies: Theories and methods in research and practice. - London: SAGE Publications, 2008.

10. United Nations. Transforming our world: the 2030 Agenda for Sustainable Development. By the General Assembly on 25 September 2015. Truy cập từ http://www.un.org/ga/search/view_doc.asp?symbol=A/RES/70/1&Lang=E.

11. United Nations. The Sustainable development goals report 2016. Truy cập từ https://unstats.un. org/sdgs/report/2016/.

12. WCEB. Report of the world commission on environment and development: our common future. Truy cập từ http://www.un-documents.net/ourcom- mon-future.pdf.

 


[1]Tính vị chủng là khái niệm chỉ sự tự quan niệm, tự đánh giá của cá nhân cho rằng chủng tộc, cộng đồng mà mình là thành viên có phẩm chất cao hơn các chủng tộc, cộng đồng khác.

________________

TS. Đỗ Văn Hùng, ThS. Kiều Thuý Nga, Bùi Thị Thuỷ, Phạm Thế Khang

Nguồn: Tạp chí Thư viện Việt Nam. - 2017. - Số 4. - Tr. 3-12.

​ 

1/7/2020 11:00 AMĐã ban hành/Shared Documents/2020-01/2017_4_1-03 (1).jpg
BÁO CÁO ĐIỀU TRA LAO ĐỘNG VIỆC LÀM 2018BÁO CÁO ĐIỀU TRA LAO ĐỘNG VIỆC LÀM 2018
Báo cáo trình bày các kết quả chủ yếu của cuộc điều tra lao động và việc làm năm 2018 nhằm cung cấp các thông tin về lao động, việc làm cho người sử dụng. bên cạnh đó, kết quả điều tra cũng bao gồm một số chỉ tiêu chủ yếu về thất nghiệp và thiếu việc làm đối với nhóm người trong độ tuổi lao động, số liệu được tổng hợp theo quý cho cấp toàn quốc và cấp vùng và theo năm cho cấp tỉnh/thành phố
3/20/2020 4:00 PMĐã ban hành/Shared Documents/2020-03/bia bao cao LĐ.jpg
NGÀY HỘI SÁCH NĂM 2018  SÁCH – TRI THỨC KIẾN TẠO TƯƠNG LAINGÀY HỘI SÁCH NĂM 2018  SÁCH – TRI THỨC KIẾN TẠO TƯƠNG LAI

Chào mừng Ngày Sách Việt Nam 21/4, Ngày Sách và Bản quyền Thế giới 23/4; trên cơ sở kế hoạch hoạt động thường niên của đơn vị đã được Lãnh đạo Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch ủng hộ, Thư viện Quốc gia Việt Nam cùng các cơ quan Trung ương, Ban, Bộ, Ngành, các thư viện, trường học, các tổ chức quốc tế, các doanh nghiệp… tổ chức Ngày Hội Sách năm 2018, thời gian từ 8h00 - 12h00, ngày 19/04/2018 tại Thư viện Quốc gia Việt Nam - 31 Tràng Thi, Hà Nội.

Với chủ đề “Sách - Tri thức kiến tạo tương lai”, Ngày Hội Sách năm nay tiếp tục được tổ chức nhằm tôn vinh giá trị của sách, khẳng định vai trò, vị trí, tầm quan trọng của sách trong đời sống xã hội; tôn vinh những người làm công tác sưu tầm, sáng tác, xuất bản, in, phát hành, lưu giữ, quảng bá sách; khuyến khích và phát triển phong trào đọc sách trong cộng đồng; nâng cao nhận thức của nhân dân về ý nghĩa to lớn và tầm quan trọng của việc đọc sách đối với việc tiếp thu kiến thức, kỹ năng, phát triển tư duy, giáo dục và rèn luyện nhân cách con người; nâng cao trách nhiệm của các cấp, các ngành, các cơ quan chức năng và các tổ chức xã hội đối với việc xây dựng và phát triển văn hóa đọc Việt Nam.

Ngày Hội Sách 2018 bao gồm các hoạt động:

(1) Triển lãm tư liệu “Sách - Tri thức kiến tạo tương lai”: Trưng bày các tư liệu với nội dung giới thiệu vai trò của sách, tri thức trong đời sống xã hội và kỹ năng, phương pháp đọc, học, nghiên cứu để tích luỹ kiến thức khởi nghiệp, làm giàu; về cuộc đời, sự nghiệp của các nhà khoa học, bác học... và những thành tựu, phát minh làm thay đổi thế giới; các xu hướng và tầm quan trọng của việc kết nối tri thức để kiến tạo tương lai.

(2) Lễ trao Giải thưởng Sách Quốc gia lần thứ nhất: Giải thưởng do Hội Xuất bản Việt Nam tổ chức, với sự tham gia của đông đảo các nhà xuất bản và hàng trăm cuốn sách đăng ký dự xét giải. Các hạng mục giải thưởng gồm: Giải Sách hay, Giải Sách đẹp tập trung vào 8 mảng sách: Lý luận - Chính trị, Giáo dục - Đào tạo, Khoa học tự nhiên và công nghệ, Khoa học xã hội và nhân văn, Văn hóa - Nghệ thuật, Văn học và Thiếu nhi;

(3) Giao lưu tác giả - tác phẩm: Nhà sử học Dương Trung Quốc và tác giả: Nguyễn Huy Thắng, Trần Chí Nghĩa ; diễn giả : Nhà nghiên cứu Bùi Việt Thắng, Nhà thơ Hữu Thỉnh, TS. Nguyễn Mạnh Hùng-CEO ThaihaBooks, TS. Giáo dục Nguyễn Thụy Anh cùng giới thiệu, trao đổi, giao lưu với bạn đọc về tác phẩm “Văn nghệ và kháng chiến qua ống kính Trần Văn Lưu”, “Nét cũ duyên xưa”, sách truyện thiếu nhi…

(4) Thi vẽ tranh theo sách: Với chủ đề “Hà Nội trong mắt em”, các di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh, công trình kiến trúc... của Thủ đô sẽ được thể hiện lại trong các bức tranh, thông qua nét vẽ và sự tưởng tượng của các em thiếu nhi;

(5) Thi kể chuyện theo sách bằng tiếng Việt: Những câu chuyện về lịch sử, văn hoá, văn học Việt Nam và thế giới sẽ được các giáo viên trường phổ thông tái hiện lại thông qua hình thức kể chuyện bằng tiếng Việt cho học sinh nghe. Phương thức thể hiện mới này chắc chắn sẽ mang lại nhiều trải nghiệm thú vị cho người tham dự;

(6) Thi kể chuyện theo sách bằng tiếng Anh: Những câu chuyện về lịch sử, văn hoá, văn học Việt Nam và thế giới sẽ được các em thiếu nhi cảm nhận và tái hiện lại thông qua hình thức kể chuyện bằng tiếng Anh;

(7) Thi nhận diện tác giả, tác phẩm: Giới thiệu một số tác phẩm tiêu biểu để người tham gia nhận diện tên tác giả, tác phẩm liên quan đến lịch sử, văn hoá, văn học, danh lam thắng cảnh của Việt Nam và thế giới;

(8) Tiếp nhận tài trợ từ các cơ quan, tổ chức, cá nhân: Quyên góp, tiếp nhận sách tài trợ của các tổ chức, cá nhân... để hỗ trợ các thư viện vùng sâu, vùng xa, thư viện còn gặp nhiều khó khăn;

(9) Hội chợ sách: Với sự tham gia của một số nhà xuất bản, nhà sách giới thiệu hàng ngàn tên sách có nội dung phong phú, giá bán ưu đãi, quà tặng hấp dẫn.​
4/10/2018 9:45 AMĐã ban hành/Shared Documents/2018-08/DSC_8011.JPG
Hệ thống Thống kê Cộng đồng ASEANHệ thống Thống kê Cộng đồng ASEAN
ấn phẩm “Hệ thống Thống kê Cộng đồng ASEAN” nhằm cung cấp cho độc giả các thông tin về quá trình hình thành và phát triển của Hệ thống Thống kê Cộng đồng ASEAN.
Ấn phẩm bao gồm 4 phần:
(1) Phần 1. Lịch sử hình thành và phát triển của Thống kê ASEAN;
(2) Phần 2. Cơ sở pháp lý cho hoạt động của Thống kê ASEAN;
 (3) Phần 3. Cơ chế hoạt động của Thống kê ASEAN;
(4) Phần 4. Cộng đồng ASEAN qua những con số, gồm các số liệu cập nhật, đồ họa thông tin liên quan tới các lĩnh vực như nhân khẩu học, kinh tế, tự do hóa thương mại, đầu tư trực tiếp nước ngoài, tiến bộ xã hội của các quốc gia thành viên ASEAN.
9/22/2018 10:00 AMĐã ban hành/Shared Documents/2018-09/20140510-asean_631EE40F926E4C4BAC5372C260226AD9.jpg
Niên giám thống kê hải quan về hàng hóa xuất nhập khẩu 2017 (bản tóm tắt)Niên giám thống kê hải quan về hàng hóa xuất nhập khẩu 2017 (bản tóm tắt)
Niên giám được phát hành song ngữ (tiếng Việt và tiếng Anh) với thông tin về hoạt động XNK giữa Việt Nam với gần 200 thị trường là đối tác thương mại chủ yếu của nước ta. Thông tin về hoạt động XNK được xây dựng, phục vụ tra cứu theo mã số HS (6 số).

Niên giám thống kê hàng hóa XNK là cơ sở để Chính phủ, các bộ, ngành dẫn chiếu tham khảo, tham mưu về chính sách kinh tế đối ngoại của Chính phủ và các nhu cầu khác của các tổ chức, cá nhân sử dụng thông tin thống kê; đồng thời phục vụ nhu cầu tìm hiểu, phát triển thị trường XNK của các DN, hiệp hội DN có quan tâm…
9/13/2018 11:00 AMĐã ban hành/Shared Documents/2018-09/db463c_c66a753e5d3c4ac49ba2dac2cd7c9e9e_mv2.png
Một số suy nghĩ về việc ứng dụng khổ mẫu Marc 21 trong việc lưu giữ và trao đổi tài nguyên thông tinMột số suy nghĩ về việc ứng dụng khổ mẫu Marc 21 trong việc lưu giữ và trao đổi tài nguyên thông tin

Hoạt động thông tin được hiểu là hoạt động dữ liệu số có lẽ không còn xa lạ đối mọi người hôm nay. Trên báo Tuổi trẻ điện tử có hẳn một mục gọi là nhịp sống số. Điều đó đã chứng minh sự gần gũi về dữ liệu số đối với chúng ta hôm nay. Nhưng đó là mặt diện của bề rộng, còn chiều sâu của nó là vấn đề quan hệ qua lại giữa các yếu tố như: Tác giả (kể cả các thành viên tạo ra một tài liệu; một sản phẩm thông tin). ấn phẩm trước khi in (Tài liệu hội thảo; Bản thảo của các tác phẩm hoặc các công trình, dự án, đề tài; Thư điện tử; Các thông tin không chính thức khác); Các nhà xuất bản (kể cả cơ quan không làm nhiệm vụ xuất bản); Bài báo chuyên ngành, kỷ yếu hội thảo; Cơ sở dữ liệu (CSDL); sách; Các dịch vụ tóm tắt và đánh chỉ số; Cán bộ thư viện và thư viện; Hiệu sách; người đăng ký mua nhỏ lẻ. Bạn đọc như thế nào, tổ chức miêu tả, tổ chức nhập liệu ở máy tính; tổ chức lưu giữ ra sao? thì chúng ta chưa quan tâm một cách đầy đủ và toàn diện để mỗi biểu ghi tài liệu được thống nhất trong lưu giữ, và từ sự thống nhất này chúng ta mới có thể chia sẻ các thành quả cho nhau được.

Với tính chất quan hệ dữ liệu thông tin trên, chúng tôi xin nêu một số suy nghĩ về việc ứng dụng khổ mẫu MARC21 trong việc lưu giữ và trao đổi tài nguyên thông tin. Nội hàm tài nguyên thông tin  được hiểu là:

§  Dữ liệu thư mục  là một tập hợp các tên tài liệu, mà mỗi tên tài liệu được miêu tả tóm tắt bằng 8 yếu tố miêu tả theo chuẩn miêu tả thư mục quốc tế (Tên tác giả; tên tài liệu; số lần xuất bản; các chi tiết xuất bản; đặc điểm số lượng trang; thư mục; phụ chú; tóm tắt nội dung) vào một biểu ghi.

§  Normal 0 false false false MicrosoftInternetExplorer4 Cơ sở dữ liệu toàn văn (full-text) gọi tài liệu số hay tài liệu kỹ thuật số (sách, tạp chí, tin bài, luận án, tiểu luận, văn bản…) bao gồm các loại chủ yếu:

o    Dữ liệu hình ảnh: Tất cả các hình ảnh được lưu trữ dưới dạng số theo các định dạng khác nhau

o    Dữ liệu đồ họa: Tất cả tài liệu có tính chất trực quan hình học như đồ họa, thiết kế, bản vẽ…

o    Dữ liệu văn bản: Tất cả các loại văn bản được lưu trữ dưới dạng số theo các định dạng khác nhau

o    Chương trình máy tính: Có 2 loại phần mềm cơ bản:

-Hệ điều hành (Operating System Software)

- Phần mềm ứng dụng (Application Software)

   Với nội hàm tài nguyên thông tin nêu trên chúng ta cũng cần phải có quy định một số chuẩn thống nhất để ứng dụng cho công tác biên mục theo khổ mẫu MARC21 như sau:

1.-Thống nhất cách tổ chức áp dụng biên mục tài liệu thông tin theo chuẩn MARC

§  Phân định loại hình tài liệu thông tin. Bởi vì mỗi một loại hình nó có kết cấu riêng của nó, và tất yếu khổ mẫu biên mục theo MARC cũng sẽ áp dụng theo từng loại hình tài liệu thông tin, cụ thể: Sách; Báo, tạp chí; Tệp máy tính; Tranh, ảnh, bích chương; Bản đồ; Vi phim; Phim điện ảnh, băng ghi hình; Văn bản hành chính; Băng ghi âm; Mô hình, tượng; Thông tin cộng đồng

§  Áp dụng các khổ mẫu MARC để hỗ trợ cho công tác biên mục, lưu giữ và trao đổi tài nguyên thông tin như:

o    MARC21 format for classifcation data (khổ mẫu MARC21 cho dữ liệu phân loại) để phục vụ cho công việc tích hợp dữ liệu theo hệ thống chuyên đề

o    MARC21 format for holdings data (khổ mẫu Marc 21 cho dữ liệu về vốn tư liệu) để tổ chức hệ thống kho lưu giữ kho dữ liệu

o    MARC21 format for community information (khổ mẫu Marc 21 cho thông tin cộng đồng) để tổ chức quản lý con người và phương tiện sinh hoạt, nơi ở của con người

o    MARC code list for countries (Danh mục mã nước) để xác định nguồn gốc biểu ghi thư mục tài liệu thông tin của nước nào

o    MARC21 code list for geographic areas (Danh mục mã các khu vực địa lý) để xác định nguồn gốc xuất bản tài liệu

o    MARC code list for languages (Danh mục mã ngôn ngữ) để xác định ngôn ngữ chính văn của tác phẩm

o    USMARC code list organizations (Danh mục mã các tổ chức) để xác định cơ quan biên mục và quản lý nguồn thư mục

§  Về khổ mẫu biên mục cho MARC21 theo chúng tôi nên thống nhất tạo ra  9 khổ mẫu cụ thể như sau:

1. Mẫu worksheet nhập tài liệu  ( sách )

2. Mẫu worksheet nhập tài liệu nhiều kỳ

3. Mẫu worksheet nhập âm nhạc, nhạc

4. Mẫu worksheet nhập bản đồ, tập bản đồ, quả địa cầu

5. Mẫu worksheet nhập ấn phẩm điện ảnh, băng từ

6. Mẫu worksheet nhập file máy tính

7. Mẫu worksheet nhập trực quan

8. Mẫu worksheet nhập văn bản tổng hợp

9. Mẫu worksheet nhập thông tin cộng đồng

§  Về quy trình ứng dụng biên mục biểu ghi thư mục cho một tài liệu thông tin được đi theo các trình tự như sau:

Một là tác giả của tài liệu thông tin (kể cả các thành viên tạo ra một tài liệu; một sản phẩm thông tin): Khi tác giả hoàn thành bản thảo một tác phẩm; một công trình; một bản tham luận; một bài báo chuyên đề… gửi đến nhà xuất bản hoặc tòa soạn hoặc cơ quan tổ chức hội thảo; thì tự tác giả phải khai báo thư mục tài liệu thông tin (bản thảo) đó theo mẫu worksheet trên máy tính và gửi kèm cùng một lúc với bản thảo đến cơ quan dự định xuất bản hoặc in ấn. Ví dụ mẫu worksheet như sau:

Mẫu worksheet 1 :Tác giả tự  nhập các trường 100; 245; 300; 520

Tên nhãn trườngNội dung biên mục
100Tác giả tự nhập tên theo các mục có sẵn của trường
245Tác giả tự nhập tên tài liệu theo các mục có sẵn của trường    
300Tác giả tự nhập số lượng trang bản thảo
520Tác giả tự nhập tóm tắt nội dung tài liệu bản thảo       
650Tác giả tự nhập chủ đề chính của tài liệu bản thảo

Hai là các nhà xuất bản hoặc cơ quan cấp phép xuất bản: Khi cơ quan xuất bản hoặc cấp giấy phép xuất bản nhận bản thảo tác phẩm có kèm theo file ISO (khai báo worksheet) hoặc đĩa mềm có chứa file ISO (khai báo worksheet) thì nhập file iso vào Cơ sở dữ liệu thư mục quản lý xuất bản và tiếp tục hiệu đính biên mục như sau :

 Cũng mẫu worksheet 1: Cơ quan xuất bản hoặc cấp phép xuất bản phải nhập trường 017, 020; 028; 041; 043; 250; 260; 561

Tên nhãn trườngNội dung biên mục
016Cục xuất bản nhập số kiểm soát của cơ quan Thư mục Quốc gia        
017Cơ quan xuất bản nhập số đăng ký bản quyền
020Cơ quan xuất bản nhập  giá tiền và số lượng bản in; só tiêu chuẩn ISBN        
028Cơ quan xuất bản nhập số giấy phép bản in   
041Cơ quan xuất bản nhập mã ngôn ngữ chính của tài liệu thông tin         
043Cơ quan xuất bản nhập mã vùng địa lý của cơ quan xuất bản
052Cơ quan xuất bản nhập mã vùng địa lý của  Tác giả
100Tác giả tự nhập tên theo các mục có sẵn của trường
245Tác giả tự nhập tên tài liệu theo các mục có sẵn của trường
250Cơ quan xuất bản nhập thông tin về lần xuất bản
260Cơ quan xuất bản nhập địa chỉ của nhà xuất bản; tên nhà xuất bản; năm xuất bản tài liệu thông tin đó           
300Tác giả tự nhập số lượng trang bản thảo
520Tác giả tự nhập tóm tắt nội dung tài liệu bản thảo
561Cơ quan xuất bản nhập quyền sở hữu và lịch sử bảo hộ bản quyền tác giả
650Tác giả tự nhập chủ đề của tài liệu bản thảo      

Ba là Thư viện Quốc gia : Khi các nhà xuất bản nộp tài liệu lưu chiểu cho Thư viện Quốc gia thì nộp luôn file ISO của  tài liệu đó. Trường hợp không có file ISO thì Thư viện Quốc gia có thể vào CSDL quản lý xuất bản của nhà xuất bản để tải file ISO về thư viện và nhập vào CSDL tài nguyên của Thư viện Quốc gia. Riêng các tài liệu do thư viện tỉnh biên mục cũng theo chuẩn biểu ghi thư mục MARC và chuyển ISO về Thư viện Quốc gia. Và Thư viện Quốc gia tiếp tục biên mục hiệu đính như sau:

 Cũng mẫu worksheet 1 :của Cơ quan xuất bản hoặc cấp phép xuất bản Thư viện Quốc gia tiếp tục nhập tiếp các trường : 001, 003, 006, 007, 008, 010, 013, 082, 153, 600, 650, 651, 700, 800, 850, 852, 856

Tên nhãn trườngNội dung biên mục
001Thư viện Quốc gia nhập số kiểm soát biểu ghi  tài nguyên      
003Thư viện Quốc gia nhập mã nhận dạng kiểm soát
006Thư viện Quốc gia nhập độ dài cố định của các yếu tố dữ liệu
007Thư viện Quốc gia  Miêu tả trường vật lý cố định       
008Thư viện Quốc gia nhập các mã dữ liệu có độ dài cố định     
010Thư viện Quốc gia nhập số kiểm tra của mục lục nguồn
013Thư viện Quốc gia nhập thông tin kiểm soát bằng sáng chế    
016Cục xuất bản nhập số kiểm soát của cơ quan Thư mục Quốc gia          
017Cơ quan xuất bản nhập số đăng ký bản quyền
020Cơ quan xuất bản nhập giá tiền và số lượng bản in; số tiêu chuẩn ISBN 
028Cơ quan xuất bản nhập số giấy phép bản in
040Thư viện Quốc gia nhập mã Nguồn CATALOGING của thư viện Quốc gia
041Cơ quan xuất bản nhập mã ngôn ngữ chính của tài liệu thông tin
043Cơ quan xuất bản nhập mã vùng địa lý của cơ quan xuất bản
052Cơ quan xuất bản nhập mã vùng địa lý của Tác giả
082Thư viện Quốc gia nhập ký hiệu phân loại DDC tổng quát (000, 100, 200, 300, 400, 500, 600, 700, 800, 900)        
100Tác giả tự nhập tên theo các mục có sẵn của trường
153Thư viện Quốc gia nhập ký hiệu phân loại chi tiết (sát với nội dung tài liệu)
245Tác giả tự nhập tên tài liệu theo các mục có sẵn của trường (Thư viện Quốc gia kiểm tra và hiệu đính các chi tiết còn thiếu)
250Cơ quan xuất bản nhập Thông tin về lần xuất bản (Thư viện Quốc gia kiểm tra và hiệu đính các chi tiết còn thiếu)
260Cơ quan xuất bản nhập địa chỉ của nhà xuất bản; tên nhà xuất bản; năm xuất bản tài liệu thông tin đó (Thư viện Quốc gia kiểm tra và hiệu đính các chi tiết còn thiếu) 
300Tác giả tự nhập số lượng trang bản thảo (Thư viện Quốc gia kiểm tra và hiệu đính các chi tiết còn thiếu)
520Tác giả tự nhập tóm tắt nội dung tài liệu bản thảo
561Cơ quan xuất bản nhập quyền sở hữu và lịch sử bảo hộ bản quyền tác giả
600Thư viện Quốc gia nhập bổ sung chủ đề nhân vật
650Tác giả tự nhập chủ đề của tài liệu bản thảo (Thư viện Quốc gia kiểm tra và hiệu đính các chi tiết còn thiếu)
651Thư viện Quốc gia nhập bổ sung chủ đề địa lý
700Thư viện Quốc gia nhập bổ sung tên các thành viên của tác phẩm
800Thư viện Quốc gia nhập bổ sung tên tác giả tùng thư
850Thư viện Quốc gia nhập mã của Thư viện Quốc gia (cơ quan lưu giữ vốn tài liệu).
852Thư viện Quốc gia thiết lập ký hiệu xếp giá
856Thư viện Quốc gia thiết lập địa chỉ truy cập    

 

Bốn là đối với thư viện tỉnh; thư viên chuyên ngành hoặc thư viên cơ sở…Khi các thư viện bổ sung tài liệu mới thì vào CSDL tài nguyên của Thư viện Quốc gia để tải về và hiệu đính biểu ghi thư mục như sau:

 

Cũng mẫu worksheet 1 của Thư viện Quốc gia. Thư viện tỉnh tiếp tục nhập tiếp các trường: 001, 003, 010, 040, 521, 650, 850, 852, 856

 

Tên nhãn trườngNội dung biên mục
001Thư viện Quốc gia nhập số kiểm soát biểu ghi  tài nguyên (Thư viện tỉnh, thư viện chuyên ngành, thư viện cơ sở… hiệu đính số kiểm soát của thư viện mình) 
003Thư viện Quốc gia nhập mã nhận dạng kiểm soát (Thư viện tỉnh, thư viện chuyên ngành, thư viện cơ sở… hiệu đính mã nhận dạng của thư viện mình)
006Thư viện Quốc gia nhập độ dài cố định của các yếu tố dữ liệu
007Thư viện Quốc gia  miêu tả trường vật lý cố định
008Thư viện Quốc gia nhập các mã dữ liệu có độ dài cố định
010Thư viện Quốc gia nhập số kiểm tra của mục lục nguồn (Thư viện tỉnh, thư viện chuyên ngành, thư viện cơ sở… hiệu đính số kiểm tra của thư viện mình)
013Thư viện Quốc gia nhập thông tin kiểm soát bằng sáng chế       
016Cục xuất bản nhập số kiểm soát của cơ quan Thư mục Quốc gia
017Cơ quan xuất bản nhập số đăng ký bản quyền
020Cơ quan xuất bản nhập giá tiền và số lượng bản in; số tiêu chuẩn ISBN
028Cơ quan xuất bản nhập số giấy phép bản in
040Thư viện Quốc gia nhập mã Nguồn CATALOGING của Thư viện Quốc gia (Thư viện tỉnh, thư viện chuyên ngành, thư viện cơ sở… hiệu đính mã nguồn CATALOGING của thư viện mình)
041Cơ quan xuất bản nhập mã ngôn ngữ chính của tài liệu thông tin
043Cơ quan xuất bản nhập mã vùng địa lý của cơ quan xuất bản
052Cơ quan xuất bản nhập mã vùng địa lý của tác giả
082Thư viện Quốc gia nhập ký hiệu phân loại DDC tổng quát (000, 100, 200, 300, 400, 500, 600, 700, 800, 900)
100Tác giả tự nhập tên theo các mục có sẵn của trường
153Thư viện Quốc gia nhập ký hiệu phân loại chi tiết (sát với nội dung tài liệu)
245 Tác giả tự nhập tên tài liệu theo các mục có sẵn của trường (Thư viện Quốc gia kiểm tra và hiệu đính các chi tiết còn thiếu)
250Cơ quan xuất bản nhập Thông tin về lần xuất bản (Thư viện Quốc gia kiểm tra và hiệu đính các chi tiết còn thiếu)
260Cơ quan xuất bản nhập địa chỉ của nhà xuất bản; Tên nhà xuất bản; năm xuất bản tài liệu thông tin đó (Thư viện quốc gia kiểm tra và hiệu đính các chi tiết còn thiếu) 
300Tác giả tự nhập số lượng trang bản thảo (Thư viện Quốc gia kiểm tra và hiệu đính các chi tiết còn thiếu)
520Tác giả tự nhập tóm tắt nội dung tài liệu bản thảo
521Thư viện tỉnh, thư viện chuyên ngành, thư viện cơ sở… nhập đối tượng đọc tài liệu 
561Cơ quan xuất bản nhập quyền sở hữu và lịch sử bảo hộ bản quyền tác giả
600Thư viện Quốc gia nhập bổ sung chủ đề nhân vật
650Tác giả tự nhập chủ đề của tài liệu bản thảo (Thư viện Quốc gia kiểm tra và hiệu đính các chi tiết còn thiếu).(Thư viện tỉnh, thư viện chuyên ngành, thư viện cơ sở… tiếp tục xây dựng thuật ngữ chủ đề cho của thư viện mình)
651Thư viện Quốc gia nhập bổ sung chủ đề địa lý
700Thư viện Quốc gia nhập bổ sung tên các thành viên của tác phẩm
800Thư viện Quốc gia nhập bổ sung tên tác giả tùng thư
850Thư viện Quốc gia nhập mã của Thư viện Quốc gia (cơ quan lưu giữ vốn tài liệu).(Thư viện tỉnh, thư viện chuyên ngành, thư viện cơ sở.. hiệu đính mã số của thư viện mình)
852Thư viện Quốc gia thiết lập ký hiệu xếp giá.(Thư viện tỉnh, thư viện chuyên ngành, thư viện cơ sở… hiệu đính kí hiệu xếp giá của thư viện mình)
856Thư viện Quốc gia thiết lập địa chỉ truy cập. Thư viện tỉnh, thư viện chuyên ngành, thư viện cơ sở… hiệu đính địa chỉ truy cập của thư viện mình)

 

   Riêng những tài liệu xuất bản tại địa phương hoặc của ngành thì khai báo biên mục như biểu ghi biên mục của Thư viện Quốc gia

Năm là Phóng viên : Khi phóng viên hoàn thành một tin bài, thì tự phóng viên đó khai báo thư mục bài báo đó theo mẫu worksheet trên máy tính và gởi kèm cùng một lúc với bản thảo đến tòa soạn. Ví dụ mẫu worksheet như sau:

Mẫu worksheet 2 :Tác giả tự nhập trường 100; 245

Tên nhãn trườngNội dung biên mục
100Tác giả tự nhập tên theo các mục có sẵn của trường
245Tác giả tự nhập tên tài liệu theo các mục có sẵn của trường    

 

Sáu là Tòa soạn báo : Khi một số báo; số tạp chí sắp phát hành thì tòa soạn phải biên mục biểu ghi theo mẫu worksheet như sau:

 

Tên nhãn trườngNội dung biên mục
016Cục xuất bản nhập số kiểm soát của cơ quan Thư mục quốc gia
028Tòa soạn nhập Mục (bài báo) Bản quyền - Mã Thanh toán     
020Tòa soạn nhập số lượng bản in; giá tiền
022Tòa soạn nhập ISSN = Số hiệu seri Chuẩn của Quốc tế
040Tòa soạn nhập mã Nguồn CATALOGING của tòa soạn
041Tòa soạn nhập mã ngôn ngữ chính của tài liệu thông tin
043Tòa soạn nhập mã vùng địa lý của tòa soạn    
052Tòa soạn nhập  mã vùng địa lý của Tổng biên tập
210Tòa soạn nhập tên tạp chí, tên báo viết tắt (nếu có)
222Tòa soạn nhập từ khóa tên tạp chí, tên báo
245Tác giả tự nhập tên tài liệu theo các mục có sẵn của trường (Tòa soạn hiệu đính các chi tiết còn thiếu)       
247Tòa soạn nhập tên cũ của  tên tạp chí, tên báo
260Tòa soạn nhập địa chỉ của tòa soạn; năm xuất bản của báo chí
263Tòa soạn nhập ngày tháng xuất bản tờ báo hoặc tạp chí
300Tòa soạn miêu tả khổ báo tạp chí và số lượng trang
310Tòa soạn nhập số xuất bản hiện hành  
362Tòa soạn nhập ngày tháng xuất bản đầu tiên hoặc chỉ định tiếp theo
520Tác giả tự nhập tóm tắt nội dung tài liệu bản thảo
853Tòa soạn nhập Mẫu và Các đầu đề chương mục hoặc bài báo -- Đơn vị Thư mục Cơ bản
854Tòa soạn nhập Các mẫu và  đầu đề chương mục hoặc bài báo -- Tài liệu bổ sung       

 

2.-Thống nhất cách tổ chức áp dụng biên mục nơi lưu giữ tài nguyên thông tin theo chuẩn MARC

§  Về ứng dụng các tổ chức lưu giữ tài nguyên được áp dụng cho từng hệ thống kho của thư viện cũng được khai báo cụ thể ở biểu ghi tài liệu thư mục như sau :

 

Cũng mẫu worksheet 1 của Thư viện Quốc gia thì Thư viện tỉnh: Bộ phận biên mục; Bộ phận công tác bạn đọc của thư viên tiếp tục nhập tiếp các trường :

 

Tên nhãn trườngNội dung biên mục
001Thư viện Quốc gia nhập số kiểm soát biểu ghi  tài nguyên (Thư viện tỉnh, thư viện chuyên ngành, thư viện cơ sở… hiệu đính số kiểm sóat của thư viện mình)
003Thư viện Quốc gia nhập mã nhận dạng kiểm soát (Thư viện tỉnh, thư viện chuyên ngành, thư viện cơ sở… hiệu đính mã nhận dạng của thư viện mình)
006Thư viện Quốc gia nhập độ dài cố định của các yếu tố dữ liệu
007Thư viện Quốc gia  Miêu tả trường vật lý cố định
008Thư viện Quốc gia nhập các mã dữ liệu có độ dài cố định
010Thư viện Quốc gia nhập Số kiểm tra của mục lục nguồn (Thư viện tỉnh, thư viện chuyên ngành, thư viện cơ sở… hiệu đính số kiểm tra của thư viện mình)
013Thư viện Quốc gia nhập thông tin kiểm soát bằng sáng chế       
016Cục xuất bản nhập số kiểm soát của cơ quan Thư mục Quốc gia
017Cơ quan xuất bản nhập số đăng ký bản quyền
020Cơ quan xuất bản nhập  giá tiền và số lượng bản in; số tiêu chuẩn ISBN
028Cơ quan xuất bản nhập số giấy phép bản in
040Thư viện Quốc gia nhập mã nguồn CATALOGING của Thư viện Quốc gia (Thư viện tỉnh, thư viện chuyên ngành, thư viện cơ sở... hiệu đính mã nguồn CATALOGING của thư viện mình)
041Cơ quan xuất bản nhập mã ngôn ngữ chính của tài liệu thông tin
043Cơ quan xuất bản nhập mã vùng địa lý của cơ quan xuất bản
052Cơ quan xuất bản nhập mã vùng địa lý của  Tác giả
082Thư viện Quốc gia nhập ký hiệu phân loại DDC tổng quát (000, 100, 200, 300, 400, 500, 600, 700, 800, 900)        
100Tác giả tự nhập tên theo các mục có sẵn của trường
153Thư viện Quốc gia nhập ký hiệu phân loại chi tiết (sát với nội dung tài liệu)
245 Tác giả tự nhập tên tài liệu theo các mục có sẵn của trường (Thư viện Quốc gia kiểm tra và hiệu đính các chi tiết còn thiếu)
250Cơ quan xuất bản nhập Thông tin về lần xuất bản (Thư viện Quốc gia kiểm tra và hiệu đính các chi tiết còn thiếu)
260Cơ quan xuất bản nhập địa chỉ của nhà xuất bản; Tên nhà xuất bản; năm xuất bản tài liệu thông tin đó (Thư viện Quốc gia kiểm tra và hiệu đính các chi tiết còn thiếu) 
300Tác giả tự nhập số lượng trang bản thảo (Thư viện Quốc gia kiểm tra và hiệu đính các chi tiết còn thiếu)
520Tác giả tự nhập tóm tắt nội dung tài liệu bản thảo
521Thư viện tỉnh, thư viện chuyên ngành, thư viện cơ sở… nhập đối tượng đọc tài liệu 
541Bộ phận biên mục của thư viện ghi tên người trực tiếp miêu tả hoặc trực tiếp thu nhận từ nguồn thư mục khác
561Cơ quan xuất bản nhập Quyền sở hữu và lịch sử bảo hộ bản quyền tác giả        
562Bộ phận bạn đọc của thư viện ghi chú sự sao chép, trích đoạn trong tài liệu
583Bộ phận bạn đọc của thư viện ghi chú việc tổ chức sắp xếp; luân chuyển tài liệu giữa các kho
600Thư viện Quốc gia Nhập bổ sung chủ đề nhân vật
650Tác giả tự nhập chủ đề của tài liệu bản thảo (Thư viện Quốc gia kiểm tra và hiệu đính các chi tiết còn thiếu)(Thư viện tỉnh, thư viện chuyên ngành, thư viện cơ sở… tiếp tục xây dựng thuật ngữ chủ đề cho của thư viện mình)
651Thư viện Quốc gia Nhập bổ sung chủ đề địa lý
700Thư viện Quốc gia Nhập bổ sung tên các thành viên của tác phẩm
800Thư viện Quốc gia Nhập bổ sung tên tác giả tùng thư
850Thư viện Quốc gia Nhập mã của Thư viện Quốc gia (cơ quan lưu giữ vốn tài liệu). (Thư viện tỉnh, thư viện chuyên ngành, thư viện cơ sở... hiệu đính mã số của thư viện mình)
852Thư viện Quốc gia thiết lập ký hiệu xếp giá (Thư viện tỉnh, thư viện chuyên ngành, thư viện cơ sở... hiệu đính kí hiệu xếp giá của thư viện mình)
856Thư viện Quốc gia thiết lập địa chỉ truy cập (Thư viện tỉnh, thư viện chuyên ngành, thư viện cơ sở... hiệu đính địa chỉ truy cập của thư viện mình)

        3.- Thống nhất cách tổ chức áp dụng biên mục thông tin cộng đồng (bạn đọc và tác giả) theo chuẩn MARC

Hoạt động thư viện là hoạt động giữa cán bộ thư viện, tài nguyên thông tin và bạn đọc. Do vậy, chúng ta cũng cần ứng dụng khổ mẫu MARC21 trong việc hỗ trợ quản lý bạn đọc, hay nói một cách rộng hơn là quản lý con người. Và nói chung nữa là quản lý cộng đồng. Cụ thể biểu ghi khổ mẫu thông tin cộng đồng như sau :

Mẫu worksheet thông tin cộng đồng: Mẫu này do từng thư viện nhập

Tên nhãn trườngNội dung biên mục
010Thư viện nhập số kiểm soát của thư viện
016Thư viện nhập số kiểm sóat của Thư mục quốc gia
035Thư viện nhập số kiêm soát hệ thống
040Thư viện nhập mã nguồn CATALOGING của thư viện
041Thư viện nhập mã ngôn ngữ của biểu ghi
043Thư viện nhập mã vùng địa lý của bạn đọc
046Thư viện nhập mã vùng địa lý của thư viện
072Thư viện nhập mã dịch vụ của con người
073Thư viện nhập mã tổ chức mà con người tham gia
082 
100Thư viện nhập hoặc bạn đọc nhập tên của bạn đọc theo các mục có sẵn của trường (ví dụ trường con a = Họ tên; b= số thẻ; = ngày tháng năm sinh..)         
153Máy tự thực hiện (khi hoạt động mượn trả máy tự động lấy dữ liệu từ cơ sở dữ liệu thư mục đưa qua cơ sở dữ liệu thông tin cộng đồng)
245Máy tự thực hiện (khi hoạt động mượn trả máy tự động lấy dữ liệu từ cơ sở dữ liệu thư mục đưa qua cơ sở dữ liệu thông tin cộng đồng)  
270Thư viện nhập hoặc bạn đọc nhập địa chỉ của bạn đọc theo các mục có sẵn của trường 
303Thư viện nhập hoặc bạn đọc nhập thời gian được tiếp xúc hoặc tên người tiếp xúc 
311Thư viện nhập hoặc bạn đọc nhập các phòng họp và có các phương tiện cho cuộc họp     
501Thư viện nhập ghi chú thông tin tiền tệ của bạn đọc    
505Thư viện nhập ghi chú các chương trình làm việc và hoạt động của bạn đọc
521Thư viện nhập ghi chú nhóm người có cùng mục đích
531Thư viện nhập ghi chú tính thích hợp, các chi phí, các thủ tục
536Ghi chú Nguồn cấp vốn 
545Ghi chú Tiểu sử hoặc Lượt sử
546Thư viện nhập Ghi chú  biết sử dụng ngôn ngữ
551Ghi chú Ngân quỹ

 

Với các công đoạn ứng dụng biên mục biểu ghi theo khổ mẫu MARC21, nó cho phép máy tính sắp xếp và lựa chọn dữ liệu biên mục. Điều đó có nghĩa là các thư viện có thể:

- Cho phép người dùng truy cập mạnh mẽ hơn các biểu ghi.

- In ra dữ liệu biên mục theo một số dạng thức khác nhau như: các thư mục chủ đề.

- Sản xuất ra các thông báo sách mới, mục lục sách và các nhãn trên gáy sách.

- Sản xuất các loại mục lục khác nhau như Microfiche và mục lục truy cập trực tuyến.

- Trao đổi các dữ liệu biên mục với các thư viện khác trên thế giới.

- Tính nhất quán biểu ghi tạo lập nên các hình thức nhất quán cho tiêu đề cá nhân, tập thể và tên hội nghị, hội thảo, chủ đề và tùng thư. Điều đó cho phép người sử dụng mục lục có thể tìm thấy tất cả các tài liệu liên quan dưới cùng một tiêu đề.

- Các tham chiếu định hướng cho người sử dụng từ miêu tả tiêu đề không được sử dụng cho đến những tiêu đề được sử dụng. Ví dụ: Nguyễn Ái Quốc  xem Hồ Chí Minh

Mặt khác, nếu các cơ quan cùng ứng dụng biên mục khổ mẫu MARC21 như chúng tôi vừa nêu trên, thì chúng ta sẽ có tương đối đầy đủ một hệ thống các cơ sở dữ liệu thư mục tài liệu thông tin xuất bản trong cả nước vừa phản ảnh kịp thời tình hình xuất bản; lại được chuẩn hóa dữ liệu thông tin trong cả nước từ khâu miêu tả đến khâu nhập máy, và đó cũng chính là vấn đề tạo điều kiện thuận lợi trong việc tổ chức lưu giữ và trao đổi tài nguyên thông tin giữa các thư viện trong và ngoài nước.

----------------------------

Dương Thái Nhơn - Thư viện tỉnh Phú Yên 

​ 

10/27/2016 3:00 PMĐã ban hành/Shared Documents/2018-09/83029792015taixuong.jpg
Niên giám thống kê 2017Niên giám thống kê 2017
Niên giám thống kê 2017 gồm các số liệu thống kê phản ánh thực trạng kinh tế xã hội của cả nước, các vùng và các địa phương.
11/2/2018 9:00 AMĐã ban hành/Shared Documents/2018-11/Photo_Download (2).jpg
SÁCH MỚI QUÝ III TẠI THƯ VIỆNSÁCH MỚI QUÝ III TẠI THƯ VIỆN

Supporting the Establishment of Vietnam's 2011-20 Socio- economic Development Strategy

Tham luận tại Đại hội địa biểu toàn quốc lần thứ XI

Agreements on the promotion and protection of Investment

Giáo trình thống kê dân số và lao động

Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư giữa Việt Nam và các quốc gia, vùng lãnh thổ

Total portfolio of projects calling for investment in Vietnam up to 2020- Tổng danh mục các dự án kêu gọi đầu tư ở Việt Nam đến năm 2020

Trade/ Investment issues and Recommendations

triển vọng phát triển kinh tế- xã hội Việt Nam đến 2010

Báo cáo đánh giá toàn diện 20 năm quan hệ hợp tác phát triển giữa Việt Nam và các nhà tài trợ (1993-2013)

Giới thiệu về thống kê Việt Nam A guide to Vietnam statistical system

Thực hiên phát triển bền vững ở Việt Nam

Báo cáo Đầu tư Công nghiệp Việt Nam 2011

CÁc vấn đề thương mại/ Đầu tư và kiến nghị 2013

Văn bản pháp luật về đầu tư và doanh nghiệp

Tình hình kinh tế- xã hội Việt Nam mười năm 2001-2010

Enhancing Asean's connectivity

Hệ thống ngành kinh tế Việt Nam 2007

Cam kết về đầu tư trong các hiệp định thương mại tự do giữa Asean và các đối tác ngoài khối

Số liệu thống kê vị thế Kinh tế- xã hội 63 tỉnh, thành phố Việt Nam

Green growth in motion : Sharing Korea's Experience

Khai thác và phát triển: Tài nguyên nhân lực Việt Nam

Biên giới trên đất liền Việt Nam- Trung Quốc

Hướng tới nền kinh tế Xanh. Lộ trình cho phát triển bền vững và xóa đói giảm nghèo

Về các mối quan hệ lớn cần được giải quyết tốt trong quá trình đổi mới đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta

Các công ước cơ bản về quyền con người

Hội đồng chính sách khoa học và công nghệ quốc gia ( nhiệm kỳ 2012-2016)

Quy hoạch từ lý thuyết đến thực tiễn ở nước chuyển đổi mô hình phát triển

Những vấn đề về kinh tế- xã hội trong cương lĩnh ( Bổ sung, phát triển năm 2011)

Sổ tay tìm hiểu các quy định pháp luật về đất đai và gaiir quyết khiếu nại, tố cáo

Niên giám thống kê 2015

Niên giám thống kê 2008

Niên giám thống kê 2010

​ 

10/27/2016 10:00 AMĐã ban hành/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
Tăng trưởng các vùng kinh tế trọng điểm giai đoạn 2011-2017Tăng trưởng các vùng kinh tế trọng điểm giai đoạn 2011-2017
12/3/2019 3:00 PMĐã ban hành/Shared Documents/2019-12/Photo_Download.jpg
NGÀY HỘI SÁCH NĂM 2016:  SÁCH - HỘI NHẬP, ĐỔI MỚI, PHÁT TRIỂNNGÀY HỘI SÁCH NĂM 2016:  SÁCH - HỘI NHẬP, ĐỔI MỚI, PHÁT TRIỂN
                   Chào mừng Ngày Sách Việt Nam - 21/4, Ngày Sách và Bản quyền Thế giới - 23/4, trên cơ sở kế hoạch hoạt động thường niên của đơn vị đã được Lãnh đạo Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch phê duyệt, Thư viện Quốc gia Việt Nam cùng các cơ quan: Ban Tuyên giáo Trung ương, Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh thiếu niên nhi đồng Quốc hội, Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, các đại sứ quán, tổ chức quốc tế tại Hà Nội, các cơ quan thông tấn, báo, đài, Cục Xuất bản, In và Phát hành, Cục Báo chí, Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, Hội Nhà văn Việt Nam, Hội Xuất bản Việt Nam, Hội Thư viện Việt Nam, các cơ quan xuất bản, phát hành, Thư viện tỉnh/thành phố, trường đại học, trung học phổ thông, trung học cơ sở, tiểu học, đơn vị và các cá nhân tổ chức Ngày Hội Sách năm 2016, thời gian từ 8h00-17h00, tại Thư viện Quốc gia Việt Nam - 31 Tràng Thi, Hà Nội.
Với chủ đề “Sách - Hội nhập, Đổi mới, Phát triển”, Ngày Hội Sách năm nay tiếp tục được tổ chức nhằm tôn vinh giá trị của sách, khẳng định vai trò, vị trí, tầm quan trọng của sách trong đời sống xã hội; tôn vinh những người làm công tác sưu tầm, sáng tác, xuất bản, in, phát hành, lưu giữ, quảng bá sách, khuyến khích và phát triển phong trào đọc sách trong cộng đồng; nâng cao nhận thức của nhân dân về ý nghĩa to lớn và tầm quan trọng của việc đọc sách đối với việc tiếp thu kiến thức, kỹ năng, phát triển tư duy, giáo dục và rèn luyện nhân cách con người; nâng cao trách nhiệm của các cấp, các ngành, các cơ quan chức năng và các tổ chức xã hội đối với việc xây dựng và phát triển văn hóa đọc Việt Nam...
Kế thừa những thành công sau 10 năm triển khai Ngày Sách tại Thư viện Quốc gia Việt Nam, Ngày Hội Sách 2016 được tổ chức với nhiều hoạt động phong phú; người tham dự có cơ hội gặp gỡ, giao lưu, trao đổi, tiếp xúc với các tác giả, nhà phê bình văn học, nhà sử học, người làm thư viện, bạn đọc... trong chuỗi những hoạt động mang ý nghĩa xã hội và giáo dục như:
(1) Triển lãm tư liệu “Sách - Hội nhập, Đổi mới, Phát triển”: Giới thiệu các tư liệu được xuất bản từ sau năm 1986 về quá trình hội nhập, đổi mới và phát triển của Việt Nam trên các lĩnh vực văn hóa, xã hội, kinh tế, khoa học, kỹ thuật, y tế, giáo dục, an ninh quốc phòng...
(2) Giao lưu tác giả - tác phẩm: Với các diễn giả: Nhà sử học Dương Trung Quốc - Đại biểu Quốc hội, Tổng Thư ký Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam; PGS.TS. Nguyễn Hữu Sơn – Phó Viện trưởng Viện Văn học; GS.TS. NGND Nguyễn Lân Dũng; tác giả Trần Hùng John; TS. Giáo dục Thuỵ Anh; Nhà thơ, nhà báo Hữu Việt giới thiệu, trao đổi về một số tác phẩm đạt giải thưởng của Hội Xuất bản Việt Nam như: Phạm Phú Thứ toàn tập, John đi tìm Hùng, Bộ sách cổ tích mới...
Khách tham dự được tham gia rút thăm may mắn nhận 02 vé khứ hồi Hà Nội-Istabul do Turkist Airlines tài trợ (có điều kiện áp dụng);
(3) Lễ trao giải thưởng Sách Việt Nam lần thứ 11 – năm 2015: Giải thưởng do Hội Xuất bản Việt Nam tổ chức, với sự tham gia của đông đảo các nhà xuất bản và hàng trăm cuốn sách đăng ký dự xét giải. Các hạng mục giải thưởng gồm: Giải Sách hay, Giải Sách đẹp năm 2015 tập trung vào các mảng sách: Khoa học xã hội và nhân văn, Khoa học - Công nghệ, Thiếu nhi…;
(4) Thi đọc sách và cảm nhận về sách: Hướng dẫn kỹ năng đọc sách cho bé; Thi đọc sách và cảm nhận hay nhất về các tác phẩm trong Bộ sách cổ tích mới.
(5) Thi vẽ tranh theo sách: Thông qua trí tưởng tượng và nét vẽ của các bạn nhỏ, các nhân vật trong truyện cổ tích, cảnh đẹp quê hương, đất nước và Việt Nam đang hội nhập quốc tế, đổi mới, phát triển không ngừng sẽ được thể hiện trong các bức vẽ;
(6) Thi sáng tạo sản phẩm theo chủ đề: Học, chơi, sáng tạo và thực hành tạo ra các sản phẩm thủ côngvới nhiều chủ đề: lịch sử, văn hóa, danh thắng và Việt Nam đổi mới và hội nhập;
(7) Thi kể chuyện theo sách (bằng tiếng Việt, tiếng Anh): Sử dụng phương pháp kể chuyện, các em thiếu nhi sẽ tái hiện những câu chuyện vềtấm gương tiêu biểu của con người Việt Nam trong lao động, học tập, đấu tranh bảo vệ và dựng xây đất nước, về tình thầy trò và tình cảm gia đình, bạn bè; qua đó ngợi ca tình yêu với quê hương đất nước, truyền thống tôn sư trọng đạo, uống nước nhớ nguồn, tôn vinh lòng vị tha, nhân ái, tính khiêm tốn, học hỏi, tinh thần hợp tác và giúp đỡ lẫn nhau, chia sẻ khó khăn với những người xung quanh.
(8) Thi nhận diện tác giả, tác phẩm:Giới thiệu các tác phẩm tiêu biểu với công chúng để người tham gia nhận diện tên tác giả, tác phẩm về lịch sử, văn hóa-văn học Việt Nam và thế giới;
(9) Trò chơi – đố vui: Người chơi sẽ được thử sức với các trò chơi vận động, trả lời các câu đố vui hài hước, thú vị trên nhiều lĩnh vực;
(10) Tiếp nhận tài trợ từ các cơ quan, tổ chức, cá nhân: Quyên góp, tiếp nhận sách tài trợ của các tổ chức, cá nhân... để hỗ trợ các thư viện vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo trong cả nước;
(11) Hội chợ sách: Với sự tham gia gian hàng bán sách giá ưu đãi của một số nhà xuất bản, nhà sách với hàng ngàn tên sách có nội dung phong phú, quà tặng hấp dẫn...
4/20/2016 10:00 AMĐã ban hành/Shared Documents/2016-04/2016-04-11-nhs-07.jpg
Niên giám Thống kê 2016Niên giám Thống kê 2016
Niên giám Thống kê là ấn phẩm được Tổng cục Thống kê, Bộ Kế hoạch và Đầu tư xuất bản hàng năm, bao gồm những số liệu thống kê cơ bản phản ánh khái quát động thái và thực trạng kinh tế - xã hội của cả nước, của các vùng, các địa phương.
9/18/2018 10:00 AMĐã ban hành/Shared Documents/2018-09/Photo_Download.jpg
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HỆ THỐNG THƯ VIỆN CÔNG CỘNGNÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HỆ THỐNG THƯ VIỆN CÔNG CỘNG

Nâng cao chất lượng hệ thống thư viện công cộng

Xã hội ngày càng phát triển, nhu cầu hưởng thụ văn hóa của con người cũng từng bước được nâng cao. Một trong số đó là nhu cầu tìm kiếm thông tin phục vụ cho công việc, học tập cũng như cuộc sống hàng ngày. Bởi lẽ đó, thư viện công cộng với mục tiêu cuối cùng là đáp ứng đầy đủ nhu cầu thông tin của bạn đọc đã và đang đóng một vai trò đặc biệt quan trọng trong sự phát triển của văn hóa - xã hội.

Thư viện là một thiết chế văn hóa có nhiệm vụ rất quan trọng trong việc sưu tầm, thu thập, lưu trữ, bảo quản lâu dài các xuất bản phẩm dân tộc nhằm phục vụ việc đọc và học tập suốt đời của người dân. Việc duy trì và phát triển hệ thống thư viện công cộng luôn là chủ trương của Đảng và Nhà nước, là hệ thống "xương sống" của hệ thông thư viện cả nước, được tổ chức theo đơn vị lãnh thổ nhằm tạo hành lang pháp lý cho các địa phương có căn cứ và cơ sở để tiến hành tổ chức, phát triển mạng lưới thư viện công cộng của địa phương. Sự cần thiết của thư viện công cộng Đất nước ta đang trong quá trình hội nhập quốc tế với việc đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước.

Để rút ngắn khoảng cách, nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế, con đường duy nhất của chúng ta là khai thác triệt để nguồn thông tin khoa học phong phú trên thế giới, vận dụng một cách sáng tạo vào thực tiễn của Việt Nam. Đảm bảo thông tin cho các tầng lớp nhân dân là sứ mạng của hệ thống các cơ quan thông tin – thư viện Việt Nam, trong đó có hệ thống thư viện công cộng. Những năm gần đây, hoạt động của Hệ thống thư viện công cộng nước ta đã có những bước phát triển vững chắc cả về số lượng và chất lượng.

Mạng lưới thư viện công cộng được mở rộng từ trung ương đến các tỉnh, thành phố, quận, huyện, xã phường.  Hướng tới đối tượng phục vụ đa dạng, nhiệm vụ của thư viện công cộng lại càng trở nên khó khăn và phức tạp hơn bao giờ hết. Có nhiệm vụ thỏa mãn nhu cầu thông tin của mọi tầng lớp nhân dân, trong đó chủ yếu là những người lao động và chuẩn bị tham gia lao động. Nhu cầu thông tin của họ gắn bó chặt chẽ với hoạt động lao động sản xuất. Khi nhu cầu thông tin của họ được thỏa mãn đầy đủ, đồng nghĩa với năng suất lao động xã hội có điều kiện được nâng cao hơn. Như vậy, thư viện công cộng chính là một trong những kênh thông tin quan trọng và thuận lợi giúp cho các tầng lớp nhân dân trong nước tiếp cận đến những nguồn thông tin phù hợp nhất với nhu cầu của họ, qua đó góp phần tích cực vào phát triển sản xuất, làm phong phú hơn đời sống tinh thần của mỗi người dân. Thư viện công cộng còn là nơi tổ chức các hoạt động sinh hoạt văn hóa, tuyên truyền phổ biến kiến thức về các loại hình nghệ thuật, là nơi gặp gỡ của các nhà văn, nhà thơ, các câu lạc bộ địa phương; góp phần giáo dục thẩm mỹ, xóa nạn mù chữ ở nhiều địa phương; đồng thời là công cụ hữu hiệu hỗ trợ việc tự học của mỗi cá nhân, củng cố thói quen đọc sách của mỗi người, đặc biệt là thế hệ trẻ. Bên cạnh đó, với lượng thông tin phong phú và có hệ thống, thư viện công cộng sẽ cung cấp cho người dân những tri thức phục vụ cuộc sống, góp phần nâng cao nhận thức, tuyên truyền văn hóa và những thành tựu khoa học làm giàu cho đời sống tinh thần của mỗi người. Nâng cao chất lượng hệ thống thư viện công cộng Đóng vai trò vô cùng quan trọng trong đời sống văn hóa – xã hội, việc đẩy mạnh và nâng cao chất lượng của hệ thống thư viện công cộng là vô cùng cần thiết. Trước tiên, cần cải tiến các hình thức phục vụ trong thư viện theo hướng chất lượng và đa dạng hơn, phù hợp với tâm lý và tập quán của người dùng tin nhằm tạo điều kiện cho moi người dân Việt nam, từ miền núi đến đồng bằng, từ thành thị đến nông thôn đều có cơ hội tiếp cận và sử dụng tài liệu của thư viện công cộng. Để thoả mãn nhu cầu tin của người đọc, những năm gần đây ngoài việc duy trì và nâng cao chất lượng dịch vụ đọc và mượn tài liệu, các thư viện cần phát triển nhiều dạng dịch vụ như dịch vụ tra cứu, tham khảo số, cung cấp thông tin chọn lọc, tra cứu trực tuyến, sử dụng tài liệu điện tử với các CSDL toàn văn (tài liệu số hoá), nhân bản tài liệu, khai thác internet, giải đáp thông tin qua điện thoại,… Việc nâng cao chất lượng công tác phục vụ người đọc của người cán bộ thư viện cũng đóng vai trò không nhỏ. Cán bộ thư viện là lực lượng chủ chốt trong việc xây dựng phong trào đọc sách ở cơ sở và phong trào làm theo sách "người tốt, việc tốt", "làm theo sách khoa học kỹ thuật".

Công tác đào tạo cán bộ thư viện cần tập trung vào đào tạo chuẩn các kỹ năng:  Nhận dạng đúng các yêu cầu tin; truy cập thông tin có hiệu quả và đúng theo pháp lý; đánh giá thông tin và nguồn tin có phê phán; hiểu được các vấn đề về văn hoá, chính trị, xã hội, pháp lý và kinh tế trong việc sử dụng thông tin; có kỹ năng giao tiếp hiệu quả với đa dạng nhóm người dùng tin; có khả năng tra cứu thông tin trên mạng, sử dụng thành thạo các công cụ tham khảo, bao quát được các nguồn tin; có khả năng giải quyết các tình huống trong quá trình phục vụ người đọc. Có như vậy, họ mới thực sự trở thành người hướng dẫn, tư vấn cho người dân một cách hiệu quả nhất. Bên cạnh đó, các cơ quan trung ương và chính quyền địa phương cần triển khai những giải pháp hợp lý để đầu tư có hiệu quả việc phát triển cơ sở của hệ thống thư viện tại mỗi cơ sở thông qua việc đầu tư các trang bị cần thiết như: kệ sách, tủ, máy tính, mạng internet,…để góp phần thúc đẩy việc đáp ứng nhu cầu tìm kiếm thông tin của người đọc một cách nhanh chóng và thuận tiện nhất.

 Hy vọng rằng, với sự quan tâm và đầu tư đúng đắn của chính quyền và nhà nước, trong những năm tới, hệ thống thư viện công cộng tại nước ta sẽ ngày càng phát triển cả về chất lượng và số lượng. Có như thế, thư viện công cộng mới thực sự trở thành "xương sống" của hệ thống thư viện cả nước, góp phần hỗ trợ đắc lực cho công tác quản lý của nhà nước, vì một xã hội phát triển toàn diện, vững mạnh.

(theo http://vanhoa.gov.vn/)​


10/27/2016 10:00 AMĐã ban hành/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
KẾT QUẢ TỔNG ĐIỀU TRA KINH TẾ NĂM 2017KẾT QUẢ TỔNG ĐIỀU TRA KINH TẾ NĂM 2017
10/30/2018 10:00 AMĐã ban hành/Shared Documents/2018-10/Photo_Download (1).jpg
Ngày Hội Sách năm 2019 tại Thư viện Quốc gia Việt NamNgày Hội Sách năm 2019 tại Thư viện Quốc gia Việt Nam
Với chủ đề "Sách - Kết nối tri thức và phát triển", Ngày Hội Sách năm 2019 sẽ được tổ chức vào ngày 19/4 tới, tại Thư viện Quốc gia Việt Nam - 31 Tràng Thi, Hà Nội

Ngày Hội Sách năm nay tiếp tục được tổ chức nhằm tôn vinh giá trị của sách, khẳng định vai trò, vị trí, tầm quan trọng của sách trong đời sống xã hội; tôn vinh những người làm công tác sưu tầm, sáng tác, xuất bản, in, phát hành, lưu giữ, quảng bá sách; khuyến khích và phát triển phong trào đọc sách trong cộng đồng; qua đó nâng cao nhận thức của nhân dân về ý nghĩa to lớn và tầm quan trọng của việc đọc sách đối với việc tiếp thu kiến thức, kỹ năng, phát triển tư duy, giáo dục và rèn luyện nhân cách con người; đồng thời nâng cao trách nhiệm của các cấp, các ngành, các cơ quan chức năng và các tổ chức xã hội đối với việc xây dựng và phát triển văn hóa đọc Việt Nam.

Ngày Hội Sách 2019 bao gồm nhiều hoạt động như: Triển lãm tư liệu "Sách - Kết nối tri thức và phát triển": Trưng bày các tư liệu với nội dung giới thiệu về quá trình hình thành và phát triển tri thức thông qua các học thuyết, các phát minh, sáng chế vĩ đại; về tinh hoa tri thức nhân loại, các nền văn hóa, văn minh và những điều bí ẩn của giới tự nhiên cùng những khám phá của con người; về sự kết nối của tri thức từ quá khứ, hiện tại với tương lai, tạo tiền đề cho phát triển và mang lại nhiều thành tựu trong các lĩnh kinh tế, văn hóa, xã hội, khoa học và công nghệ…

Giao lưu tác giả - tác phẩm: Giới thiệu đến bạn đọc những cuốn sách tiêu biểu, mang tính giáo dục, định hướng cao của các nhà xuất bản. Giao lưu cùng tác giả - Họa sĩ Trang Thanh Hiền và giới thiệu cuốn sách Tranh tết "Nét tinh hoa truyền thống Việt"; giao lưu cùng tác giả - Giáo sư, tiến sĩ Thái Kim Lan và ra mắt cuốn sách "Mai này mưa tạnh trong Xuân" của Nhà xuất bản Kim Đồng.

Bên cạnh đó, Ban tổ chức còn tổ chức thi vẽ tranh theo sách với chủ đề "Hà Nội - Thành phố vì hòa bình". Các di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh, công trình kiến trúc... của Thủ đô sẽ được thể hiện lại trong các bức tranh, thông qua nét vẽ và sự tưởng tượng của các em thiếu nhi.

Thi kể chuyện theo sách bằng tiếng Việt và tiếng Anh. Những câu chuyện về lịch sử, văn hoá, văn học Việt Nam và thế giới sẽ được giáo viên và học sinh các trường phổ thông tái hiện lại thông qua hình thức kể chuyện bằng tiếng Việt, tiếng Anh.

Ngoài ra còn tổ chức thi nhận diện tác giả, tác phẩm: Các câu hỏi để nhận diện tác giả, tác phẩm, nhân vật và danh thắng sẽ mang đến cho người tham dự những góc nhìn thú vị về các tác phẩm văn học trong nhà trường… Với sự tham gia của một số nhà xuất bản, nhà sách, tại Hội Sách sẽ giới thiệu hàng ngàn tên sách có nội dung phong phú, giá bán ưu đãi, quà tặng hấp dẫn.

Ban tổ chức cũng sẽ tiếp nhận tài trợ từ các cơ quan, tổ chức, cá nhân... để hỗ trợ các thư viện vùng sâu, vùng xa, thư viện còn gặp nhiều khó khăn./.​

4/19/2019 10:00 AMĐã ban hành/Shared Documents/2019-04/2019-04-08-nhs2019-3.jpg
Sách trắng doanh nghiệp Việt Nam năm 2019Sách trắng doanh nghiệp Việt Nam năm 2019
12/3/2019 3:00 PMĐã ban hành/Shared Documents/2019-12/Photo_Download (1).jpg
THÔNG BÁO SÁCH MỚI QUÝ II TẠI THƯ VIỆNTHÔNG BÁO SÁCH MỚI QUÝ II TẠI THƯ VIỆN

1Tổ chức và hoạt động của văn phòng Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính Phủ
2Phát triển nhanh và bền vững nền kinh tế Việt Nam ( thời kì 2011-2020)
3Managing Flow. A Process Theory of Knowledge- Based Firm
4Messages for the 21st century
5Kỷ yếu hội thảo diễn đàn kinh tế Việt – Pháp
6Những lữ khách Ý trong hành trình khám phá Việt Nam
7Legal documents on investment and enterprises
8Hệ thống ngành kinh tế Việt Nam 2007
9Một số văn bản pháp luật về đầu tư và doanh nghiệp
10Results – based final report for implementation of the five- year socio-economic development plan 2006-2010
11Báo cáo nghiên cứu đánh giá cuối kỳ dựa trên kết quả tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2006/2010
12Kinh tế- xã hội môi trường Việt Nam (2011-2015)
13Niêm giám tổ chức hành chính Việt Nam 2009
14Tổng quan kinh tế - xã hội Việt Nam (2006-2010)
15Danh mục các đơn vị hành chính Việt Nam 2010
16Chia sẻ kinh nghiệm phát triển của Hàn Quốc với Việt Nam tập 2
17Hoạt động của doanh nghiệp, việc làm và nghèo đói của hộ gia đình trong bối cảnh suy giảm kinh tế ở Việt Nam
18Firm's operation, employment  and poverty during the economic slowdown period
19Project Establishing the Master Plan for Vietnam Green Growth Strategy
20Achievements and Challenges in the progress of reaching millennium development goals of  Vietnam
21

Thành tựu và thách thức trong quá trình thực hiện mục tiêu phát triển thiên niên kỷ cua Việt Nam

 

22Báo cáo nghiên cứu:  Tác động của biến đổi cơ cấu tuổi dân số đến tăng trưởng kinh tế Việt Nam và các đề xuất chính sách
23Sổ tay hướng dẫn sử dụng phương pháp "tài khoản chuyển nhượng quốc gia" (NTA)
24Hội nghị công bố báo cáo nghiên cứu " Tác động của biến đổi cơ cấu tuổi dân số đến tăng trưởng kinh tế Việt Nam và các đề xuất chính sách"
25Tập bản đồ các sông thuộc lưu vực sông Hồng- Thái Bình và các tỉnh Bắc Bộ
26

Regional Economic Outlook

Asia and Pacific. Building on Asia's Strengths during Turbulent Times

27Vietnam national Green Growth from Strategy to Action plan
28Xuất, nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam giai đoạn 2005-2015 với các nước thành viên TPP
29Niên giám tổ chức hành chính thống kê năm 2014
30Điều tra biến động dân số và kế hoạch hóa gia đình 1/4/2010. Các kết quả chủ yếu
31Population change and family planning survey 1/4/2010
32Hệ thống chỉ tiêu thống kê Quốc gia. Danh mục và nội dung chỉ tiêu
33Whitebook 2015. Trade/ Investment issues and Recommendations
34Làm gì cho Tổ Quốc Việt Nam
35Báo cáo điều tra lao động và việc làm Việt Nam năm 2010
36Xuất nhập khẩu hàng hóa 2009
37Báo cáo phát triển con người 2007/2008
38Human Development Report 2006
39Human Development Report 2010
40Report on the 2010 Vietnam Labour Force Survey

​ 

10/27/2016 10:00 AMĐã ban hành/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
Giới thiệu nguyên tắc biên mục quốc tế mớiGiới thiệu nguyên tắc biên mục quốc tế mới
Tuyên bố về nguyên tắc biên mục quốc tế
Dẫn nhập
Tuyên bố về Nguyên tắc, thường được gọi là “Nguyên tắc Pari”, được thông qua tại Hội nghị Quốc tế về Nguyên tắc Biên mục năm 1961 . Mục tiêu đặt cơ sở cho việc chuẩn hoá quốc tế về biên mục của Nguyên tắc chắc chắn đã đạt được bởi hầu hết các quy tắc biên mục được phát triển trên thế giới từ đó đến nay đã tuân thủ Nguyên tắc một cách chặt chẽ hoặc ở mức độ cao.
Hơn bốn mươi năm sau, việc xây dựng một tập hợp chung những quy định biên mục mới trở nên cấp thiết hơn cho các nhà biên mục và khách hàng sử dụng mục lục công cộng truy cập trực tuyến (OPAC) trên khắp thế giới. Hiện nay, khi bắt đầu Thế kỷ 21, IFLA đã nỗ lực để đưa ra một tuyên bố mới về nguyên tắc có thể áp dụng cho các mục lục thư viện trực tuyến và cả bên ngoài chúng. Nguyên tắc đầu tiên là đảm bảo sự thuận tiện cho người sử dụng mục lục.
Tuyên bố này thay thế và mở rộng phạm vi của Nguyên tắc Pari từ chỉ áp dụng cho các tác phẩm văn bản sang cho mọi dạng tài liệu và từ chỉ về lựa chọn và hình thức của phiếu thư mục sang mọi khía cạnh của dữ liệu thư mục và dữ liệu kiểm soát nhất quán được sử dụng trong các mục lục thư viện. Nó bao gồm không chỉ những nguyên tắc và mục tiêu (chức năng của mục lục) mà cả những nguyên tắc chỉ đạo cần đưa vào trong những quy tắc biên mục quốc tế cũng như những hướng dẫn về khả năng tìm và tìm hồi cố.
Tuyên bố này bao gồm:
1. Phạm vi
2. Các nguyên tắc chung
3. Thực thể, thuộc tính và quan hệ
4. Mục tiêu và chức năng của mục lục
5. Bản mô tả thư mục
6. Các điểm truy cập
7. Cơ sở cho khả năng tìm kiếm
Tuyên bố này được xây dựng dựa trên truyền thống biên mục vững chắc của thế giới [1]. và trên mô hình khái niệm Yêu cầu Chức năng của Biểu ghi Thư mục (FRBR) của IFLA [2].
Hy vọng rằng Tuyên bố này sẽ tăng cường sự chia sẻ quốc tế dữ liệu thư mục và dữ liệu kiểm soát nhất quán, và hướng những người tạo ra các quy tắc biên mục tới những nỗ lực phát triển một quy tắc biên mục quốc tế.
1. Phạm vi
Những nguyên tắc được nêu ở đây nhằm định hướng việc phát triển những quy tắc biên mục. Chúng áp dụng cho dữ liệu thư mục và dữ liệu kiểm soát nhất quán và những mục lục thư viện hiện nay. Những nguyên tắc này cũng được áp dụng cho các mục lục và những tệp dữ liệu khác do các thư viện, lưu trữ, bảo tàng và những cộng đồng khác tạo ra.
Chúng có mục đích cung cấp cách tiếp cận nhất quán về biên mục mô tả và biên mục chủ đề cho mọi loại tài nguyên thư mục.
2. Những nguyên tắc chung
Một số nguyên tắc định hướng việc xây dựng các quy tắc biên mục [3].. Nguyên tắc cao nhất là sự thuận tiện cho người sử dụng [4]..
2.1. Sự thuận tiện cho người sử dụng. Các quyết định trong việc lập mô tả và các hình thức có kiểm soát của tên cho việc truy cập cần được thực hiện với sự cân nhắc về người sử dụng.
2.2. Tính sử dụng đại chúng. Từ vựng sử dụng trong mô tả và truy cập cần phù hợp với đa số người sử dụng.
2.3. Tính đại diện. Những mô tả và các hình thức có kiểm soát của tên cần được dựa trên cách thức mà chính thực thể sử dụng để mô tả bản thân.
2.4. Tính chính xác. Thực thể được mô tả cần được miêu tả một cách trung thành.
2.5. Tính đầy đủ và cần thiết. Chỉ nên đưa vào mô tả và vào hình thức có kiểm soát của tên để truy cập những yếu tố dữ liệu cần thiết để thực hiện các yêu cầu của người sử dụng và những yếu tố dữ liệu thiết yếu để phân biệt một cách đặc thù thực thể.
2.6. Sự quan trọng. Những yếu tố dữ liệu cần có giá trị về thư mục.
2.7. Tính kinh tế. Khi có những cách thức lựa chọn khác nhau để đạt được mục tiêu, cần ưu tiên chọn cách thức kinh tế nhất (chi phí thấp nhất hoặc cách tiếp cận đơn giản nhất).
2.8. Tính nhất quán và chuẩn hoá. Các bản mô tả và việc xây dựng các điểm truy cập cần được chuẩn hoá đến mức tối đa. Điều này đảm bảo sự nhất quán hơn, từ đó nâng cao khả năng chia sẻ dữ liệu thư mục và dữ liệu kiểm soát nhất quán.
2.9. Tính tích hợp. Những mô tả cho các dạng tài liệu và các hình thức có kiểm soát của tên của mọi loại thực thể cần dựa trên tập hợp những quy tắc chung khi phù hợp.
Những quy định trong quy tắc biên mục cần phải được xem xét và tránh cứng nhắc. Có thể nhận thấy rằng một số nguyên tắc có thể mâu thuẫn với nhau trong một vài tình huống đặc thù và cần có giải pháp được xem xét và thực tế.
3. Thực thể, thuộc tính và quan hệ
Một quy tắc biên mục cần xem xét các thực thể, thuộc tính và quan hệ như định nghĩa trong các mô hình khái niệm của thế giới thư mục [5]..
3.1. Thực thể
Những thực thể sau đây có thể được thể hiện bởi dữ liệu thư mục và dữ liệu kiểm soát nhất quán:
Tác phẩm Biểu hiện Biểu thị
Tài liệu [6].
           Cá nhân Dòng họ Tập thể [7].
Khái niệm
Đối tượng Sự kiện
Địa điểm [8]..
3.2. Thuộc tính
Các thuộc tính định danh thực thể cần được sử dụng làm những yếu tố dữ liệu.
3.3. Quan hệ
Những quan hệ có giá trị về thư mục giữa các thực thể cần được xác định.
4. Mục tiêu và Chức năng của mục lục [9].
Mục lục cần phải là công cụ hiệu quả và hiệu suất để giúp người sử dụng:
4.1. Tìm ra tài nguyên thư mục trong một sưu tập do kết quả của việc tìm tin sử dụng những thuộc tính hoặc quan hệ của tài nguyên:
4.1.1. Tìm ra một tài nguyên đơn lẻ
4.1.2. Tìm ra một tập hợp các tài nguyên đại diện cho
mọi tài nguyên thuộc về cùng một tác phẩm mọi tài nguyên thể hiện cùng một biểu hiện mọi tài nguyên đại diện cùng một biểu thị
mọi tài nguyên liên kết với một cá nhân, dòng họ hoặc tập thể
mọi tài nguyên về một chủ đề
mọi tài nguyên được xác định theo những tiêu chí khác (ngôn ngữ, nơi xuất bản, ngày xuất bản, loại nội dung, loại vật đựng, v.v...), thường là những yếu tố phụ để thu hẹp kết quả tìm tin;
4.2. Định danh một tài nguyên hoặc chủ thể (nghĩa là giúp khẳng định rằng thực thể được mô tả tương ứng với thực thể được chọn ra hoặc để phân biệt giữa hai hoặc nhiều thực thể có những đặc điểm tương tự);
4.3. Lựa chọn ra tài nguyên phù hợp với nhu cầu của người sử dụng (nghĩa là để chọn ra một tài nguyên thỏa mãn yêu cầu của người sử dụng về vật mang tin, nội dung, vật đựng, v.v..., hoặc để loại ra tài nguyên không phù hợp với nhu cầu của người sử dụng);
4.4. Có được hoặc nhận được sự truy cập đến tài liệu được mô tả (nghĩa là cung cấp thông tin giúp người sử dụng có được tài liệu thông qua việc mua, cho mượn, v.v... hoặc truy cập tài liệu theo phương thức điện tử thông qua kết nối trực tuyến đến tài nguyên từ xa); hoặc để truy cập, có được hoặc nhận được dữ liệu kiểm soát nhất quán hoặc dữ liệu thư mục;
4.5. Chuyển hướng trong mục lục hoặc bên ngoài khuôn khổ đó (nghĩa là thông qua sự sắp xếp lôgic của dữ liệu thư mục, dữ liệu kiểm soát nhất quán và sự trình bày của các đường liên kết rõ ràng, bao gồm cả sự trình bày mối quan hệ giữa các tác phẩm, biểu hiện, biểu thị, tài liệu, cá nhân, dòng họ, tập thể, khái niệm, đối tượng, sự kiện và địa điểm).
5. Bản mô tả thư mục
5.1. Nói chung, tạo một bản mô tả thư mục cho mỗi một biểu thị.
5.2. Về cơ bản, bản mô tả thư mục cần được dựa trên một tài liệu là đại diện của biểu thị và có thể bao gồm những thuộc tính gắn liền với tác phẩm và biểu hiện liên quan.
5.3. Dữ liệu mô tả cần dựa trên những chuẩn được quốc tế chấp nhận [10].
5.4. Những mô tả có thể ở một vài cấp độ chi tiết phụ thuộc vào mục đích của mục lục hoặc tệp dữ liệu thư mục. Thông tin về cấp độ chi tiết cần được thông báo đến đến người sử dụng.
6. Điểm truy cập
6.1. Phần chung
Các điểm truy cập cho việc tìm hồi cố dữ liệu thư mục và dữ liệu kiểm soát nhất quán cần được lập theo những nguyên tắc chung dưới đây (xem 2. Những nguyên tắc chung). Các điểm truy cập có thể kiểm soát hoặc không kiểm soát.
6.1.1. Những điểm truy cập có kiểm soát cần được tạo lập cho những hình thức cho phép hoặc hình thức khác của tên cho những thực thể là cá nhân, dòng họ, tập thể, tác phẩm, biểu hiện, biểu thị, tài liệu, khái niệm, đối tượng, sự kiện và địa điểm. Những điểm truy cập có kiểm soát cung cấp sự nhất quán cần thiết để sắp xếp vào một chỗ các biểu ghi thư mục cho những tập hợp các tài nguyên.
6.1.1.1. Những biểu ghi kiểm soát nhất quán cần được được tạo lập để kiểm soát những hình thức cho phép của tên, hình thức khác của tên và những mã định danh được sử dụng làm điểm truy cập.
6.1.2.   Những điểm truy cập không kiểm soát có thể được cung cấp làm dữ liệu thư mục cho tên, nhan đề (thí dụ nhan đề chính tìm thấy trên biểu thị), các mã, từ khóa, v.v... không được kiểm soát trong biểu ghi kiểm soát nhất quán.
6.2. Lựa chọn điểm truy cập
6.2.1. Đưa vào điểm truy cập cho biểu ghi thư mục những điểm truy cập có kiểm soát cho tác phẩm và biểu thị (có kiểm soát) của tài nguyên, nhan đề của biểu thị (thường không kiểm soát) và những điểm truy cập có kiểm soát cho những sáng tác viên của tác phẩm.
6.2.1.1. Tập thể là sáng tác viên: Một tập thể phải được coi như là sáng tác viên của những tác phẩm mà nó thể hiện tư duy hoặc hoạt động tập thể của tập thể, hoặc khi trật tự từ ngữ trong nhan đề được lập trên cơ sở bản chất của tác phẩm cho thấy rằng tập thể chịu trách nhiệm về nội dung của tác phẩm. Điều này được áp dụng ngay cả khi một cá nhân ký xác nhận tác phẩm theo thẩm quyền là quan chức hoặc nhân viên của tập thể đó.
6.2.2.   Ngoài ra, các điểm truy cập cần được lập cho các biểu ghi thư mục của điểm truy cập cho phép về cá nhân, dòng họ, tập thể và chủ đề được cho là quan trọng trong việc tìm và định danh tài nguyên thư mục đang mô tả.
6.2.3.   Đưa hình thức cho phép của tên của thực thể cũng như những hình thức khác của tên làm điểm truy cập đến biểu ghi kiểm soát nhất quán.
6.2.4. Việc truy cập bổ sung có thể được thực hiện thông qua tên của các thực thể liên quan.
6.3. Điểm truy cập cho phép
Điểm truy cập cho phép đối với tên của một thực thể cần được nhập vào một biểu ghi kiểm soát nhất quán cùng với những mã định danh cho thực thể và những hình thức khác của tên. Có thể cần có một hình thức hiển thị ngầm định cho điểm truy cập cho phép.
6.3.1. Điểm truy cập cho phép cần được lập tuân thủ một tiêu chuẩn.
6.3.2. Ngôn ngữ và chữ viết của điểm truy cập cho phép.
6.3.2.1. Khi tên được thể hiện bằng một vài ngôn ngữ và/hoặc chữ viết, cần dành ưu tiên cho điểm truy cập cho phép theo tên được dựa trên thông tin tìm thấy trên biểu thị của tác phẩm được thể hiện bằng ngôn ngữ và chữ viết gốc;
6.3.2.1.1. Nhưng nếu ngôn ngữ và chữ viết gốc không được sử dụng thông thường trong mục lục, điểm truy cập cho phép có thể được lập dựa trên những hình thức tìm thấy trên biểu thị hoặc trong các nguồn tra cứu thể hiện bằng một trong những ngôn ngữ hoặc chữ viết phù hợp nhất cho người sử dụng mục lục.
6.3.2.1.2. Điểm truy cập bằng ngôn ngữ và chữ viết gốc cần được cung cấp bất cứ khi nào có thể, thông qua một điểm truy cập cho phép hoặc theo hình thức cho phép của tên hoặc hình thức khác của tên.
6.3.2.2. Nếu việc chuyển tự là cần thiết, cần tuân thủ chuẩn quốc tế về chuyển tự.
6.3.3. Lựa chọn điểm truy cập cho phép
Tên được ưu tiên làm điểm truy cập cho phép cho thực thể cần được dựa vào tên dùng để định danh thực thể một cách nhất quán và là tên thường gặp nhất trên những biểu thị hoặc tên được chấp nhận rộng rãi phù hợp với người sử dụng mục lục (thí dụ, tên thông dụng) thấy trong những nguồn tham khảo.
6.3.3.1. Lựa chọn điểm truy cập cho cá nhân, dòng họ và tập thể
Nếu một cá nhân, dòng họ hoặc một tập thể sử dụng những tên khác nhau hoặc những hình thức khác của tên, cần chọn một tên hoặc một hình thức của tên làm cơ sở cho điểm truy cập cho phép cho mỗi định danh riêng biệt.
6.3.3.1.1. Khi những hình thức khác của tên được tìm thấy trên biểu thị và/hoặc các nguồn tra cứu và sự khác biệt này không dựa trên sự trình bày khác nhau của cùng một tên (thí dụ, dạng đầy đủ và dạng rút gọn), cần ưu tiên:
6.3.3.1.1.1. Tên hay được biết đến nhất (hoặc còn gọi là "tên thông thường") thay cho tên chính thức nếu được chỉ định; hoặc
6.3.3.1.1.2 . Tên chính thức, khi không có chỉ định về tên hay được biết đến nhất hoặc tên thông dụng.
6.3.3.1.2. Nếu một tập thể sử dụng trong những giai đoạn kế tiếp nhau những tên khác nhau nhưng không thể coi đó là những thay đổi nhỏ của một tên, thì mỗi thực thể được định danh bởi một thay đổi tên quan trọng cần được coi là một thực thể mới. Dữ liệu chuẩn tương ứng đối với mỗi thực thể cần được liên kết bằng cách liên hệ hình thức có kiểm soát cũ và mới của tên đối với tập thể đó.
6.3.3.2. Lựa chọn điểm truy cập cho phép cho Tác phẩm và Biểu hiện
Khi một tác phẩm có nhiều nhan đề, ưu tiên chọn một nhan đề làm cơ sở cho điểm truy cập cho phép cho tác phẩm/biểu thị.
6.3.4. Hình thức của tên cho các điểm truy cập cho phép
6.3.4.1. Hình thức của tên cá nhân
Khi tên của một cá nhân bao gồm một số từ, việc lựa chọn từ đầu tiên cho điểm truy cập cho phép cần tuân thủ cách thức sử dụng thông dụng của nước và ngôn ngữ liên quan nhiều nhất với cá nhân đó như thấy trên biểu thị hoặc nguồn tra cứu.
6.3.4.2. Hình thức của tên cho dòng họ
Khi tên của một dòng họ bao gồm một số từ, việc lựa chọn từ đầu tiên cho điểm truy cập cho phép cần tuân thủ cách thức sử dụng thông dụng của nước và ngôn ngữ liên quan nhiều nhất với dòng họ đó như thấy trên biểu thị hoặc nguồn tra cứu.
6.3.4.3. Hình thức tên tập thể
Về điểm truy cập chuẩn cho tập thể, tên cần được ghi theo trật tự thuận như thấy trên biểu thị hoặc trong những nguồn tra cứu, trừ trường hợp
6.3.4.3.1. Khi tập thể là một bộ phận của một pháp quyền hoặc chính quyền của một lãnh thổ, cần đưa vào điểm truy cập cho phép hình thức tên đang sử dụng của lãnh thổ liên quan bằng ngôn ngữ và chữ viết phù hợp nhất với nhu cầu của người sử dụng mục lục;
6.3.4.3.2. Khi tên tập thể cho phép hiểu đây là đơn vị trực thuộc hoặc đơn vị chức năng trực thuộc, hoặc không đủ để định danh tập thể trực thuộc, điểm truy cập cho phép cần bắt đầu bằng tên của tổ chức cấp trên.
6.3.4.4. Hình thức tên của tác phẩm/biểu thị
Điểm truy cập cho phép cho tác phẩm, biểu hiện, biểu thị hoặc tài liệu có thể là nhan đề đứng độc lập hoặc có thể là nhan đề kết hợp với điểm truy cập cho phép cho sáng tác viên của tác phẩm.
6.3.4.5. Phân biệt các tên
Nếu cần thiết, để phân biệt một thực thể này với một thực thể khác có cùng tên, những đặc trưng định danh khác cần được đưa vào điểm truy cập cho phép cho thực thể. Nếu cần thiết, những đặc trưng định danh nói trên cũng có thể được đưa vào như là điểm truy cập như một phần của những hình thức khác của tên.
6.4. Tên khác và những hình thức khác của tên
Bất cứ tên nào được chọn cho điểm truy cập cho phép, những tên khác và những hình thức khác của tên cần được đưa vào làm điểm truy cập có kiểm soát.
7. Nền tảng cho khả năng tìm tin
7.1. Tìm kiếm
Các điểm truy cập là những yếu tố của những biểu ghi thư mục và biểu ghi kiểm soát nhất quán mà chúng 1) cung cấp khả năng tìm tin hồi cố tin cậy những biểu ghi thư mục, biểu ghi kiểm soát nhất quán và những tài nguyên thư mục liên kết với chúng, và 2) thu hẹp kết quả tìm tin.
7.1.1. Công cụ tìm tin
Các tên, nhan đề và chủ đề cần được làm sao có thể tìm và tìm hồi cố được bằng những phương tiện của bất kỳ công cụ nào có trong mục lục thư viện hoặc trong tệp dữ liệu thư mục (bằng hình thức đầy đủ của tên, từ khóa, cụm từ, kỹ thuật chặt cụt, mã định danh, v.v...).
7.1.2. Điểm truy cập cần thiết
Những điểm truy cập cần thiết là những điểm dựa trên những thuộc tính và quan hệ chính của mỗi thực thể trong biểu ghi thư mục hoặc biểu ghi kiểm soát nhất quán.
7.1.2.1. Những điểm truy cập cần thiết trong biểu ghi thư mục bao gồm:
Điểm truy cập cho phép cho tên của sáng tác viên hoặc sáng tác viên được nêu tên đầu tiên của tác phẩm khi có nhiều hơn một tên;
Điểm truy cập cho phép cho tác phẩm/biểu hiện (nó có thể bao gồm điểm truy cập cho phép cho sáng tác viên);
Nhan đề chính hoặc nhan đề được lập cho biểu thị;
Năm/những năm công bố hoặc xuất bản biểu thị;
Những thuật ngữ chủ đề có kiểm soát và/hoặc số phân loại của tác phẩm;
Các số tiêu chuẩn, mã định danh và nhan đề khóa cho thực thể được mô tả.
7.1.2.2. Điểm truy cập cần thiết trong biểu ghi kiểm soát nhất quán bao gồm:
Tên cho phép hoặc nhan đề của thực thể; Mã định danh của thực thể;
Tên khác và hình thức khác của tên hoặc nhan đề của thực thể.
7.1.3. Điểm truy cập bổ sung
Những thuộc tính từ những vùng khác của mô tả thư mục hoặc biểu ghi kiểm soát nhất quán có thể dùng làm những điểm truy cập lựa chọn hoặc làm công cụ lọc hoặc thu hẹp tìm tin.
7.1.3.1. Những thuộc tính như vậy trong biểu ghi thư mục bao gồm, nhưng không chỉ giới hạn ở:
Tên của sáng tác viên không phải tên người đầu tiên;
Tên của cá nhân, dòng họ hoặc tập thể có vai trò khác sáng tác viên (thí dụ, người biểu diễn);
Nhan đề khác (thí dụ, nhan đề song song, nhan đề chú thích);
Điểm truy cập cho phép cho tùng thư; Mã định danh biểu ghi thư mục;
Ngôn ngữ của biểu hiện được thể hiện trong biểu thị;
Nơi xuất bản;
Loại nội dung;
Loại vật đựng.
7.1.3.2. Những thuộc tính như vậy trong biểu ghi kiểm soát nhất quán bao gồm, nhưng không chỉ giới hạn ở:
Tên hoặc nhan đề của những thực thể liên quan;
Những định danh biểu ghi kiểm soát nhất quán.
7.2. Tìm hồi cố
Khi kết quả tìm kiếm đưa ra một số biểu ghi có cùng điểm truy cập, những biểu ghi này cần được hiển thị theo một trình tự logic thuận tiện cho người sử dụng mục lục, ưu tiên tuân thủ một chuẩn phù hợp với ngôn ngữ và chữ viết của điểm truy cập.
Bảng thuật ngữ
Bảng thuật ngữ bao gồm những thuật ngữ trong Tuyên bố về Nguyên tắc Biên mục Quốc tế (ICP) được sử dụng theo cách thức đặc thù (không đơn thuần là những định nghĩa từ điển thông thường) [11]. Ở phần cuối Bảng là những thuật ngữ sử dụng trong Nguyên tắc Pari hoặc những quy tắc biên mục trước đó mà những chuyên gia tham gia các Cuộc họp Chuyên gia IFLA về Quy tắc Biên mục Quốc tế (IME ICC [12]) muốn ghi chú rằng chúng không còn được sử dụng trong Nguyên tắc Biên mục Quốc tế.
TR = Thuật ngữ rộng hơn; TH = Thuật ngữ hẹp hơn; TL = Thuật ngữ liên quan.
Bản mô tả thư mục [Bibliographic description] – Tập hợp những dữ liệu thư mục để định danh một tài nguyên thư mục.
[Nguồn: ISBD chỉnh lý]
Xem thêm Biên mục mô tả [TL]
Biên mục chủ đề [Subject cataloguing] – Phần của công tác biên mục cung cấp những thuật ngữ chủ đề có kiểm soát và/hoặc chỉ số phân loại.
[Nguồn: IME ICC]
Xem thêm Biên mục mô tả [TL]
Biên mục mô tả [Descriptive cataloguing] – Phần của công tác biên mục cung cấp dữ liệu mô tả và các điểm truy cập không phải chủ đề.
[Nguồn: IME ICC]
Xem thêm Bản mô tả thư mục [TL], Biên mục chủ đề [TL]
Biểu ghi dữ liệu kiểm soát nhất quán [Authority record] – Tập hợp những yếu tố dữ liệu định danh một thực thể và có thể sử dụng để tạo thuận lợi cho truy cập đến những điểm truy cập cho phép cho thực thể đó hoặc cho sự hiển thị của bất kỳ điểm truy cập nào của thực thể đó.
[Nguồn: IME ICC]
Biểu ghi thư mục [Bibliographic record] – Tập hợp những yếu tố dữ liệu mô tả và cung cấp việc truy cập đến một tài nguyên thư mục và định danh những tác phẩm và biểu hiện liên quan.
[Nguồn: IME ICC]
Biểu hiện [Expression] – Sự hiện thực hoá trí tuệ hoặc nghệ thuật của một tác phẩm.
[Nguồn: FRAD, FRBR]
Biểu thị [Manifestation] – Hiện thân vật lý của một biểu hiện của một tác phẩm.
[Nguồn: FRAD, FRBR]
Một biểu thị có thể là hiện thân của một sưu tập các tác phẩm, một tác phẩm đơn lẻ hoặc một phần hợp thành của tác phẩm. Biểu thị có thể xuất hiện dưới hình thức một hoặc nhiều đơn vị vật lý.
[Nguồn: IME ICC]
Cá nhân [Person] – Một cá thể hoặc một nhận dạng đơn lẻ được lập hoặc được áp dụng cho một cá thể hoặc một nhóm.
[Nguồn: FRBR, được sửa đổi trong FRAD, IME ICC chỉnh lý]
Chủ thể [Agent] – Người (tác giả, nhà xuất bản, nhà điêu khắc, người biên tập, đạo diễn, nhạc sỹ, v.v...) hoặc nhóm (dòng họ, tổ chức, công ty, thư viện, dàn nhạc, đất nước, liên bang, v.v...) hoặc thiết bị tự động (thiết bị ghi dữ liệu thời tiết, chương trình dịch phần mềm, v.v...) có vai trò trong chu trình sống của tài nguyên
[Nguồn: DCMI Agents Working Group, định nghĩa làm việc và sửa đổi]
Xem thêm Sáng tác viên [TH]
Có giá trị thư mục [Bibliographically significant] – Chất lượng của một thực thể hoặc thuộc tính hoặc quan hệ mà nó có ý nghĩa hoặc giá trị đặc biệt trong ngữ cảnh tài nguyên thư mục.
[Nguồn: IME ICC]
Dòng họ [Family] – Hai hoặc nhiều cá nhân liên quan với nhau bởi việc sinh sản, hôn nhân, nhận con nuôi hoặc những tình trạng pháp lý tương tự hoặc những hình thức khác thể hiện đây llà dòng họ.
[Nguồn: FRAD, chỉnh lý bởi IME ICC]
Địa điểm [Place] – Một nơi chốn. [Nguồn: FRBR]
Điểm truy cập [Access point ] – Tên, thuật ngữ, mã, v.v... nhờ chúng dữ liệu thư mục hoặc dữ liệu chuẩn hóa được tìm và định danh.
[Nguồn: GARR sửa theo FRAD và IME ICC]
Xem thêm Điểm truy cập bổ sung [TH]; Điểm truy cập cho phép [TH], Điểm truy cập có kiểm soát [TH], Điểm truy cập cần thiết [TH], Tên [TL], Điểm truy cập không kiểm soát [TH], Hình thức khác của tên [TH]
Điểm truy cập bổ sung [Additional access point] – Điểm truy cập có thể được sử dụng để bổ sung cho những điểm truy cập cần thiết để tăng cường cho tìm hồi cố dữ liệu thư mục hoặc dữ liệu cho phép.
[Nguồn: IME ICC]
Xem thêm Điểm truy cập [TR], Điểm truy cập cần thiết [TL]
Điểm truy cập cần thiết [Essential access point] – Điểm truy cập dựa trên thuộc tính hoặc quan hệ chủ yếu của thực thể trong biểu ghi thư mục hoặc biểu ghi dữ liệu kiểm soát nhất quán đảm bảo việc tìm ra và định danh biểu ghi đó.
[Nguồn: IME ICC]
Xem thêm Điểm truy cập [TR], Điểm truy cập bổ sung [TL]
Điểm truy cập cho phép [Authorized access point] – Điểm truy cập được ưu tiên cho một thực thể, được thiết lập và xây dựng theo những quy tắc hoặc tiêu chuẩn.
[Nguồn: IME ICC]
Xem thêm Điểm truy cập [TR], Hình thức cho phép của tên [TL], Điểm truy cập có kiểm soát [TR], Tên ưu tiên [TL], Hình thức khác của tên [TL]
Điểm truy cập chuẩn hoá [Normalized access point] - Xem Điểm truy cập cho phép
Điểm truy cập có kiểm soát [Controlled access point] – Điểm truy cập được nhập vào biểu ghi dữ liệu kiểm soát nhất quán.
[Nguồn: GARR sửa đổi]
Các điểm truy cập có kiểm soát bao gồm các dạng được chuẩn hoá của tên cũng như những dạng được coi là dạng biến thể. Chúng có thể:
- Dựa trên tên cá nhân, dòng họ, tập thể,
- Dựa trên tên (nhan đề) cho tác phẩm, biểu hiện, biểu thị và tài liệu,
- Kết hợp cả hai tên, như trong trường hợp điểm truy cập theo tên/nhan đề thể hiện một tác phẩm mà nó phối hợp tên của sáng tác viên với nhan đề của tác phẩm,
- Dựa trên những thuật ngữ cho sự kiện, đối tượng và địa điểm,
- Dựa trên các mã định danh như các số tiêu chuẩn, chỉ số phân loại, v.v...,
Những yếu tố khác (như ngày) có thể được bổ sung nếu cần nhằm mục đích phân biệt những thực thể có tên giống nhau hoàn toàn hoặc tương tự.
[Nguồn: FRAD – dựa trên chú thích rằng trọng tâm của mô hình là về tên và những thuật ngữ được kiểm soát thông qua tệp dữ liệu cho phép]
Xem thêm Điểm truy cập [TR], Điểm truy cập cho phép [TH], Tên [TL], Điểm truy cập không kiểm soát [TL], Hình thức khác của tên [TH]
Điểm truy cập không kiểm soát [Uncontrolled access point] – Điểm truy cập không được kiểm soát bằng biểu ghi kiểm soát nhất quán.
[Nguồn: IME ICC]
Xem thêm Điểm truy cập [TR], Điểm truy cập có kiểm soát [TL]
Đối tượng [Object] – Một thứ có tính chất vật chất.
[Nguồn: FRBR]
Hình thức cho phép của tên [Authorized form of name] – Dạng của tên được chọn làm điểm truy cập cho phép cho một thực thể.
Xem thêm Điểm truy cập cho phép [TL], Tên thông dụng [TL], Tên [TR], Tên ưu tiên [TL], Hình thức khác của tên [TL]
Hình thức khác của tên [Variant form of name] – Một dạng của tên không được chọn làm điểm truy cập cho phép cho thực thể. Nó có thể được sử dụng để truy cập biểu ghi dữ liệu kiểm soát nhất quán cho thực thể hoặc được trình bày như một liên kết đến điểm truy cập cho phép.
[Nguồn: IME ICC]
Xem thêm Điểm truy cập [TR], Điểm truy cập cho phép [TL], Hình thức cho phép của tên [TL], Điểm truy cập có kiểm soát [TR], Tên thông dụng [TL], Tên [TR]
Khái niệm [Concept] – Một tuyên bố hoặc ý tưởng trừu tượng.
[Nguồn: FRAD (liên kết cùng với chủ đề), FRBR]
Loại của nội dung [Type of content] - Xem Loại nội dung
Loại của vật đựng [Type of carrier] - Xem Loại vật đựng
Loại nội dung [Content type] – Một tên gọi phản ảnh hình thức truyền thông cơ bản trong đó nội dung được thể hiện và giác quan của con người thông qua đó nội dung được tiếp nhận. Dạng nội dung phản ảnh thuộc tính của cả tác phẩm và biểu thị.
[Nguồn: sửa đổi từ Bảng thuật ngữ cho RDA tháng 1/2008]
Loại vật đựng [Carrier type] – Một tên gọi phản ảnh hình thức của môi trường lưu trữ hoặc chứa đựng của một vật đựng trong sự kết hợp với dạng thiết bị trung gian cần thiết để xem, nghe, chạy lại, v.v... nội dung của tài nguyên. Dạng vật đựng phản ảnh các thuộc tính của biểu thị.
[Nguồn: sửa đổi từ tháng 1/2008 của Bảng thuật ngữ cho RDA]
Mã định danh [Identifier] Một số, mã, từ, cụm từ, biểu trưng, thiết bị, v.v... đi kèm với thực thể và dùng để phân biệt thực thể này với những thực thể khác bên trong lĩnh vực mà ở đó mã định danh được gán.
[Nguồn: FRAD]
Nhan đề khoá [Key title] – Tên duy nhất được gán cho tài nguyên tiếp tục bởi Mạng lưới ISSN và liên kết một cách không tách rời với số ISSN của tài nguyên. Nhan đề khoá có thể giống như nhan đề chính; hoặc để đạt được sự duy nhất, nó có thể được thiết lập bằng việc bổ sung những yếu tố định danh và/hoặc bổ ngữ như tên của cơ quan xuất bản, nơi xuất bản, thông tin lần xuất bản.
[Nguồn: ISBD]
Quan hệ [Relationship] – Mối liên kết đặc thù giữa các thực thể hoặc đại diện của chúng
[Nguồn: dựa theo FRBR]
Sáng tác viên [Creator] – Người, dòng họ hoặc tập thể chịu trách nhiệm về nội dung trí tuệ hoặc nghệ thuật của một tác phẩm.
[Nguồn: IME ICC]
Xem thêm Chủ thể [TR]
Sự kiện [Event] – Một hoạt động hoặc một sự việc xảy ra.
[Nguồn: FRAD (những thứ không hành động với tư cách một tập thể được coi là chủ đề), FRBR]
Sưu tập [Collection] - 1. Tập hợp thực hoặc ảo của một hoặc nhiều tác phẩm hoặc các phần của tác phẩm được kết hợp lại hoặc xuất bản cùng nhau. 2. Tập hợp thực hoặc ảo của những tài nguyên thư mục được giữ hoặc được tạo ra bởi một tổ chức.
[Nguồn: IME ICC]
Tác phẩm [Work] – Một sáng tạo trí tuệ hoặc nghệ thuật riêng biệt (hay là nội dung trí tuệ hoặc nghệ thuật).
[Nguồn FRAD, FRBR, chỉnh lý bởi IME ICC]
Tài liệu [Item] – Một bản riêng rẽ của một biểu thị.
[Nguồn: FRAD, FRBR]
Tài nguyên thư mục [Bibliographic resource] – Một thực thể bên trong khuôn khổ thư viện hoặc những sưu tập tương tự bao gồm những sản phẩm của sáng tạo trí tuệ hoặc nghệ thuật. Tài nguyên thư mục trong mô hình FRBR là những thực thể Nhóm 1: tác phẩm, biểu hiện, biểu thị, tài liệu.
[Nguồn: IME ICC]
Tập thể [Corporate body] – Một tổ chức hoặc nhóm cá nhân và/hoặc tổ chức được định danh bằng một tên cụ thể và hoạt động hoặc có thể hoạt động như một đơn vị.
[Nguồn: sửa đổi theo FRAD, FRBR]
Tên [Name] – Ký tự, từ hoặc nhóm từ và/hoặc nhóm các từ, ký tự làm cho thực thể được biết đến; bao gồm các từ/ký tự chỉ cá nhân, dòng họ, tập thể; bao gồm thuật ngữ làm cho những khái niệm, đối tượng, sự kiện, địa điểm được biết đến; bao gồm nhan đề được gán cho tác phẩm, biểu hiện, biểu thị hoặc tài liệu. Được sử dụng làm cơ sở cho điểm truy cập.
[Nguồn: FRBR, được sửa đổi trong FRAD]
Xem thêm Điểm truy cập [TL], Hình thức cho phép của tên [TH], Điểm truy cập có kiểm soát [TL], Tên thông dụng [TH], Tên ưu tiên [TH], Hình thức khác của tên [TH]
Tên thông dụng [Conventional name] – Một tên, khác với tên chính thức, qua đó một tập thể, địa điểm hoặc sự việc được biết đến.
[Nguồn: Sửa đổi theo Bảng thuật ngữ của AACR2 chỉnh lý 2002]
Xem thêm Hình thức cho phép của tên [TL], Tên [TR], Hình thức khác của tên [TL]
Tên ưu tiên [Preferred name] – Tên được chọn cho một thực thể theo quy tắc hoặc tiêu chuẩn, sử dụng làm cơ sở cho việc xây dựng điểm truy cập chuẩn cho thực thể.
[Nguồn: IME ICC]
Xem thêm Điểm truy cập cho phép [TL], Hình thức cho phép của tên [TL], Tên thông dụng [TL], Tên [TR]
Thế giới thư mục [Bibliographic universe] – Lĩnh vực liên quan đến các sưu tập thư viện, lưu trữ, bảo tàng và những cộng đồng thông tin khác.
[Nguồn: IME ICC]
Thực thể [Entity] – Cái gì đó có đặc tính đơn vị và độc lập; cái tồn tại độc lập hoặc riêng biệt; một thứ được trừu tượng hoá, khái niệm ý tưởng, đối tượng tư duy hoặc đối tượng mơ hồ.
[Nguồn: Webster’s 3rd]
Thí dụ về các dạng thực thể trong FRBR và FRAD bao gồm sản phẩm của sáng tạo trí tuệ và nghệ thuật (tác phẩm, biểu hiện, biểu thị, tài liệu); các chủ thể (thí dụ cá nhân, dòng họ, tập thể) chịu trách nhiệm về sáng tạo ra nội dung trí tuệ hoặc nghệ thuật, về sản xuất và phổ biến nội dung ở dạng thức vật lý hoặc về duy trì sự lưu giữ sản phẩm; hoặc chủ đề của một tác phẩm (tác phẩm, biểu hiện, biểu thị, tài liệu, cá nhân, dòng họ, tập thể, khái niệm, đối tượng, sự kiện, địa điểm).
[Nguồn: IME ICC]
Thuộc tính [Attribute] – Đặc trưng của một thực thể. Một thuộc tính có thể là vốn có [cố hữu] bên trong thực thể hoặc có thể được gán cho từ bên ngoài.
[Nguồn: FRBR]
NGUỒN THAM KHẢO
AACR2 – Anglo-American Cataloguing Rules. – 2nd edition, 2002 revision. – Ottawa: Canadian Library Association; London: Chartered Institute of Library and Information Professionals; Chicago: American Library Association, 2002-2005.
DCMI Agents Working Group – Dublin Core Metadata Initiative, Agents Working Group. From Web page, 2003 (working definitions): http://dublin- core.org/groups/agents/ Final report available online at: http://dublincore.org/documents/dcmi- terms/#classes-Agent)
FRAD – Functional Requirements for Authority Data: A Conceptual Model – Final Report, 2008.
FRBR – Functional Requirements for Bibliographic Records: Final Report. – Munich : Saur, 1998. (IFLA UBCIM publications new series; v. 19). Có trên Website của IFLA: http://www.ifla.org/VII/s13/frbr/ (tháng 9/997, sửa đổi, hiệu chỉnh tháng 2/2008)
GARR – Guidelines for Authority Records and References. 2nd ed., rev. – Munich : Saur, 2001. (IFLA UBCIM publications new series; v. 23). Có trực tuyến tại: http://www.ifla.org/VII/s13/garr/garr.pdf
IME ICC – IFLA Meeting of Experts on an International Cataloguing Code (1st-5th : 2003- 2007), recommendations from the participants
ISBD – International Standard Bibliographic Description (ISBD): preliminary consolidated edition. – Munich : Saur, 2007. (IFLA Series on Bibliographic Control; v. 31). Có trực tuyến tại: http://www.ifla.org/VII/s13/pubs/ISBD_consolidat- ed_2007.pdf
RDA – RDA: Resource Description and Access. Glossary Draft. 5JSC/Chair/11/Rev (Jan. 2008, Table 1). Có trực tuyến tại: http://www.collectionscana- da.gc.ca/jsc/rda.html#drafts
Webster’s 3rd – Webster’s Third New International Dictionary. – Springfield, Mass. : Merriam, 1976.
Những thuật ngữ không còn sử dụng
Đơn vị thư mục [Bibliographical unit] xem Biểu thị
Tiêu đề [Heading] xem Điểm truy cập cho phép, Điểm truy cập có kiểm soát
Tham chiếu [Reference] xem Hình thức khác của tên
Nhan đề đồng nhất [Uniform title] xem Điểm truy cập cho phép, Hình thức cho phép của tên, Tên
Nghị quyết của IME ICC2008:
Những người tham gia IME ICC nghị quyết như sau:
- Thực hiện chỉnh lý biên tập khi cần thiết đối với văn bản được những chuyên gia tham dự IME ICC thông qua;
- Phổ biến văn bản cho mọi tổ chức lập quy tắc phù hợp và các tổ chức của IFLA cũng nhưng báo chí chuyên ngành;
- Hiệu đính và công bố Tuyên bố nguyên tắc Biên mục quốc tế (ICP statement), Bảng thuật ngữ và làm cho nó được công bố trên web miễn phí;
- Đảm bảo tiếp tục công việc chỉ lý khi FRAD và FRSAR được hoàn chỉnh và mô hình hoặc sơ đồ dữ liệu biên mục phát tiến hoá, duy trì các tư liệu của IME ICC và chia sẻ thông tin về quá trình, kết quả của IME ICC.
Chúng tôi khuyến nghị rằng Tiểu ban Biên mục IFLA có trách nhiệm duy trì văn bản và tiến hành việc xem xét lại chúng sau khoảng thời gian 5 năm để cập nhật nếu cần thiết có tham vấn cộng đồng thông tin lớn hơn.
Ghi chú
[1] Cutter, Charles A. : Rules for a Dictionary Catalog. 4th ed., rewritten. Washington, D.C. : Government Printing office. 1904;
Ranganathan, S.R. : Heading and Canons. Madras [India] : S. Viswanathan, 1955; và Lubetzky, Seymour. Principles of Cataloging. Final Report. Phase I : Descriptive Cataloging. Los Angeles, Calif. : University of California, Institute of Library Research, 1969.
[2] Functional Requirements for Bibliographic Records: Final report. – Munich : Saur, 1998. (IFLA UBCIM pub lications new series ; v. 19). Có trên Website của IFLA: http://www.ifla.org/VII/s13/frbr/ (tháng 9/1997, có sửa đổi và hiệu chỉnh tháng 2/2008).
Mô hình FRBR sắp tới được mở rộng sang Yêu cầu Chức năng đối với Dữ liệu Kiểm soát Nhất quán (Functional Requirements for Authority Data (FRAD)) và Yêu cầu Chức năng đối với Dữ liệu Kiểm soát Chủ đề (Functional Requirements for Subject Authority Data (FRSAD)).
[3] Dựa trên tài liệu tham khảo thư mục, đặc biệt là của Ranganathan và Leibniz theo mô tả trong: Svenonius, Elaine. The Intellectual Foundation of Information Organization. Cambridge, Mass.: MIT Press, 2000, p. 68. Về các từ điển từ chuẩn chủ đề (thesauri), sẽ áp dụng những nguyên tắc bổ sung khác nhưng chưa đưa vào tuyên bố này.
[4] Nguyên tắc 2.2 đến 2.9 được sắp xếp một cách ngẫu nhiên.
[5] Các mô hình khái niệm của IFLA gồm FRBR, FRAD và FRSAD.
[6] Các thực thể Tác phẩm, Biểu hiện, Biểu thị và Tài liệu là những thực thể Nhóm 1 trong mô hình FRBR.
[7] Các thực thể Cá nhân, Họ và Tập thể là những thực thể Nhóm 2 trong mô hinh FRBR.
[8] Các thực thể Khái niệm, Đối tượng, Sự kiện và Địa điểm là những thực thể Nhóm 3 trong mô hình FRBR.
[9] Các mục 4.1-4.5 dựa trên : Svenonius,Elaine.The Intellectual Foundation of Information Organization.Cambridge, Mass.:MIT Press,2000.
[10] Đối với cộng đồng thư viện, chuẩn được chấp nhận quốc tế là Mô tả thư mục chuẩn quốc tế ISBD (International Standard Bibliographic Description).
[11] Trong bản gốc, thuật ngữ được sắp xếp theo vần
chữ cái tiếng Anh. Chúng tôi sắp xếp theo vần chữ cái tiếng Việt và có chú thích tiếng Anh (Người dịch)
[12] IME ICC là viết tắt của "IFLA Meetings of Experts
on an International Cataloguing Code".
 
____________
Cao Minh Kiểm dịch
Nguồn: Tạp chí Thư viện Việt Nam số 3(23) – 2010 (tr.28-38)

1/7/2018 11:00 AMĐã ban hành/Shared Documents/2019-01/Thu vien hutech.jpg
Ngày hội Sách 2017: " Sách - Tri thức và Phát triển xã hội"Ngày hội Sách 2017: " Sách - Tri thức và Phát triển xã hội"
Chào mừng Ngày Sách Việt Nam - 21/4, Ngày Sách và Bản quyền Thế giới - 23/4, Thư viện Quốc gia Việt Nam phối hợp với nhiều cơ quan tổ chức Ngày Hội Sách năm 2017 với chủ đề “Sách - Tri thức và Phát triển xã hội” từ ngày 20 đến 21 tháng 4 năm 2017.
Ngày Hội Sách 2017 với chủ đề “Sách - Tri thức và Phát triển xã hội” được tổ chức nhằm tôn vinh giá trị của sách, khẳng định vai trò, vị trí, tầm quan trọng của sách trong đời sống xã hội; tôn vinh những người làm công tác sưu tầm, sáng tác, xuất bản, in, phát hành, lưu giữ, quảng bá sách; khuyến khích và phát triển phong trào đọc sách trong cộng đồng; nâng cao nhận thức của nhân dân về ý nghĩa to lớn và tầm quan trọng của việc đọc sách đối với việc tiếp thu kiến thức, kỹ năng, phát triển tư duy, giáo dục và rèn luyện nhân cách con người; nâng cao trách nhiệm của các cấp, các ngành, các cơ quan chức năng và các tổ chức xã hội đối với việc xây dựng và phát triển văn hoá đọc Việt Nam.
Nhằm hưởng ứng tinh thần Ngày sách Việt nam nói trên, đồng thời khẳng định vai trò, vị trí, tầm quan trọng của các công trình nghiên cứu trong lĩnh vực kinh tế-xã hội đóng góp tích cực vào sự phát triển của đất nước và cũng là cơ hội để giới thiệu và quảng bá các ấn phẩm thông tin, tài liệu nghiên cứu, hội thảo, sách chuyên ngành kinh tế-xã hội tới cộng đồng học thuật và cộng đồng bạn đọc trên cả nước, với vai trò là Thư viện đầu mối trong Chi Hội Thư viện chuyên ngành kinh tế trên địa bàn Thành phố Hà Nội, Thư viện Trung tâm Thông tin và Dự báo kinh tế-xã hội Quốc gia phối hợp với một số thư viện thành viên Chi Hội tham gia hoạt động trưng bày triển lãm trong thời gian diễn ra Ngày hội Sách 2017.
Cùng phối hợp tham gia triển lãm lần này có 5 thành viên trong Chi hội Thư viện chuyên ngành kinh tế trên địa bàn Thành phố Hà Nội, đó là: Thư viện Trung tâm Thông tin và Dự báo kinh tế - xã hội quốc gia, Thư viện Viện Chiến lược phát triển, Thư viện Viện nghiên cứu và Quản lý kinh tế Trung ương, Thư viện Học Viện Ngân hàng và Thư viện Viện Nghiên cứu kinh tế-xã hội Hà Nội. Nội dung tham gia trưng bày triển lãm là các ấn phẩm thông tin, tài liệu nghiên cứu, tạp chí chuyên ngành, tài liệu hội thảo, tài liệu nghiên cứu, sách do các đơn vị xuất bản,…

Trích nguồn:NCIF
Tác giả: BBT
4/26/2017 10:00 AMĐã ban hành/Shared Documents/2017-04/IMG_2283.JPG
Báo cáo Điều tra Lao động việc làm năm 2016Báo cáo Điều tra Lao động việc làm năm 2016
9/15/2018 1:00 PMĐã ban hành/Shared Documents/2018-09/Photo_Download.jpg
Vài nét về khung phân loại LCC Vài nét về khung phân loại LCC
Khung phân loại Thư viện Quốc hội Hoa Kì (LCC - Library of Congress Classification) nguyên là được thiết kế để tổ chức, phân loại và sắp xếp kho sách của chính thư viện này, lần đầu tiên được phát triển từ cuối thế kỉ XIX và sang đầu thế kỉ XX đã có nhiều thư viện khác sử dụng, đặc biệt là các thư viện đại học lớn ở Hoa Kì. Phạm vi sử dụng rộng dần và vượt ra khỏi lãnh thổ của Hoa Kì. Đến nay LCC cùng với DDC là những hệ thống phân loại được sử dụng rộng rãi nhất trên thế giới. Văn phòng hỗ trợ và chính sách biên mục của Thư viện Quốc hội Hoa Kì (Library’s Cataloging Policy and Support Office) bảo trì và phát triển hệ thống. Khác với khung phân loại DDC được Melvil Dewey một mình xây dựng để sử dụng trong tất cả các loại hình thư viện. Khung phân loại LCC được xây dựng dựa trên cấu trúc kho sách của Thư viện Quốc hội Hoa Kì. Bản chất chuyên biệt của thư viện này đã ảnh hưởng đến toàn bộ khung phân loại. Thư viện Quốc hội bao gồm nhiều sưu tập, mỗi sưu tập được chứa vào những nơi khác nhau. Hậu quả đưa đến khung phân loại bao gồm nhiều bảng phân loại riêng biệt được thiết kế bởi những chuyên gia chủ đề khác nhau. Sự tiện lợi trong tổ chức và quản lí việc sử dụng khung phân loại LCC có ảnh hưởng lớn đến những thư viện hiện đại. Việc sử dụng miễn phí những biểu ghi LCC trong hệ thống mục lục của Thư viện Quốc hội Hoa Kì và những mục lục liên hợp có chứa biểu ghi LCC (chẳng hạn như COPAC ở vương quốc Anh) đã thu hút hầu hết những thư viện quan tâm đến việc sao chép biểu ghi hơn là tự mình xây dựng. Đó cũng là lí do khiến khung phân loại LCC ngày càng phổ biến. Khung phân loại LCC được xem như một hệ thống đầy tiềm năng cho việc áp dụng rộng rãi trong thời đại trực tuyến thông qua nghiên cứu việc sử dụng LCC như là một công cụ để: - Phân chia thành nhiều phần những kho tin lớn; - Tạo nên những nguyên tắc phân loại miền chuyên biệt (domain-specific classification) trên internet; - Tích hợp phân loại và những thuật ngữ đề tài có kiểm soát cho việc truy hồi thông tin trong mục lục truy cập công cộng trực tuyến (OPAC) và trên internet. Hiện nay khung phân loại LCC được dùng nhiều trong các thư viện đại học và nghiên cứu, đặc biệt là trong những thư viện chuyên ngành hẹp, chẳng hạn như thư viện của Viện nghiên cứu Phật học Việt Nam. Lịch sử LCC Thư viện Quốc hội Hoa Kì được thành lập theo lệnh của Quốc hội vào tháng Giêng năm 1800 thông qua một đạo luật về xây dựng thư viện của lưỡng viện Quốc hội. Theo đó cung cấp cho thư viện một phòng chứa 740 cuốn sách (được thượng nghị sĩ Samuel Dexter mua trong những năm trước đó), thiết lập nội quy thư viện và bổ nhiệm giám đốc thư viện đầu tiên, John Beckley. Vào tháng Tư 1802, ông đã thiết lập mục lục đầu tiên với việc xếp sách theo kích cỡ (khổ sách). Năm 1812, thư viện sử dụng khung phân loại thư viện Philadelphia, lần đầu tiên có sự tiếp cận chủ đề. Khung phân loại này dựa trên một phóng tác của hệ thống Bacon được dùng trong bách khoa toàn thư của Diderot và d’Alembert. Thư viện Quốc hội chỉ dùng 18 trong 31 lớp chính của Philadelphia, và trong khoảng ở giữa mỗi lớp, sách được tiểu phân theo kích cỡ và xếp theo thứ tự chữ cái. Năm 1814, điện Capitol bao gồm cả Thư viện Quốc hội bị quân Anh đốt cháy và hầu hết sách đều bị thiêu rụi. Tổng thống Thomas Jefferson đã bán cho Quốc hội thư viện riêng của ông ta với khoảng 7.000 cuốn sách, thư viện này được tổ chức phân loại theo vị trí cố định gồm 44 lớp và lại dựa vào Bacon/d’Alembert. Năm 1815, thư viện được chấn chỉnh lại và tồn tại trên địa điểm đó cho đến 1897, và sau đó được dời vào tòa nhà mới. Tại thời điểm này, Thư viện Quốc hội nghiên cứu việc thay đổi khung phân loại. Một số khung phân loại ứng viên là Khung phân loại DDC, khung Phân loại Mở rộng Cutter (Cutter’s Expansive Classification), và khung Hartwig’s Halle. Trong những khung này, khung Phân loại Mở rộng của Charles Ammi Cutter là thích hợp với nhu cầu của Quốc hội nhất. Cutter đã sẵn lòng chỉnh sửa lại hệ thống của mình cho phù hợp với Thư viện Quốc hội hơn. Năm 1899, Tiến sĩ Herbert Putman, giám đốc thư viện mới được bổ nhiệm, đã quyết định phân loại lại toàn bộ sưu tập thư viện. Herbert Putman và người cộng sự Charles Martel, biên mục viên trưởng, đã chọn chính khung phân loại do mình phát triển dựa trên nền tảng Phân loại Mở rộng của Cutter có tham khảo thêm khung phân loại DDC, ấn bản lần thứ năm. Đây chính là khung phân loại LCC sau này. Kí hiệu của khung phân loại LCC là kết hợp giữa chữ cái và số Ả Rập; trong khi kí hiệu của khung Phân loại Mở rộng Cutter chỉ toàn chữ; và kí hiệu của khung phân loại DDC thì toàn số. Xuất bản và quản lí LCC Phòng công tác biên mục của Thư viện Quốc hội Hoa Kì chịu trách nhiệm quản lí chung về hệ thống phân loại. Khung phân loại là đồ sộ, xuất bản nhiều tập; ngay cả một vài môn loại chính cũng được xuất bản thành nhiều phần bởi vì chiều dài của bảng chính. Khác với khung phân loại DDC, Thư viện Quốc hội chưa bao giờ “trình làng” toàn bộ khung phân loại cùng xuất bản mới một lúc, nhưng từng tập riêng lẻ thì được cập nhật khi cần thiết. Mỗi bảng chính (schedule) được phát triển bởi từng nhóm chuyên gia đề tài riêng, và được tiến hành dần dần trong suốt cả thế kỉ. Bảng thứ nhất, E-F Lịch sử: Mĩ (Tây bán cầu) xuất bản năm 1901; tiếp tục 1902 bởi Z Thư mục học. Thư viện học. Bảng môn loại Luật đầu tiên – Luật Hoa Kì xuất bản năm 1969 và các bảng môn loại Luật khác vẫn đang phát triển. Những phiên bản của khung phân loại LCC bao gồm: - Library of Congress Classification – Bản in. - Classification Plus (Thư viện Quốc hội Hoa Kì xuất bản). - SuperLCCs: Gale’s LCC schedules kết hợp với Additions and Changes (gồm bản in và CD-ROM). - Classweb: hay Classification Web là phiên bản trực tuyến của LCC tại địa chỉ: http://classi- ficationweb.net/. Classweb bao gồm: • Browse Classification Schedules (Dò tìm bảng chính) • Classification Search (Truy tìm phân loại) • LC Subject Headings (Bộ tiêu đề chủ đề LC – LCSH) • Genre/Form Headings (Tiêu đề hình thức) • Juvenile Subject Headings (Bộ tiêu đề chủ đề thiếu nhi) • LC Subject Heading & LC Classification Number Correlations (Tương quan giữa tiêu đề chủ đề LC với chỉ số phân loại LCC) • LC Subject Heading & Dewey Classification Correlations* (Tương quan giữa tiêu đề chủ đề LC với chỉ số phân loại DCC) • LC Classification & Dewey Classification Correlations* (Tương quan giữa chỉ số phân loại LCC với chỉ số phân loại DCC) Trong thập niên 1900, bản điện tử LCC được phát hành trên CD-ROM khiến việc dò tìm và phân loại dễ dàng hơn. Năm 2002, được thay thế bằng Classweb, một phiên bản trực tuyến của khung phân loại LCC và bộ tiêu đề chủ đề của Thư viện Quốc hội Hoa Kì – LCSH. Địa chỉ web www.loc.gov là nơi tốt nhất để tìm thông tin về khung phân loại LCC, và tất nhiên hệ thống mục lục của Thư viện Quốc hội Hoa Kì là nguồn dữ liệu phân loại tuyệt vời về những biểu ghi thư tịch. Rõ ràng việc truy cập miễn phí vào những biểu ghi cũng như dịch vụ thư tịch do Thư viện Quốc hội Hoa Kì cung cấp đã tác động đến quyết định chọn khung phân loại này của nhiều thư viện.

4/20/2016 11:00 AMĐã ban hành/Shared Documents/2016-04/LCC.jpg