Skip Ribbon Commands
Skip to main content
SharePoint
KỶ NIỆM 72 NĂM NGÀY THƯƠNG BINH LIỆT SĨ (27/7/1947-27/7/2019)
******
Kỷ niệm 74 năm Cách mạng tháng 8

Skip Navigation LinksTin Thư viện

Search
 
Tin Thư viện
 
Niên giám thống kê gồm các số liệu thống kế kinh tế - xã hội 2018 của Việt Nam 
 
Sau hơn 30 năm thực hiện công cuộc đổi mới, Việt Nam đã đat được nhiều thành tựu về phát triển kinh tế - xã hội, từng bước hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế khu vực và thế giới. Để có được thành tựu đó, đầu tư trực tiếp nước ngoài đã đóng góp một phần không nhỏ, cuốn sách Tổng điều tra kinh tế năm 2017 - Kết quả hoạt động của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài giai đoạn 2011-2016 thể hiện rõ những hoạt động của các doanh nghiệp FDI trong những năm gần đây. Nội dung sách gồm các phần: Phần I: Tổng quan về hoạt động đầu tư nước ngoài tại Việt Nam giai đoạn 2011-2016. Phần II: Số liệu thu hút đầu tư nước ngoài giai đoạn 2011-2016. Phần III: Số liệu tổng hợp kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp FDI giai đoạn 2011-2016  
 
Với chủ đề "Sách - Kết nối tri thức và phát triển", Ngày Hội Sách năm 2019 sẽ được tổ chức vào ngày 19/4 tới, tại Thư viện Quốc gia Việt Nam - 31 Tràng Thi, Hà Nội 
 
Niên giám thống kê 2017 gồm các số liệu thống kê phản ánh thực trạng kinh tế xã hội của cả nước, các vùng và các địa phương. 
 
ấn phẩm “Hệ thống Thống kê Cộng đồng ASEAN” nhằm cung cấp cho độc giả các thông tin về quá trình hình thành và phát triển của Hệ thống Thống kê Cộng đồng ASEAN. Ấn phẩm bao gồm 4 phần: (1) Phần 1. Lịch sử hình thành và phát triển của Thống kê ASEAN; (2) Phần 2. Cơ sở pháp lý cho hoạt động của Thống kê ASEAN; (3) Phần 3. Cơ chế hoạt động của Thống kê ASEAN; (4) Phần 4. Cộng đồng ASEAN qua những con số, gồm các số liệu cập nhật, đồ họa thông tin liên quan tới các lĩnh vực như nhân khẩu học, kinh tế, tự do hóa thương mại, đầu tư trực tiếp nước ngoài, tiến bộ xã hội của các quốc gia thành viên ASEAN.  
 
Niên giám Thống kê là ấn phẩm được Tổng cục Thống kê, Bộ Kế hoạch và Đầu tư xuất bản hàng năm, bao gồm những số liệu thống kê cơ bản phản ánh khái quát động thái và thực trạng kinh tế - xã hội của cả nước, của các vùng, các địa phương. 
 
 
  
  
Tóm tắt
Nội dung
  
  
  
Kết quả khảo sát Mức sống dân cư Việt Nam năm 2016Kết quả khảo sát Mức sống dân cư Việt Nam năm 2016
10/30/2018 11:00 AMĐã ban hành/Shared Documents/2018-10/Photo_Download.jpg
Niên giám thống kê 2017Niên giám thống kê 2017
Niên giám thống kê 2017 gồm các số liệu thống kê phản ánh thực trạng kinh tế xã hội của cả nước, các vùng và các địa phương.
11/2/2018 9:00 AMĐã ban hành/Shared Documents/2018-11/Photo_Download (2).jpg
NIÊN GIÁM THỐNG KÊ 2018NIÊN GIÁM THỐNG KÊ 2018
Niên giám thống kê gồm các số liệu thống kế kinh tế - xã hội 2018 của Việt Nam
7/31/2019 10:00 AMĐã ban hành/Shared Documents/2019-07/Photo_Download.jpg
Niên giám thống kê 2017 (bản tóm tắt)Niên giám thống kê 2017 (bản tóm tắt)
9/17/2018 1:00 PMĐã ban hành/Shared Documents/2018-09/cccd0ce09adb40b0e2a3b46bfb7808dd.jpg
QUI TẮC BIÊN MỤC ANH-MỸ AACR2 VÀ THỰC TIỄN BIÊN MỤC VIỆT NAMQUI TẮC BIÊN MỤC ANH-MỸ AACR2 VÀ THỰC TIỄN BIÊN MỤC VIỆT NAM

Cuộc hội thảo về "Hệ thống và tiêu chuẩn cho thư viện Việt Nam", (26-28/ 9 / 2001) do Học viện Công nghệ Hoàng gia Melbourne (RMIT) tổ chức tại Hà Nội, với sự tham gia của một số lãnh đạo các thư viện và trung tâm thông tin lớn của ba miền đất nước như: Trung tâm Thông tin Tư liệu KHCN Quốc gia, Thư viện Quốc gia Việt Nam, Trung tâm Thông tin- Thư viện Đại học Quốc gia Hà Nội, Thư viện KHTH TP Hồ Chí Minh, Thư viện Đại học Cần Thơ, Đại học Đà Nẵng, Đại học Huế,…đã đi đến một trong số các khuyến nghị như sau:

"- Nếu Qui tắc biên mục Anh-Mỹ AACR2 đưược thông qua, Bộ Giáo dục và Đào tạo và Bộ Văn hoá- Thông tin Việt Nam nên:

a. Khuyến khích đưa AACR2 vào chương trình thư viện và thông tin học;

b. Tìm nguồn tài trợ để hiệu đính văn bản AACR2 hiện có cho phù hợp với thuật ngữ đương đại.

Ngoài ra, xu thế biên soạn MARC Việt Nam hiện nay dựa trên MARC 21 là một khổ mẫu có quan hệ chặt chẽ với AACR2 cũng khiến cho nhiều người trong Cộng đồng thông tin-thư viện Việt Nam quan tâm đến Qui tắc biên mục này.

Như chúng ta đều biết: Các nguyên tắc biên mục Paris (1961) đã là cơ sở để biên soạn các qui tắc mô tả và lập tiêu đề, là một bước tiến quan trọng tiến tới tiêu chuẩn hoá biên mục trên phạm vi toàn thế giới. Năm 1967, Mỹ và Anh đã hợp tác biên soạn và xuất bản một bộ qui tắc chung gọi tắt theo tiếng Anh là AACR (Anglo-American Cataloguing Rules), còn gọi là AACR1 để phân biệt với AACR2 sau này. Trong những năm về sau, còn có sự tham gia của các đồng nghiệp Canada và Úc vào Uỷ ban liên hợp chỉ đạo việc chỉnh lý bộ qui tắc này.

Một đổi mới quan trọng, khác với các qui tắc trước đây, trong đó có Qui tắc do Hội Thư viện Mỹ (ALA) biên soạn năm 1949, là nhấn mạnh đến sự ưu tiên lấy các thông tin trên trang nhan đề để đưa vào mô tả. Các thông tin trong lời nói đầu, lời giới thiệu và trong chính văn chỉ sử dụng đến khi trang nhan đề không có hay nói không rõ. AACR chú trọng lập tiêu đề theo các loại tên người (tác giả chính, phụ và những người khác tham gia xây dựng tác phẩm, nhân vật), hơn là thể loại. Qui tắc này phân biệt (bản) mô tả chính và mô tả bổ sung, phân biệt hai hình thức trình bày mô tả: theo tác giả và theo nhan đề (dòng treo).

AACR đề cập tới hình thức mô tả với tiêu đề tác giả tập thể là tên gọi thường dùng của các cơ quan tổ chức và những qui định đối với việc đưa tên gọi của các cơ quan cấp trên vào tiêu đề.

Xu hướng hạn chế dùng tên địa danh trong tiêu đề tác giả tập thể cũng thể hiện, tuy nhiên, trong lần xuất bản năm 1974, việc này mới được qui định dứt khoát.

Nhược điểm của AACR là còn có nhiều qui định bổ sung và ngoại lệ mang tính chắp vá do phải giải quyết những vướng mắc trong quá trình áp dụng để dung hoà với thực tiễn biên mục cũ. Chẳng hạn, chỉ những cơ quan tổ chức lần đầu tiên được lập tiêu đề, mới theo AACR, nghĩa là, lập tiêu đề trực tiếp theo tên gọi thông dụng của các cơ quan tổ chức đó, chứ không phải thông qua địa danh đặt ở trước. Như vậy, trong khoảng thời gian từ 1967 đến 1981, hàng ngàn tiêu đề của nhiều thư viện Mỹ vẫn lập theo kiểu cũ.

Năm 1974, đại diện của các hội thư viện và các thư viện quốc gia của Anh, Mỹ và Canađa đã họp lại để bàn về việc soạn thảo một văn bản hoàn toàn mới: Qui tắc AACR2, để khắc phục tình trạng chắp vá nói trên, tạo điều kiện thuận lợi cho người sử dụng mục lục nhanh chóng tìm được tư liệu và cải thiện hợp tác quốc tế trong lĩnh vực biên mục.

Một nguyên nhân quan trọng nữa thúc đẩy sự ra đời của AACR2 là sự cần thiết phải áp dụng Mô tả theo tiêu chuẩn quốc tế ISBD trong biên mục sách, xuất bản phẩm định kỳ cũng như các loại hình tư liệu và vật mang tin khác.

Mục tiêu của Hội nghị là:

– Thống nhất và hợp nhất các văn bản qui tắc của Bắc Mỹ và của Anh xuất bản năm 1967, đồng thời bổ sung những điều khoản đã sửa chữa hoặc thay đổi theo sự thoả thuận chung.

– Tạo điều kiện mở rộng sử dụng Qui tắc Anh-Mỹ ra ngoài phạm vi của Bắc Mỹ và Anh.

–  Xem xét để đưa vào Qui tắc Anh-Mỹ (AACR) những kiến nghị của các hội thư viện Mỹ, Canađa, Thư viện Quốc hội Mỹ cũng nhưư của các uỷ ban biên mục quốc gia tại các nước có tham khảo và sử dụng Qui tắc Anh-Mỹ.

AACR2 được chính thức xuất bản vào cuối năm 1978, nhưng đến tháng 1 năm 1981 mới thực sự được áp dụng tuơng đối rộng rãi. Và từ đó đã trải qua nhiều lần xuất bản có bổ sung và sửa chữa.

Khác với cách bố cục của các qui tắc biên mục trước đó, AACR2  trình bày các qui định về mô tả trước các qui định lựa chọn tiêu đề, bởi vì trình tự này phù hợp với thực tiễn biên mục hiện nay và trong tưương lai tại phần lớn các thư viện và cơ quan thư mục. Ngoài ra, nó cũng tạo điều kiện thuận lợi cho việc tích hợp các biểu ghi mô tả sách và các loại hình tư liệu khác trong cùng một thư mục.

Trong các qui định về tiêu đề mô tả (điểm truy nhập), AACR2 ít nhấn mạnh tới hình thức của bản mô tả chính và bản mô tả phụ và tạo khả năng sử dụng nhiều điểm truy nhập cùng một lúc và cung cấp mô tả thư mục đầy đủ.

Một thay đổi lớn nữa là trong khi chọn mô tả chính, người ta không sử dụng tràn lan tên các cơ quan tổ chức làm "tác giả tập thể" mà chỉ qui định một số trường hợp mà thôi, còn các trường hợp khác được chuyển sang mô tả bổ sung, nếu cần.

Bỏ phụ tiêu đề thống nhất hình thức "luật", "hiệp ước", "kinh thánh"… cho các tác phẩm pháp lý và tôn giáo. Thay vào đó là sử dụng "nhan đề thống nhất" hoặc "đề mục chủ đề ".

Đối với các tiêu đề tên người, thì ưu tiên sử dụng các tên hay biệt hiệu thông dụng, không đảo tên người trong thành phần của tên gọi các cơ quan tổ chức, giải quyết thống nhất tên các bang của Úc, Liên Xô cũ, các hạt (county) của Anh theo kiểu các bang nước Mỹ.

AACR2  đặt nền tảng cho sự hợp tác biên mục trên phạm vi quốc gia và quốc tế, cải tiến các dịch vụ thư mục và tiết kiệm được giá thành. Do cung cấp một mẫu mô tả thống nhất cho tất cả các loại hình tư liệu, nên qui tắc này đã tạo khả năng thực hiện mục lục tích hợp đa phương tiện (multimedia). Ngoài ra, giảm được thời gian tìm kiếm tư liệu cho người sử dụng bằng cách cung cấp những tiêu đề (điểm truy nhập) tương thích nhiều hơn với những hình thức quen dùng trong sách báo và tham chiếu trích dẫn.

Thư viện Quốc hội Mỹ đã đi đầu trong việc áp dụng AACR2 và có những đóng góp đáng kể trong việc sửa đổi, hiệu chỉnh qui tắc này.

Ngoài một số ít thư viện quyết định ngừng mục lục phiếu hiện có và tạo lập mục lục mới với phương pháp mô tả theo AACR2, còn phần lớn chỉ thay đổi tiêu đề theo qui định mới và làm tham chiếu (chỉ chỗ) qua lại "xem thêm:" cho hệ thống mục lục hiện có.

Năm 1988, AACR2 đã đưược chỉnh biên với tên gọi Qui tắc Anh- Mỹ 2 có chỉnh lý, AACR2 R (Anglo-American Cataloguing Rules 2 Revision).

Một sự thay đổi có ý nghĩa quan trọng là trong cơ cấu nội dung của AACR2 R, phần I, mở đầu, có một chương chung giới thiệu các điều khoản có thể áp dụng  cho tất cả các loại hình tư liệu và các tình huống khác nhau dựa theo tinh thần của ISBD (G). Tiếp đó là các chương riêng phản ánh đặc điểm mô tả của từng loại hình tư liệu riêng biệt với mức độ qui định chặt chẽ và chi tiết hơn. Thí dụ: Chương hai: Mô tả sách hay chuyên khảo in; Chương 5: Nhạc phẩm; Chương 6 : Tưư liệu ghi âm; Chương 9: Tệp tin học; Chương 12: Xuất bản phẩm nhiều kỳ (serials),…

AACR2 R cũng nói rõ trong quá trình mô tả, có khi người biên mục phải tra cứu nhiều chương. Thí dụ, một xuất bản phẩm nhiều kỳ có thể đưược sản xuất dưới dạng vi phiếu (microfiche) hay đĩa quang (CD-ROM). Trong tình huống này, họ vừa phải dựa vào các qui định trong chương mô tả xuất bản phẩm nhiều kỳ, vừa phải tra cứu các chương qui định về mô tả tư liệu vi hình hay về các tưư liệu đa phương tiện (multimedia).

Ngoài ra, AACR2 còn đưa vào sơ đồ mô tả một khoản thông tin khái quát chung về loại hình tư liệu gọi là "Định danh chung về loại tư liệu" (GMD: General Material Designation) đặt trong ngoặc vuông, ngay sau nhan đề chính, ở vùng thứ nhất của mô tả.Thí dụ, Đời sống động vật [ghi hình], mặc dầu vùng mô tả vật thể (vùng đặc trưng số lưượng) cũng có những thông tin về loại hình, nhưưng đó là những thông tin riêng, cụ thể, về vật mang tin của tư liệu đưược mô tả (Định danh riêng về loại tư liệu), Thí dụ:  băng hình, phim điện ảnh, đĩa quang,…

Các qui tắc trong AACR2 R thể hiện được tính linh hoạt, mềm dẻo với 3 mức độ mô tả chi tiết tuỳ theo nhu cầu của từng nước hay tầm cỡ của thư viện sử dụng, nhưng vẫn đảm bảo theo đúng chuẩn mực quốc tế.

Trong quá trình chuyển đổi mục lục phiếu truyền thống sang mục lục đọc máy và các mục lục truy nhập trực tuyến (on-line), các thưư viện Anh, Mỹ đều xây dựng tiêu đề (điểm truy nhập) theo AACR2 R và có các tham chiếu đối với các hình thức đã dùng trước đây. Cho đến lần chỉnh biên năm 1988, AACR2 đã được áp dụng trong hầu hết các nước nói tiếng Anh.

Năm 1997, một cuộc hội nghị quốc tế về các nguyên tắc và sự phát triển tương lai của AACR2 đã được tổ chức tại Toronto, Canada [5]. Hội nghị đã phân tích tính lôgic của các qui tắc nhằm xác định những nguyên tắc làm cơ sở cho những qui tắc ấy để AACR2 đáp ứng được các tiêu chuẩn chính xác, mềm dẻo, thân thiện với người dùng, tương thích và hiệu quả, với hi vọng biến bộ qui tắc này trở thành một chuẩn quốc tế; đồng thời cũng xem xét lại khái niệm và định nghĩa của xuất bản phẩm nhiều kỳ (serials) trong bối cảnh xuất hiện các nguồn tin điện tử, đặc biệt là các nguồn tin trên mạng. Những người dự Hội nghị cũng đã đề nghị chỉnh sửa Phần I của AACR2 theo sát ISBD hơn nữa, đặc biệt là Chương 9: Tệp tin học (CF) cần đổi tên là Nguồn tin điện tử (ER) theo đúng tinh thần và nội dung của ISBD (ER). Đã có khuyến nghị sử dụng thuật ngữ "xuất bản phẩm hoặc nguồn còn đang diễn tiến" (on-going publications/resource), bao hàm các dạng tài liệu: xuất bản phẩm nhiều kỳ, tờ rời và cơ sở dữ liệu, thay cho thuật ngữ "xuất bản phẩm nhiều kỳ". Một khuyến nghị nữa rất đáng chú ý nữa là phải cải biên lại điều 0.24 của AACR2 theo tinh thần nhấn mạnh đến nội dung tri thức của tài liệu hơn là vật mang tin cho phù hợp của với phương châm phát triển nguồn tin hiện nay là kết hợp giữa sở hữu tại chỗ và truy nhập tài liệu từ xa, ở nơi khác. Qui định này (0.24) nói rằng khi mô tả phải trực diện với tài liệu, nghĩa là có tài liệu trong tay, do đó đã làm cho AACR2 không đủ linh hoạt để mô tả các tài liệu luôn luôn thay đổi theo thời gian, là một trong những đặc trưng chung của các nguồn tin điện tử [5,6]. Có ý kiến nhận định AACR2 đang đứng trước nguy cơ bị "teo lại" trước thách đố của sự phát triển siêu dữ liệu (đặc biệt là chuẩn Dublin Core). Tuy nhiên, theo bà Ann Huthwaite, người quản lý các dịch vụ thư mục của Thư viện Trường đại học Queenland (Úc) thì tính bất ổn định, không có ranh giới rõ rệt của các nguồn tin trên Internet, vấn đề làm thế nào để tạo lập các biểu ghi mới, giải quyết trường hợp có rất nhiều phiên bản (version) của cùng một tư liệu,… cũng là những câu hỏi và thách đố đặt ra đối với những người phát triển siêu dữ liệu. Và cuối cùng thì họ vẫn phải đối mặt với vấn đề kiểm soát tính nhất quán của các tên người và cơ quan tổ chức. Nếu chỉ dựa vào tìm tin theo từ khoá không thôi thì chưa đủ, vì tiêu chuẩn hoá và tính nhất quán của các điểm truy nhập là những yếu tố rất cơ bản để tìm tin có hiệu quả. Trong mục lục thư viện, điều này đã đạt được thông qua việc áp dụng các qui tắc trong phần II của AACR2. Nếu không áp dụng những qui tắc này thì sự kiểm soát thư mục sẽ rối loạn. Nhìn chung, có sự tưương ứng giữa AACR2 và các tiêu  chuẩn siêu dữ liệu và các chuẩn này có thể chuyển đổi lẫn nhau. Tuy nhiên, khi AACR2/MARC chuyển đổi sang siêu dữ liệu thì tính chính xác sẽ bị mất đi một cách đáng kể (một số yếu tố không biết đưa vào đâu). Còn ngược lại, khi siêu dữ liệu chuyển đổi sang AACR2/MARC thì ngay lập tức nó không thể tạo được một biểu ghi đầy đủ. Phải mất công hiệu đính nội dung, để nó tuân thủ với các tiêu chuẩn của AACR2. Hội nghị đi đến kết luận rằng Cộng đồng thư viện nên ráng sức ủng hộ sự phát triển tiếp tục của AACR2 và dự kiến năm 1998, chỉnh biên một lần nữa cho phù hợp với những bưước phát triển mới trong lịch sử AACR2. Đến nay, bộ qui tắc này đã được dịch sang 18 thứ tiếng khác và được xuất bản đồng thời dưới 2 dạng: ấn phẩm và điện tử. Để hỗ trợ cho AACR2 còn có 2 bản hưướng dẫn mới được xuất bản: "Hướng dẫn mô tả thư mục cho tư liệu multimedia tương tác" và "Hướng dẫn mô tả thư mục cho các phiên bản" (reproduction).

Trước năm 1975, AACR đã thâm nhập vào miền Nam nước ta, nơi đã lưu hành và sử dụng bản dịch AACR với nhan đề : "Qui tắc tổng kê Anh-Mỹ". Gần đây, năm 2001, các đồng nghiệp Việt Nam ở nước ngoài, ông Lâm Vĩnh Thế và bà Phạm Thị Lệ Hương đã hoàn thành bản dịch tiếng Việt của Bộ qui tắc Biên mục Anh Mỹ 2 rút gọn (The Concise AACR2), và Hội hỗ trợ thư viện và giáo dục Việt Nam ở Hoa Kỳ (LEAF-VN) dự định xuất bản và đưa về nước phổ biến trong năm nay, sau khi đã lấy ý kiến góp ý của một số chuyên gia biên mục trong nước.

Có thể nói, nhiều qui định trong AACR2 không xa lạ với thực tiễn biên mục Việt Nam vì:

– Từ những năm 70 của thế kỷ trước, các qui tắc biên mục trên thế giới nói chung đã được chuẩn hoá về số lưượng, thứ tự trình bày và hệ thống dấu phân cách các yếu tố/vùng mô tả theo Tiêu chuẩn mô tả thư mục (ISBD). AACR2, như đã trình bày ở trên, không phải là một ngoại lệ. Trong khi đó, từ năm 1984, qui tắc mô tả thư mục của các thư viện Việt Nam hiện hành (đặc biệt là qui tắc của hai thư viện đầu ngành: Thư viện Quốc gia Việt Nam và Thư viện KHKT Trung ương), ở những mức độ khác nhau, đều được biên soạn theo ISBD.

– Thực tế biên mục Việt Nam, trước năm 1985 (năm bắt đầu có những bộ qui tắc dựa theo ISBD), chịu ảnh hưởng rất nhiều của Liên Xô cũ, nơi mà nhiều cán bộ thư viện Việt Nam được đào tạo, nhiều chuyên gia thư viện Liên xô được cử sang Việt Nam hướng dẫn và giảng dạy về biên mục và đặc biệt là bộ qui tắc "Những qui tắc thống nhất mô tả ấn phẩm" (Edinye pravila dlja proizvedenij pechati) đã là tài liệu cơ bản để dịch và biên soạn các qui tắc mô tả của ta thời bấy giờ. Tuy vậy, các qui tắc mô tả ấn phẩm của Liên Xô cũ lại được biên soạn dựa theo truyền thống biên mục Anh-Mỹ (mặc dầu có hạn chế hiện tượng sử dụng tràn lan tiêu đề tác giả tập thể của Qui tắc Anh Mỹ AACR). Ta thấy rất rõ các dấu ấn của AACR trong "Những qui tắc thống nhất mô tả ấn phẩm" của Liên Xô cũ và các qui tắc mô tả của Thư viện Quốc gia Việt Nam (Tác giả: Hoàng Đình Dương) và Thư viện KHKT Trung ương (Tác giả: Nguyễn Kim Anh) thời gian này như: sử dụng những qui định về nhan đề đồng nhất (Uniform title) mặc dầu ít dùng trong thực tế, Tác giả tập thể, bản mô tả chính và bản mô tả phụ, mô tả theo nhan đề với hình thức dòng treo (nhan đề bắt đầu từ vạch dọc thứ nhất của tờ phiếu),…

Những điểm còn có sự khác biệt giữa thực tế biên mục thủ công của Việt Nam hiện nay với AACR2 như sau:

– Từ khi theo ISBD, các thư viện lớn ở Việt Nam đã không phân biệt mô tả chính (đầy đủ) và mô tả phụ (giản lược) [2].

– Qui tắc mô tả của Việt Nam không áp dụng hình thức tiêu đề hay điểm truy nhập kết hợp giữa tên tác giả và nhan đề (tác giả/nhan đề) như đã được đề cập tới trong AACR2 (Điều 21.30G).

– Trong các qui tắc mô tả của Việt Nam (theo ISBD), ở vùng nhan đề và thông tin trách nhiệm, số lượng các tác giả được qui định ghi như sau: Nếu có từ 4 tác giả trở xuống, thì ghi họ tên của tất cả các tác giả ấy; Nếu có từ 5 tác giả trở lên thì chỉ ghi họ tên của 3 tác giả đầu tiên rồi phẩy … [et al.] [1]. Trong khi đó, theo Điều 1.1F5 của AACR2, thì nếu có trên 3 tác giả thì chỉ ghi tên tác giả đầu tiên và… [et al.].

– Trong Qui tắc mô tả của Việt Nam không đề cập đến Định danh chung về tài liệu [GMD] trong vùng nhan đề và thông tin về trách nhiệm.

– Theo các sách giáo khoa và tài liệu hướng dẫn sử dụng AACR2 và trên phiếu mục lục của Thư viện Quốc hội Mỹ, khoản ghi thông tin theo dõi các tiêu đề bổ sung và tham chiếu (tracings) có thêm các tiêu đề (đề mục) chủ đề, đưược đánh thứ tự bằng số ả rập. Còn ở ta, các qui tắc chính thống hầu như không đề cập đến việc ghi tiêu đề (đề mục) chủ đề ở khoản này.

– Bản AACR2 rút gọn so với bản đầy đủ có giản lưược bớt một số qui định, thí dụ, không dùng các chữ viết tắt [s.l.], [s.n.] trong vùng địa chỉ xuất bản trong trường hợp không xác định đưược nơi xuất bản và nhà xuất bản, trong khi đó các qui tắc Việt Nam vẫn có những qui định này.

Như vậy, nếu nhưư cần sử dụng qui tắc biên mục AACR2 để điền vào các phiếu nhập tin theo MARC 21, thì rất nhiều các qui định trong các qui tắc biên mục hiện hành của Việt Nam vẫn còn nguyên giá trị, ta chỉ cần lưu ý đến một số điểm khác biệt đã nêu ở trên. Tuy nhiên, cần nói thêm rằng, MARC 21 (mặc dầu được thiết kế theo mô hình phiếu mục lục AACR2) không nhất thiết đòi hỏi phải sử dụng AACR2, như đã thể hiện bằng các mã trong vị trí 18 của đầu biểu (leader) (mã a: sử dụng AACR2; mã i: sử dụng ISBD).

Tài liệu tham khảo

1. Giáo trình biên mục mô tả / Vũ Văn Sơn. – Hà Nội: Nxb Đại học Quốc gia, 2000. – 250 tr..

2. Một số quan niệm và khái niệm về biên mục trong quá trình phát triển / Vũ Văn Sơn // Tạp chí Thông tin & Tưư liệu. – 1998, No 3 . – tr.3-6.

3. Anglo-American Cataloguing Rules . – 2nd ed., 1988 rev. – Chicago,…: ALA,…, 1988 . – XXV, 677p.

4. The concise AACR2 . – 1998 revision. – Chicago,…: ALA,…, 1988 . -XV, 168p.

5. AACR2 and its place in the digital world / Ann Huthwaite . – http://lcweb.loc.gov/catdir/bibcontrol/huthwaite.html

6. The Anglo-American Cataloguing Rules and their future / R.W. Manning // 64th IFLA General Conference , Amsterdam, 1998 Proceedings . – Paper code number 083-126-E.

Vũ Văn Sơn

(Nguồn trích: Tạp chí Thông tin tư liệu)

​ 

10/27/2016 3:00 PMĐã ban hành/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
KẾT QUẢ TỔNG ĐIỀU TRA KINH TẾ NĂM 2017KẾT QUẢ TỔNG ĐIỀU TRA KINH TẾ NĂM 2017
10/30/2018 10:00 AMĐã ban hành/Shared Documents/2018-10/Photo_Download (1).jpg
Báo cáo Điều tra Lao động việc làm Quý 4 năm 2017Báo cáo Điều tra Lao động việc làm Quý 4 năm 2017
9/15/2018 12:00 PMĐã ban hành/Shared Documents/2018-09/sanayi_devrimi_1.jpg
NGÀY HỘI SÁCH NĂM 2016:  SÁCH - HỘI NHẬP, ĐỔI MỚI, PHÁT TRIỂNNGÀY HỘI SÁCH NĂM 2016:  SÁCH - HỘI NHẬP, ĐỔI MỚI, PHÁT TRIỂN
                   Chào mừng Ngày Sách Việt Nam - 21/4, Ngày Sách và Bản quyền Thế giới - 23/4, trên cơ sở kế hoạch hoạt động thường niên của đơn vị đã được Lãnh đạo Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch phê duyệt, Thư viện Quốc gia Việt Nam cùng các cơ quan: Ban Tuyên giáo Trung ương, Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh thiếu niên nhi đồng Quốc hội, Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, các đại sứ quán, tổ chức quốc tế tại Hà Nội, các cơ quan thông tấn, báo, đài, Cục Xuất bản, In và Phát hành, Cục Báo chí, Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, Hội Nhà văn Việt Nam, Hội Xuất bản Việt Nam, Hội Thư viện Việt Nam, các cơ quan xuất bản, phát hành, Thư viện tỉnh/thành phố, trường đại học, trung học phổ thông, trung học cơ sở, tiểu học, đơn vị và các cá nhân tổ chức Ngày Hội Sách năm 2016, thời gian từ 8h00-17h00, tại Thư viện Quốc gia Việt Nam - 31 Tràng Thi, Hà Nội.
Với chủ đề “Sách - Hội nhập, Đổi mới, Phát triển”, Ngày Hội Sách năm nay tiếp tục được tổ chức nhằm tôn vinh giá trị của sách, khẳng định vai trò, vị trí, tầm quan trọng của sách trong đời sống xã hội; tôn vinh những người làm công tác sưu tầm, sáng tác, xuất bản, in, phát hành, lưu giữ, quảng bá sách, khuyến khích và phát triển phong trào đọc sách trong cộng đồng; nâng cao nhận thức của nhân dân về ý nghĩa to lớn và tầm quan trọng của việc đọc sách đối với việc tiếp thu kiến thức, kỹ năng, phát triển tư duy, giáo dục và rèn luyện nhân cách con người; nâng cao trách nhiệm của các cấp, các ngành, các cơ quan chức năng và các tổ chức xã hội đối với việc xây dựng và phát triển văn hóa đọc Việt Nam...
Kế thừa những thành công sau 10 năm triển khai Ngày Sách tại Thư viện Quốc gia Việt Nam, Ngày Hội Sách 2016 được tổ chức với nhiều hoạt động phong phú; người tham dự có cơ hội gặp gỡ, giao lưu, trao đổi, tiếp xúc với các tác giả, nhà phê bình văn học, nhà sử học, người làm thư viện, bạn đọc... trong chuỗi những hoạt động mang ý nghĩa xã hội và giáo dục như:
(1) Triển lãm tư liệu “Sách - Hội nhập, Đổi mới, Phát triển”: Giới thiệu các tư liệu được xuất bản từ sau năm 1986 về quá trình hội nhập, đổi mới và phát triển của Việt Nam trên các lĩnh vực văn hóa, xã hội, kinh tế, khoa học, kỹ thuật, y tế, giáo dục, an ninh quốc phòng...
(2) Giao lưu tác giả - tác phẩm: Với các diễn giả: Nhà sử học Dương Trung Quốc - Đại biểu Quốc hội, Tổng Thư ký Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam; PGS.TS. Nguyễn Hữu Sơn – Phó Viện trưởng Viện Văn học; GS.TS. NGND Nguyễn Lân Dũng; tác giả Trần Hùng John; TS. Giáo dục Thuỵ Anh; Nhà thơ, nhà báo Hữu Việt giới thiệu, trao đổi về một số tác phẩm đạt giải thưởng của Hội Xuất bản Việt Nam như: Phạm Phú Thứ toàn tập, John đi tìm Hùng, Bộ sách cổ tích mới...
Khách tham dự được tham gia rút thăm may mắn nhận 02 vé khứ hồi Hà Nội-Istabul do Turkist Airlines tài trợ (có điều kiện áp dụng);
(3) Lễ trao giải thưởng Sách Việt Nam lần thứ 11 – năm 2015: Giải thưởng do Hội Xuất bản Việt Nam tổ chức, với sự tham gia của đông đảo các nhà xuất bản và hàng trăm cuốn sách đăng ký dự xét giải. Các hạng mục giải thưởng gồm: Giải Sách hay, Giải Sách đẹp năm 2015 tập trung vào các mảng sách: Khoa học xã hội và nhân văn, Khoa học - Công nghệ, Thiếu nhi…;
(4) Thi đọc sách và cảm nhận về sách: Hướng dẫn kỹ năng đọc sách cho bé; Thi đọc sách và cảm nhận hay nhất về các tác phẩm trong Bộ sách cổ tích mới.
(5) Thi vẽ tranh theo sách: Thông qua trí tưởng tượng và nét vẽ của các bạn nhỏ, các nhân vật trong truyện cổ tích, cảnh đẹp quê hương, đất nước và Việt Nam đang hội nhập quốc tế, đổi mới, phát triển không ngừng sẽ được thể hiện trong các bức vẽ;
(6) Thi sáng tạo sản phẩm theo chủ đề: Học, chơi, sáng tạo và thực hành tạo ra các sản phẩm thủ côngvới nhiều chủ đề: lịch sử, văn hóa, danh thắng và Việt Nam đổi mới và hội nhập;
(7) Thi kể chuyện theo sách (bằng tiếng Việt, tiếng Anh): Sử dụng phương pháp kể chuyện, các em thiếu nhi sẽ tái hiện những câu chuyện vềtấm gương tiêu biểu của con người Việt Nam trong lao động, học tập, đấu tranh bảo vệ và dựng xây đất nước, về tình thầy trò và tình cảm gia đình, bạn bè; qua đó ngợi ca tình yêu với quê hương đất nước, truyền thống tôn sư trọng đạo, uống nước nhớ nguồn, tôn vinh lòng vị tha, nhân ái, tính khiêm tốn, học hỏi, tinh thần hợp tác và giúp đỡ lẫn nhau, chia sẻ khó khăn với những người xung quanh.
(8) Thi nhận diện tác giả, tác phẩm:Giới thiệu các tác phẩm tiêu biểu với công chúng để người tham gia nhận diện tên tác giả, tác phẩm về lịch sử, văn hóa-văn học Việt Nam và thế giới;
(9) Trò chơi – đố vui: Người chơi sẽ được thử sức với các trò chơi vận động, trả lời các câu đố vui hài hước, thú vị trên nhiều lĩnh vực;
(10) Tiếp nhận tài trợ từ các cơ quan, tổ chức, cá nhân: Quyên góp, tiếp nhận sách tài trợ của các tổ chức, cá nhân... để hỗ trợ các thư viện vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo trong cả nước;
(11) Hội chợ sách: Với sự tham gia gian hàng bán sách giá ưu đãi của một số nhà xuất bản, nhà sách với hàng ngàn tên sách có nội dung phong phú, quà tặng hấp dẫn...
4/20/2016 10:00 AMĐã ban hành/Shared Documents/2016-04/2016-04-11-nhs-07.jpg
Giới thiệu nguyên tắc biên mục quốc tế mớiGiới thiệu nguyên tắc biên mục quốc tế mới
Tuyên bố về nguyên tắc biên mục quốc tế
Dẫn nhập
Tuyên bố về Nguyên tắc, thường được gọi là “Nguyên tắc Pari”, được thông qua tại Hội nghị Quốc tế về Nguyên tắc Biên mục năm 1961 . Mục tiêu đặt cơ sở cho việc chuẩn hoá quốc tế về biên mục của Nguyên tắc chắc chắn đã đạt được bởi hầu hết các quy tắc biên mục được phát triển trên thế giới từ đó đến nay đã tuân thủ Nguyên tắc một cách chặt chẽ hoặc ở mức độ cao.
Hơn bốn mươi năm sau, việc xây dựng một tập hợp chung những quy định biên mục mới trở nên cấp thiết hơn cho các nhà biên mục và khách hàng sử dụng mục lục công cộng truy cập trực tuyến (OPAC) trên khắp thế giới. Hiện nay, khi bắt đầu Thế kỷ 21, IFLA đã nỗ lực để đưa ra một tuyên bố mới về nguyên tắc có thể áp dụng cho các mục lục thư viện trực tuyến và cả bên ngoài chúng. Nguyên tắc đầu tiên là đảm bảo sự thuận tiện cho người sử dụng mục lục.
Tuyên bố này thay thế và mở rộng phạm vi của Nguyên tắc Pari từ chỉ áp dụng cho các tác phẩm văn bản sang cho mọi dạng tài liệu và từ chỉ về lựa chọn và hình thức của phiếu thư mục sang mọi khía cạnh của dữ liệu thư mục và dữ liệu kiểm soát nhất quán được sử dụng trong các mục lục thư viện. Nó bao gồm không chỉ những nguyên tắc và mục tiêu (chức năng của mục lục) mà cả những nguyên tắc chỉ đạo cần đưa vào trong những quy tắc biên mục quốc tế cũng như những hướng dẫn về khả năng tìm và tìm hồi cố.
Tuyên bố này bao gồm:
1. Phạm vi
2. Các nguyên tắc chung
3. Thực thể, thuộc tính và quan hệ
4. Mục tiêu và chức năng của mục lục
5. Bản mô tả thư mục
6. Các điểm truy cập
7. Cơ sở cho khả năng tìm kiếm
Tuyên bố này được xây dựng dựa trên truyền thống biên mục vững chắc của thế giới [1]. và trên mô hình khái niệm Yêu cầu Chức năng của Biểu ghi Thư mục (FRBR) của IFLA [2].
Hy vọng rằng Tuyên bố này sẽ tăng cường sự chia sẻ quốc tế dữ liệu thư mục và dữ liệu kiểm soát nhất quán, và hướng những người tạo ra các quy tắc biên mục tới những nỗ lực phát triển một quy tắc biên mục quốc tế.
1. Phạm vi
Những nguyên tắc được nêu ở đây nhằm định hướng việc phát triển những quy tắc biên mục. Chúng áp dụng cho dữ liệu thư mục và dữ liệu kiểm soát nhất quán và những mục lục thư viện hiện nay. Những nguyên tắc này cũng được áp dụng cho các mục lục và những tệp dữ liệu khác do các thư viện, lưu trữ, bảo tàng và những cộng đồng khác tạo ra.
Chúng có mục đích cung cấp cách tiếp cận nhất quán về biên mục mô tả và biên mục chủ đề cho mọi loại tài nguyên thư mục.
2. Những nguyên tắc chung
Một số nguyên tắc định hướng việc xây dựng các quy tắc biên mục [3].. Nguyên tắc cao nhất là sự thuận tiện cho người sử dụng [4]..
2.1. Sự thuận tiện cho người sử dụng. Các quyết định trong việc lập mô tả và các hình thức có kiểm soát của tên cho việc truy cập cần được thực hiện với sự cân nhắc về người sử dụng.
2.2. Tính sử dụng đại chúng. Từ vựng sử dụng trong mô tả và truy cập cần phù hợp với đa số người sử dụng.
2.3. Tính đại diện. Những mô tả và các hình thức có kiểm soát của tên cần được dựa trên cách thức mà chính thực thể sử dụng để mô tả bản thân.
2.4. Tính chính xác. Thực thể được mô tả cần được miêu tả một cách trung thành.
2.5. Tính đầy đủ và cần thiết. Chỉ nên đưa vào mô tả và vào hình thức có kiểm soát của tên để truy cập những yếu tố dữ liệu cần thiết để thực hiện các yêu cầu của người sử dụng và những yếu tố dữ liệu thiết yếu để phân biệt một cách đặc thù thực thể.
2.6. Sự quan trọng. Những yếu tố dữ liệu cần có giá trị về thư mục.
2.7. Tính kinh tế. Khi có những cách thức lựa chọn khác nhau để đạt được mục tiêu, cần ưu tiên chọn cách thức kinh tế nhất (chi phí thấp nhất hoặc cách tiếp cận đơn giản nhất).
2.8. Tính nhất quán và chuẩn hoá. Các bản mô tả và việc xây dựng các điểm truy cập cần được chuẩn hoá đến mức tối đa. Điều này đảm bảo sự nhất quán hơn, từ đó nâng cao khả năng chia sẻ dữ liệu thư mục và dữ liệu kiểm soát nhất quán.
2.9. Tính tích hợp. Những mô tả cho các dạng tài liệu và các hình thức có kiểm soát của tên của mọi loại thực thể cần dựa trên tập hợp những quy tắc chung khi phù hợp.
Những quy định trong quy tắc biên mục cần phải được xem xét và tránh cứng nhắc. Có thể nhận thấy rằng một số nguyên tắc có thể mâu thuẫn với nhau trong một vài tình huống đặc thù và cần có giải pháp được xem xét và thực tế.
3. Thực thể, thuộc tính và quan hệ
Một quy tắc biên mục cần xem xét các thực thể, thuộc tính và quan hệ như định nghĩa trong các mô hình khái niệm của thế giới thư mục [5]..
3.1. Thực thể
Những thực thể sau đây có thể được thể hiện bởi dữ liệu thư mục và dữ liệu kiểm soát nhất quán:
Tác phẩm Biểu hiện Biểu thị
Tài liệu [6].
           Cá nhân Dòng họ Tập thể [7].
Khái niệm
Đối tượng Sự kiện
Địa điểm [8]..
3.2. Thuộc tính
Các thuộc tính định danh thực thể cần được sử dụng làm những yếu tố dữ liệu.
3.3. Quan hệ
Những quan hệ có giá trị về thư mục giữa các thực thể cần được xác định.
4. Mục tiêu và Chức năng của mục lục [9].
Mục lục cần phải là công cụ hiệu quả và hiệu suất để giúp người sử dụng:
4.1. Tìm ra tài nguyên thư mục trong một sưu tập do kết quả của việc tìm tin sử dụng những thuộc tính hoặc quan hệ của tài nguyên:
4.1.1. Tìm ra một tài nguyên đơn lẻ
4.1.2. Tìm ra một tập hợp các tài nguyên đại diện cho
mọi tài nguyên thuộc về cùng một tác phẩm mọi tài nguyên thể hiện cùng một biểu hiện mọi tài nguyên đại diện cùng một biểu thị
mọi tài nguyên liên kết với một cá nhân, dòng họ hoặc tập thể
mọi tài nguyên về một chủ đề
mọi tài nguyên được xác định theo những tiêu chí khác (ngôn ngữ, nơi xuất bản, ngày xuất bản, loại nội dung, loại vật đựng, v.v...), thường là những yếu tố phụ để thu hẹp kết quả tìm tin;
4.2. Định danh một tài nguyên hoặc chủ thể (nghĩa là giúp khẳng định rằng thực thể được mô tả tương ứng với thực thể được chọn ra hoặc để phân biệt giữa hai hoặc nhiều thực thể có những đặc điểm tương tự);
4.3. Lựa chọn ra tài nguyên phù hợp với nhu cầu của người sử dụng (nghĩa là để chọn ra một tài nguyên thỏa mãn yêu cầu của người sử dụng về vật mang tin, nội dung, vật đựng, v.v..., hoặc để loại ra tài nguyên không phù hợp với nhu cầu của người sử dụng);
4.4. Có được hoặc nhận được sự truy cập đến tài liệu được mô tả (nghĩa là cung cấp thông tin giúp người sử dụng có được tài liệu thông qua việc mua, cho mượn, v.v... hoặc truy cập tài liệu theo phương thức điện tử thông qua kết nối trực tuyến đến tài nguyên từ xa); hoặc để truy cập, có được hoặc nhận được dữ liệu kiểm soát nhất quán hoặc dữ liệu thư mục;
4.5. Chuyển hướng trong mục lục hoặc bên ngoài khuôn khổ đó (nghĩa là thông qua sự sắp xếp lôgic của dữ liệu thư mục, dữ liệu kiểm soát nhất quán và sự trình bày của các đường liên kết rõ ràng, bao gồm cả sự trình bày mối quan hệ giữa các tác phẩm, biểu hiện, biểu thị, tài liệu, cá nhân, dòng họ, tập thể, khái niệm, đối tượng, sự kiện và địa điểm).
5. Bản mô tả thư mục
5.1. Nói chung, tạo một bản mô tả thư mục cho mỗi một biểu thị.
5.2. Về cơ bản, bản mô tả thư mục cần được dựa trên một tài liệu là đại diện của biểu thị và có thể bao gồm những thuộc tính gắn liền với tác phẩm và biểu hiện liên quan.
5.3. Dữ liệu mô tả cần dựa trên những chuẩn được quốc tế chấp nhận [10].
5.4. Những mô tả có thể ở một vài cấp độ chi tiết phụ thuộc vào mục đích của mục lục hoặc tệp dữ liệu thư mục. Thông tin về cấp độ chi tiết cần được thông báo đến đến người sử dụng.
6. Điểm truy cập
6.1. Phần chung
Các điểm truy cập cho việc tìm hồi cố dữ liệu thư mục và dữ liệu kiểm soát nhất quán cần được lập theo những nguyên tắc chung dưới đây (xem 2. Những nguyên tắc chung). Các điểm truy cập có thể kiểm soát hoặc không kiểm soát.
6.1.1. Những điểm truy cập có kiểm soát cần được tạo lập cho những hình thức cho phép hoặc hình thức khác của tên cho những thực thể là cá nhân, dòng họ, tập thể, tác phẩm, biểu hiện, biểu thị, tài liệu, khái niệm, đối tượng, sự kiện và địa điểm. Những điểm truy cập có kiểm soát cung cấp sự nhất quán cần thiết để sắp xếp vào một chỗ các biểu ghi thư mục cho những tập hợp các tài nguyên.
6.1.1.1. Những biểu ghi kiểm soát nhất quán cần được được tạo lập để kiểm soát những hình thức cho phép của tên, hình thức khác của tên và những mã định danh được sử dụng làm điểm truy cập.
6.1.2.   Những điểm truy cập không kiểm soát có thể được cung cấp làm dữ liệu thư mục cho tên, nhan đề (thí dụ nhan đề chính tìm thấy trên biểu thị), các mã, từ khóa, v.v... không được kiểm soát trong biểu ghi kiểm soát nhất quán.
6.2. Lựa chọn điểm truy cập
6.2.1. Đưa vào điểm truy cập cho biểu ghi thư mục những điểm truy cập có kiểm soát cho tác phẩm và biểu thị (có kiểm soát) của tài nguyên, nhan đề của biểu thị (thường không kiểm soát) và những điểm truy cập có kiểm soát cho những sáng tác viên của tác phẩm.
6.2.1.1. Tập thể là sáng tác viên: Một tập thể phải được coi như là sáng tác viên của những tác phẩm mà nó thể hiện tư duy hoặc hoạt động tập thể của tập thể, hoặc khi trật tự từ ngữ trong nhan đề được lập trên cơ sở bản chất của tác phẩm cho thấy rằng tập thể chịu trách nhiệm về nội dung của tác phẩm. Điều này được áp dụng ngay cả khi một cá nhân ký xác nhận tác phẩm theo thẩm quyền là quan chức hoặc nhân viên của tập thể đó.
6.2.2.   Ngoài ra, các điểm truy cập cần được lập cho các biểu ghi thư mục của điểm truy cập cho phép về cá nhân, dòng họ, tập thể và chủ đề được cho là quan trọng trong việc tìm và định danh tài nguyên thư mục đang mô tả.
6.2.3.   Đưa hình thức cho phép của tên của thực thể cũng như những hình thức khác của tên làm điểm truy cập đến biểu ghi kiểm soát nhất quán.
6.2.4. Việc truy cập bổ sung có thể được thực hiện thông qua tên của các thực thể liên quan.
6.3. Điểm truy cập cho phép
Điểm truy cập cho phép đối với tên của một thực thể cần được nhập vào một biểu ghi kiểm soát nhất quán cùng với những mã định danh cho thực thể và những hình thức khác của tên. Có thể cần có một hình thức hiển thị ngầm định cho điểm truy cập cho phép.
6.3.1. Điểm truy cập cho phép cần được lập tuân thủ một tiêu chuẩn.
6.3.2. Ngôn ngữ và chữ viết của điểm truy cập cho phép.
6.3.2.1. Khi tên được thể hiện bằng một vài ngôn ngữ và/hoặc chữ viết, cần dành ưu tiên cho điểm truy cập cho phép theo tên được dựa trên thông tin tìm thấy trên biểu thị của tác phẩm được thể hiện bằng ngôn ngữ và chữ viết gốc;
6.3.2.1.1. Nhưng nếu ngôn ngữ và chữ viết gốc không được sử dụng thông thường trong mục lục, điểm truy cập cho phép có thể được lập dựa trên những hình thức tìm thấy trên biểu thị hoặc trong các nguồn tra cứu thể hiện bằng một trong những ngôn ngữ hoặc chữ viết phù hợp nhất cho người sử dụng mục lục.
6.3.2.1.2. Điểm truy cập bằng ngôn ngữ và chữ viết gốc cần được cung cấp bất cứ khi nào có thể, thông qua một điểm truy cập cho phép hoặc theo hình thức cho phép của tên hoặc hình thức khác của tên.
6.3.2.2. Nếu việc chuyển tự là cần thiết, cần tuân thủ chuẩn quốc tế về chuyển tự.
6.3.3. Lựa chọn điểm truy cập cho phép
Tên được ưu tiên làm điểm truy cập cho phép cho thực thể cần được dựa vào tên dùng để định danh thực thể một cách nhất quán và là tên thường gặp nhất trên những biểu thị hoặc tên được chấp nhận rộng rãi phù hợp với người sử dụng mục lục (thí dụ, tên thông dụng) thấy trong những nguồn tham khảo.
6.3.3.1. Lựa chọn điểm truy cập cho cá nhân, dòng họ và tập thể
Nếu một cá nhân, dòng họ hoặc một tập thể sử dụng những tên khác nhau hoặc những hình thức khác của tên, cần chọn một tên hoặc một hình thức của tên làm cơ sở cho điểm truy cập cho phép cho mỗi định danh riêng biệt.
6.3.3.1.1. Khi những hình thức khác của tên được tìm thấy trên biểu thị và/hoặc các nguồn tra cứu và sự khác biệt này không dựa trên sự trình bày khác nhau của cùng một tên (thí dụ, dạng đầy đủ và dạng rút gọn), cần ưu tiên:
6.3.3.1.1.1. Tên hay được biết đến nhất (hoặc còn gọi là "tên thông thường") thay cho tên chính thức nếu được chỉ định; hoặc
6.3.3.1.1.2 . Tên chính thức, khi không có chỉ định về tên hay được biết đến nhất hoặc tên thông dụng.
6.3.3.1.2. Nếu một tập thể sử dụng trong những giai đoạn kế tiếp nhau những tên khác nhau nhưng không thể coi đó là những thay đổi nhỏ của một tên, thì mỗi thực thể được định danh bởi một thay đổi tên quan trọng cần được coi là một thực thể mới. Dữ liệu chuẩn tương ứng đối với mỗi thực thể cần được liên kết bằng cách liên hệ hình thức có kiểm soát cũ và mới của tên đối với tập thể đó.
6.3.3.2. Lựa chọn điểm truy cập cho phép cho Tác phẩm và Biểu hiện
Khi một tác phẩm có nhiều nhan đề, ưu tiên chọn một nhan đề làm cơ sở cho điểm truy cập cho phép cho tác phẩm/biểu thị.
6.3.4. Hình thức của tên cho các điểm truy cập cho phép
6.3.4.1. Hình thức của tên cá nhân
Khi tên của một cá nhân bao gồm một số từ, việc lựa chọn từ đầu tiên cho điểm truy cập cho phép cần tuân thủ cách thức sử dụng thông dụng của nước và ngôn ngữ liên quan nhiều nhất với cá nhân đó như thấy trên biểu thị hoặc nguồn tra cứu.
6.3.4.2. Hình thức của tên cho dòng họ
Khi tên của một dòng họ bao gồm một số từ, việc lựa chọn từ đầu tiên cho điểm truy cập cho phép cần tuân thủ cách thức sử dụng thông dụng của nước và ngôn ngữ liên quan nhiều nhất với dòng họ đó như thấy trên biểu thị hoặc nguồn tra cứu.
6.3.4.3. Hình thức tên tập thể
Về điểm truy cập chuẩn cho tập thể, tên cần được ghi theo trật tự thuận như thấy trên biểu thị hoặc trong những nguồn tra cứu, trừ trường hợp
6.3.4.3.1. Khi tập thể là một bộ phận của một pháp quyền hoặc chính quyền của một lãnh thổ, cần đưa vào điểm truy cập cho phép hình thức tên đang sử dụng của lãnh thổ liên quan bằng ngôn ngữ và chữ viết phù hợp nhất với nhu cầu của người sử dụng mục lục;
6.3.4.3.2. Khi tên tập thể cho phép hiểu đây là đơn vị trực thuộc hoặc đơn vị chức năng trực thuộc, hoặc không đủ để định danh tập thể trực thuộc, điểm truy cập cho phép cần bắt đầu bằng tên của tổ chức cấp trên.
6.3.4.4. Hình thức tên của tác phẩm/biểu thị
Điểm truy cập cho phép cho tác phẩm, biểu hiện, biểu thị hoặc tài liệu có thể là nhan đề đứng độc lập hoặc có thể là nhan đề kết hợp với điểm truy cập cho phép cho sáng tác viên của tác phẩm.
6.3.4.5. Phân biệt các tên
Nếu cần thiết, để phân biệt một thực thể này với một thực thể khác có cùng tên, những đặc trưng định danh khác cần được đưa vào điểm truy cập cho phép cho thực thể. Nếu cần thiết, những đặc trưng định danh nói trên cũng có thể được đưa vào như là điểm truy cập như một phần của những hình thức khác của tên.
6.4. Tên khác và những hình thức khác của tên
Bất cứ tên nào được chọn cho điểm truy cập cho phép, những tên khác và những hình thức khác của tên cần được đưa vào làm điểm truy cập có kiểm soát.
7. Nền tảng cho khả năng tìm tin
7.1. Tìm kiếm
Các điểm truy cập là những yếu tố của những biểu ghi thư mục và biểu ghi kiểm soát nhất quán mà chúng 1) cung cấp khả năng tìm tin hồi cố tin cậy những biểu ghi thư mục, biểu ghi kiểm soát nhất quán và những tài nguyên thư mục liên kết với chúng, và 2) thu hẹp kết quả tìm tin.
7.1.1. Công cụ tìm tin
Các tên, nhan đề và chủ đề cần được làm sao có thể tìm và tìm hồi cố được bằng những phương tiện của bất kỳ công cụ nào có trong mục lục thư viện hoặc trong tệp dữ liệu thư mục (bằng hình thức đầy đủ của tên, từ khóa, cụm từ, kỹ thuật chặt cụt, mã định danh, v.v...).
7.1.2. Điểm truy cập cần thiết
Những điểm truy cập cần thiết là những điểm dựa trên những thuộc tính và quan hệ chính của mỗi thực thể trong biểu ghi thư mục hoặc biểu ghi kiểm soát nhất quán.
7.1.2.1. Những điểm truy cập cần thiết trong biểu ghi thư mục bao gồm:
Điểm truy cập cho phép cho tên của sáng tác viên hoặc sáng tác viên được nêu tên đầu tiên của tác phẩm khi có nhiều hơn một tên;
Điểm truy cập cho phép cho tác phẩm/biểu hiện (nó có thể bao gồm điểm truy cập cho phép cho sáng tác viên);
Nhan đề chính hoặc nhan đề được lập cho biểu thị;
Năm/những năm công bố hoặc xuất bản biểu thị;
Những thuật ngữ chủ đề có kiểm soát và/hoặc số phân loại của tác phẩm;
Các số tiêu chuẩn, mã định danh và nhan đề khóa cho thực thể được mô tả.
7.1.2.2. Điểm truy cập cần thiết trong biểu ghi kiểm soát nhất quán bao gồm:
Tên cho phép hoặc nhan đề của thực thể; Mã định danh của thực thể;
Tên khác và hình thức khác của tên hoặc nhan đề của thực thể.
7.1.3. Điểm truy cập bổ sung
Những thuộc tính từ những vùng khác của mô tả thư mục hoặc biểu ghi kiểm soát nhất quán có thể dùng làm những điểm truy cập lựa chọn hoặc làm công cụ lọc hoặc thu hẹp tìm tin.
7.1.3.1. Những thuộc tính như vậy trong biểu ghi thư mục bao gồm, nhưng không chỉ giới hạn ở:
Tên của sáng tác viên không phải tên người đầu tiên;
Tên của cá nhân, dòng họ hoặc tập thể có vai trò khác sáng tác viên (thí dụ, người biểu diễn);
Nhan đề khác (thí dụ, nhan đề song song, nhan đề chú thích);
Điểm truy cập cho phép cho tùng thư; Mã định danh biểu ghi thư mục;
Ngôn ngữ của biểu hiện được thể hiện trong biểu thị;
Nơi xuất bản;
Loại nội dung;
Loại vật đựng.
7.1.3.2. Những thuộc tính như vậy trong biểu ghi kiểm soát nhất quán bao gồm, nhưng không chỉ giới hạn ở:
Tên hoặc nhan đề của những thực thể liên quan;
Những định danh biểu ghi kiểm soát nhất quán.
7.2. Tìm hồi cố
Khi kết quả tìm kiếm đưa ra một số biểu ghi có cùng điểm truy cập, những biểu ghi này cần được hiển thị theo một trình tự logic thuận tiện cho người sử dụng mục lục, ưu tiên tuân thủ một chuẩn phù hợp với ngôn ngữ và chữ viết của điểm truy cập.
Bảng thuật ngữ
Bảng thuật ngữ bao gồm những thuật ngữ trong Tuyên bố về Nguyên tắc Biên mục Quốc tế (ICP) được sử dụng theo cách thức đặc thù (không đơn thuần là những định nghĩa từ điển thông thường) [11]. Ở phần cuối Bảng là những thuật ngữ sử dụng trong Nguyên tắc Pari hoặc những quy tắc biên mục trước đó mà những chuyên gia tham gia các Cuộc họp Chuyên gia IFLA về Quy tắc Biên mục Quốc tế (IME ICC [12]) muốn ghi chú rằng chúng không còn được sử dụng trong Nguyên tắc Biên mục Quốc tế.
TR = Thuật ngữ rộng hơn; TH = Thuật ngữ hẹp hơn; TL = Thuật ngữ liên quan.
Bản mô tả thư mục [Bibliographic description] – Tập hợp những dữ liệu thư mục để định danh một tài nguyên thư mục.
[Nguồn: ISBD chỉnh lý]
Xem thêm Biên mục mô tả [TL]
Biên mục chủ đề [Subject cataloguing] – Phần của công tác biên mục cung cấp những thuật ngữ chủ đề có kiểm soát và/hoặc chỉ số phân loại.
[Nguồn: IME ICC]
Xem thêm Biên mục mô tả [TL]
Biên mục mô tả [Descriptive cataloguing] – Phần của công tác biên mục cung cấp dữ liệu mô tả và các điểm truy cập không phải chủ đề.
[Nguồn: IME ICC]
Xem thêm Bản mô tả thư mục [TL], Biên mục chủ đề [TL]
Biểu ghi dữ liệu kiểm soát nhất quán [Authority record] – Tập hợp những yếu tố dữ liệu định danh một thực thể và có thể sử dụng để tạo thuận lợi cho truy cập đến những điểm truy cập cho phép cho thực thể đó hoặc cho sự hiển thị của bất kỳ điểm truy cập nào của thực thể đó.
[Nguồn: IME ICC]
Biểu ghi thư mục [Bibliographic record] – Tập hợp những yếu tố dữ liệu mô tả và cung cấp việc truy cập đến một tài nguyên thư mục và định danh những tác phẩm và biểu hiện liên quan.
[Nguồn: IME ICC]
Biểu hiện [Expression] – Sự hiện thực hoá trí tuệ hoặc nghệ thuật của một tác phẩm.
[Nguồn: FRAD, FRBR]
Biểu thị [Manifestation] – Hiện thân vật lý của một biểu hiện của một tác phẩm.
[Nguồn: FRAD, FRBR]
Một biểu thị có thể là hiện thân của một sưu tập các tác phẩm, một tác phẩm đơn lẻ hoặc một phần hợp thành của tác phẩm. Biểu thị có thể xuất hiện dưới hình thức một hoặc nhiều đơn vị vật lý.
[Nguồn: IME ICC]
Cá nhân [Person] – Một cá thể hoặc một nhận dạng đơn lẻ được lập hoặc được áp dụng cho một cá thể hoặc một nhóm.
[Nguồn: FRBR, được sửa đổi trong FRAD, IME ICC chỉnh lý]
Chủ thể [Agent] – Người (tác giả, nhà xuất bản, nhà điêu khắc, người biên tập, đạo diễn, nhạc sỹ, v.v...) hoặc nhóm (dòng họ, tổ chức, công ty, thư viện, dàn nhạc, đất nước, liên bang, v.v...) hoặc thiết bị tự động (thiết bị ghi dữ liệu thời tiết, chương trình dịch phần mềm, v.v...) có vai trò trong chu trình sống của tài nguyên
[Nguồn: DCMI Agents Working Group, định nghĩa làm việc và sửa đổi]
Xem thêm Sáng tác viên [TH]
Có giá trị thư mục [Bibliographically significant] – Chất lượng của một thực thể hoặc thuộc tính hoặc quan hệ mà nó có ý nghĩa hoặc giá trị đặc biệt trong ngữ cảnh tài nguyên thư mục.
[Nguồn: IME ICC]
Dòng họ [Family] – Hai hoặc nhiều cá nhân liên quan với nhau bởi việc sinh sản, hôn nhân, nhận con nuôi hoặc những tình trạng pháp lý tương tự hoặc những hình thức khác thể hiện đây llà dòng họ.
[Nguồn: FRAD, chỉnh lý bởi IME ICC]
Địa điểm [Place] – Một nơi chốn. [Nguồn: FRBR]
Điểm truy cập [Access point ] – Tên, thuật ngữ, mã, v.v... nhờ chúng dữ liệu thư mục hoặc dữ liệu chuẩn hóa được tìm và định danh.
[Nguồn: GARR sửa theo FRAD và IME ICC]
Xem thêm Điểm truy cập bổ sung [TH]; Điểm truy cập cho phép [TH], Điểm truy cập có kiểm soát [TH], Điểm truy cập cần thiết [TH], Tên [TL], Điểm truy cập không kiểm soát [TH], Hình thức khác của tên [TH]
Điểm truy cập bổ sung [Additional access point] – Điểm truy cập có thể được sử dụng để bổ sung cho những điểm truy cập cần thiết để tăng cường cho tìm hồi cố dữ liệu thư mục hoặc dữ liệu cho phép.
[Nguồn: IME ICC]
Xem thêm Điểm truy cập [TR], Điểm truy cập cần thiết [TL]
Điểm truy cập cần thiết [Essential access point] – Điểm truy cập dựa trên thuộc tính hoặc quan hệ chủ yếu của thực thể trong biểu ghi thư mục hoặc biểu ghi dữ liệu kiểm soát nhất quán đảm bảo việc tìm ra và định danh biểu ghi đó.
[Nguồn: IME ICC]
Xem thêm Điểm truy cập [TR], Điểm truy cập bổ sung [TL]
Điểm truy cập cho phép [Authorized access point] – Điểm truy cập được ưu tiên cho một thực thể, được thiết lập và xây dựng theo những quy tắc hoặc tiêu chuẩn.
[Nguồn: IME ICC]
Xem thêm Điểm truy cập [TR], Hình thức cho phép của tên [TL], Điểm truy cập có kiểm soát [TR], Tên ưu tiên [TL], Hình thức khác của tên [TL]
Điểm truy cập chuẩn hoá [Normalized access point] - Xem Điểm truy cập cho phép
Điểm truy cập có kiểm soát [Controlled access point] – Điểm truy cập được nhập vào biểu ghi dữ liệu kiểm soát nhất quán.
[Nguồn: GARR sửa đổi]
Các điểm truy cập có kiểm soát bao gồm các dạng được chuẩn hoá của tên cũng như những dạng được coi là dạng biến thể. Chúng có thể:
- Dựa trên tên cá nhân, dòng họ, tập thể,
- Dựa trên tên (nhan đề) cho tác phẩm, biểu hiện, biểu thị và tài liệu,
- Kết hợp cả hai tên, như trong trường hợp điểm truy cập theo tên/nhan đề thể hiện một tác phẩm mà nó phối hợp tên của sáng tác viên với nhan đề của tác phẩm,
- Dựa trên những thuật ngữ cho sự kiện, đối tượng và địa điểm,
- Dựa trên các mã định danh như các số tiêu chuẩn, chỉ số phân loại, v.v...,
Những yếu tố khác (như ngày) có thể được bổ sung nếu cần nhằm mục đích phân biệt những thực thể có tên giống nhau hoàn toàn hoặc tương tự.
[Nguồn: FRAD – dựa trên chú thích rằng trọng tâm của mô hình là về tên và những thuật ngữ được kiểm soát thông qua tệp dữ liệu cho phép]
Xem thêm Điểm truy cập [TR], Điểm truy cập cho phép [TH], Tên [TL], Điểm truy cập không kiểm soát [TL], Hình thức khác của tên [TH]
Điểm truy cập không kiểm soát [Uncontrolled access point] – Điểm truy cập không được kiểm soát bằng biểu ghi kiểm soát nhất quán.
[Nguồn: IME ICC]
Xem thêm Điểm truy cập [TR], Điểm truy cập có kiểm soát [TL]
Đối tượng [Object] – Một thứ có tính chất vật chất.
[Nguồn: FRBR]
Hình thức cho phép của tên [Authorized form of name] – Dạng của tên được chọn làm điểm truy cập cho phép cho một thực thể.
Xem thêm Điểm truy cập cho phép [TL], Tên thông dụng [TL], Tên [TR], Tên ưu tiên [TL], Hình thức khác của tên [TL]
Hình thức khác của tên [Variant form of name] – Một dạng của tên không được chọn làm điểm truy cập cho phép cho thực thể. Nó có thể được sử dụng để truy cập biểu ghi dữ liệu kiểm soát nhất quán cho thực thể hoặc được trình bày như một liên kết đến điểm truy cập cho phép.
[Nguồn: IME ICC]
Xem thêm Điểm truy cập [TR], Điểm truy cập cho phép [TL], Hình thức cho phép của tên [TL], Điểm truy cập có kiểm soát [TR], Tên thông dụng [TL], Tên [TR]
Khái niệm [Concept] – Một tuyên bố hoặc ý tưởng trừu tượng.
[Nguồn: FRAD (liên kết cùng với chủ đề), FRBR]
Loại của nội dung [Type of content] - Xem Loại nội dung
Loại của vật đựng [Type of carrier] - Xem Loại vật đựng
Loại nội dung [Content type] – Một tên gọi phản ảnh hình thức truyền thông cơ bản trong đó nội dung được thể hiện và giác quan của con người thông qua đó nội dung được tiếp nhận. Dạng nội dung phản ảnh thuộc tính của cả tác phẩm và biểu thị.
[Nguồn: sửa đổi từ Bảng thuật ngữ cho RDA tháng 1/2008]
Loại vật đựng [Carrier type] – Một tên gọi phản ảnh hình thức của môi trường lưu trữ hoặc chứa đựng của một vật đựng trong sự kết hợp với dạng thiết bị trung gian cần thiết để xem, nghe, chạy lại, v.v... nội dung của tài nguyên. Dạng vật đựng phản ảnh các thuộc tính của biểu thị.
[Nguồn: sửa đổi từ tháng 1/2008 của Bảng thuật ngữ cho RDA]
Mã định danh [Identifier] Một số, mã, từ, cụm từ, biểu trưng, thiết bị, v.v... đi kèm với thực thể và dùng để phân biệt thực thể này với những thực thể khác bên trong lĩnh vực mà ở đó mã định danh được gán.
[Nguồn: FRAD]
Nhan đề khoá [Key title] – Tên duy nhất được gán cho tài nguyên tiếp tục bởi Mạng lưới ISSN và liên kết một cách không tách rời với số ISSN của tài nguyên. Nhan đề khoá có thể giống như nhan đề chính; hoặc để đạt được sự duy nhất, nó có thể được thiết lập bằng việc bổ sung những yếu tố định danh và/hoặc bổ ngữ như tên của cơ quan xuất bản, nơi xuất bản, thông tin lần xuất bản.
[Nguồn: ISBD]
Quan hệ [Relationship] – Mối liên kết đặc thù giữa các thực thể hoặc đại diện của chúng
[Nguồn: dựa theo FRBR]
Sáng tác viên [Creator] – Người, dòng họ hoặc tập thể chịu trách nhiệm về nội dung trí tuệ hoặc nghệ thuật của một tác phẩm.
[Nguồn: IME ICC]
Xem thêm Chủ thể [TR]
Sự kiện [Event] – Một hoạt động hoặc một sự việc xảy ra.
[Nguồn: FRAD (những thứ không hành động với tư cách một tập thể được coi là chủ đề), FRBR]
Sưu tập [Collection] - 1. Tập hợp thực hoặc ảo của một hoặc nhiều tác phẩm hoặc các phần của tác phẩm được kết hợp lại hoặc xuất bản cùng nhau. 2. Tập hợp thực hoặc ảo của những tài nguyên thư mục được giữ hoặc được tạo ra bởi một tổ chức.
[Nguồn: IME ICC]
Tác phẩm [Work] – Một sáng tạo trí tuệ hoặc nghệ thuật riêng biệt (hay là nội dung trí tuệ hoặc nghệ thuật).
[Nguồn FRAD, FRBR, chỉnh lý bởi IME ICC]
Tài liệu [Item] – Một bản riêng rẽ của một biểu thị.
[Nguồn: FRAD, FRBR]
Tài nguyên thư mục [Bibliographic resource] – Một thực thể bên trong khuôn khổ thư viện hoặc những sưu tập tương tự bao gồm những sản phẩm của sáng tạo trí tuệ hoặc nghệ thuật. Tài nguyên thư mục trong mô hình FRBR là những thực thể Nhóm 1: tác phẩm, biểu hiện, biểu thị, tài liệu.
[Nguồn: IME ICC]
Tập thể [Corporate body] – Một tổ chức hoặc nhóm cá nhân và/hoặc tổ chức được định danh bằng một tên cụ thể và hoạt động hoặc có thể hoạt động như một đơn vị.
[Nguồn: sửa đổi theo FRAD, FRBR]
Tên [Name] – Ký tự, từ hoặc nhóm từ và/hoặc nhóm các từ, ký tự làm cho thực thể được biết đến; bao gồm các từ/ký tự chỉ cá nhân, dòng họ, tập thể; bao gồm thuật ngữ làm cho những khái niệm, đối tượng, sự kiện, địa điểm được biết đến; bao gồm nhan đề được gán cho tác phẩm, biểu hiện, biểu thị hoặc tài liệu. Được sử dụng làm cơ sở cho điểm truy cập.
[Nguồn: FRBR, được sửa đổi trong FRAD]
Xem thêm Điểm truy cập [TL], Hình thức cho phép của tên [TH], Điểm truy cập có kiểm soát [TL], Tên thông dụng [TH], Tên ưu tiên [TH], Hình thức khác của tên [TH]
Tên thông dụng [Conventional name] – Một tên, khác với tên chính thức, qua đó một tập thể, địa điểm hoặc sự việc được biết đến.
[Nguồn: Sửa đổi theo Bảng thuật ngữ của AACR2 chỉnh lý 2002]
Xem thêm Hình thức cho phép của tên [TL], Tên [TR], Hình thức khác của tên [TL]
Tên ưu tiên [Preferred name] – Tên được chọn cho một thực thể theo quy tắc hoặc tiêu chuẩn, sử dụng làm cơ sở cho việc xây dựng điểm truy cập chuẩn cho thực thể.
[Nguồn: IME ICC]
Xem thêm Điểm truy cập cho phép [TL], Hình thức cho phép của tên [TL], Tên thông dụng [TL], Tên [TR]
Thế giới thư mục [Bibliographic universe] – Lĩnh vực liên quan đến các sưu tập thư viện, lưu trữ, bảo tàng và những cộng đồng thông tin khác.
[Nguồn: IME ICC]
Thực thể [Entity] – Cái gì đó có đặc tính đơn vị và độc lập; cái tồn tại độc lập hoặc riêng biệt; một thứ được trừu tượng hoá, khái niệm ý tưởng, đối tượng tư duy hoặc đối tượng mơ hồ.
[Nguồn: Webster’s 3rd]
Thí dụ về các dạng thực thể trong FRBR và FRAD bao gồm sản phẩm của sáng tạo trí tuệ và nghệ thuật (tác phẩm, biểu hiện, biểu thị, tài liệu); các chủ thể (thí dụ cá nhân, dòng họ, tập thể) chịu trách nhiệm về sáng tạo ra nội dung trí tuệ hoặc nghệ thuật, về sản xuất và phổ biến nội dung ở dạng thức vật lý hoặc về duy trì sự lưu giữ sản phẩm; hoặc chủ đề của một tác phẩm (tác phẩm, biểu hiện, biểu thị, tài liệu, cá nhân, dòng họ, tập thể, khái niệm, đối tượng, sự kiện, địa điểm).
[Nguồn: IME ICC]
Thuộc tính [Attribute] – Đặc trưng của một thực thể. Một thuộc tính có thể là vốn có [cố hữu] bên trong thực thể hoặc có thể được gán cho từ bên ngoài.
[Nguồn: FRBR]
NGUỒN THAM KHẢO
AACR2 – Anglo-American Cataloguing Rules. – 2nd edition, 2002 revision. – Ottawa: Canadian Library Association; London: Chartered Institute of Library and Information Professionals; Chicago: American Library Association, 2002-2005.
DCMI Agents Working Group – Dublin Core Metadata Initiative, Agents Working Group. From Web page, 2003 (working definitions): http://dublin- core.org/groups/agents/ Final report available online at: http://dublincore.org/documents/dcmi- terms/#classes-Agent)
FRAD – Functional Requirements for Authority Data: A Conceptual Model – Final Report, 2008.
FRBR – Functional Requirements for Bibliographic Records: Final Report. – Munich : Saur, 1998. (IFLA UBCIM publications new series; v. 19). Có trên Website của IFLA: http://www.ifla.org/VII/s13/frbr/ (tháng 9/997, sửa đổi, hiệu chỉnh tháng 2/2008)
GARR – Guidelines for Authority Records and References. 2nd ed., rev. – Munich : Saur, 2001. (IFLA UBCIM publications new series; v. 23). Có trực tuyến tại: http://www.ifla.org/VII/s13/garr/garr.pdf
IME ICC – IFLA Meeting of Experts on an International Cataloguing Code (1st-5th : 2003- 2007), recommendations from the participants
ISBD – International Standard Bibliographic Description (ISBD): preliminary consolidated edition. – Munich : Saur, 2007. (IFLA Series on Bibliographic Control; v. 31). Có trực tuyến tại: http://www.ifla.org/VII/s13/pubs/ISBD_consolidat- ed_2007.pdf
RDA – RDA: Resource Description and Access. Glossary Draft. 5JSC/Chair/11/Rev (Jan. 2008, Table 1). Có trực tuyến tại: http://www.collectionscana- da.gc.ca/jsc/rda.html#drafts
Webster’s 3rd – Webster’s Third New International Dictionary. – Springfield, Mass. : Merriam, 1976.
Những thuật ngữ không còn sử dụng
Đơn vị thư mục [Bibliographical unit] xem Biểu thị
Tiêu đề [Heading] xem Điểm truy cập cho phép, Điểm truy cập có kiểm soát
Tham chiếu [Reference] xem Hình thức khác của tên
Nhan đề đồng nhất [Uniform title] xem Điểm truy cập cho phép, Hình thức cho phép của tên, Tên
Nghị quyết của IME ICC2008:
Những người tham gia IME ICC nghị quyết như sau:
- Thực hiện chỉnh lý biên tập khi cần thiết đối với văn bản được những chuyên gia tham dự IME ICC thông qua;
- Phổ biến văn bản cho mọi tổ chức lập quy tắc phù hợp và các tổ chức của IFLA cũng nhưng báo chí chuyên ngành;
- Hiệu đính và công bố Tuyên bố nguyên tắc Biên mục quốc tế (ICP statement), Bảng thuật ngữ và làm cho nó được công bố trên web miễn phí;
- Đảm bảo tiếp tục công việc chỉ lý khi FRAD và FRSAR được hoàn chỉnh và mô hình hoặc sơ đồ dữ liệu biên mục phát tiến hoá, duy trì các tư liệu của IME ICC và chia sẻ thông tin về quá trình, kết quả của IME ICC.
Chúng tôi khuyến nghị rằng Tiểu ban Biên mục IFLA có trách nhiệm duy trì văn bản và tiến hành việc xem xét lại chúng sau khoảng thời gian 5 năm để cập nhật nếu cần thiết có tham vấn cộng đồng thông tin lớn hơn.
Ghi chú
[1] Cutter, Charles A. : Rules for a Dictionary Catalog. 4th ed., rewritten. Washington, D.C. : Government Printing office. 1904;
Ranganathan, S.R. : Heading and Canons. Madras [India] : S. Viswanathan, 1955; và Lubetzky, Seymour. Principles of Cataloging. Final Report. Phase I : Descriptive Cataloging. Los Angeles, Calif. : University of California, Institute of Library Research, 1969.
[2] Functional Requirements for Bibliographic Records: Final report. – Munich : Saur, 1998. (IFLA UBCIM pub lications new series ; v. 19). Có trên Website của IFLA: http://www.ifla.org/VII/s13/frbr/ (tháng 9/1997, có sửa đổi và hiệu chỉnh tháng 2/2008).
Mô hình FRBR sắp tới được mở rộng sang Yêu cầu Chức năng đối với Dữ liệu Kiểm soát Nhất quán (Functional Requirements for Authority Data (FRAD)) và Yêu cầu Chức năng đối với Dữ liệu Kiểm soát Chủ đề (Functional Requirements for Subject Authority Data (FRSAD)).
[3] Dựa trên tài liệu tham khảo thư mục, đặc biệt là của Ranganathan và Leibniz theo mô tả trong: Svenonius, Elaine. The Intellectual Foundation of Information Organization. Cambridge, Mass.: MIT Press, 2000, p. 68. Về các từ điển từ chuẩn chủ đề (thesauri), sẽ áp dụng những nguyên tắc bổ sung khác nhưng chưa đưa vào tuyên bố này.
[4] Nguyên tắc 2.2 đến 2.9 được sắp xếp một cách ngẫu nhiên.
[5] Các mô hình khái niệm của IFLA gồm FRBR, FRAD và FRSAD.
[6] Các thực thể Tác phẩm, Biểu hiện, Biểu thị và Tài liệu là những thực thể Nhóm 1 trong mô hình FRBR.
[7] Các thực thể Cá nhân, Họ và Tập thể là những thực thể Nhóm 2 trong mô hinh FRBR.
[8] Các thực thể Khái niệm, Đối tượng, Sự kiện và Địa điểm là những thực thể Nhóm 3 trong mô hình FRBR.
[9] Các mục 4.1-4.5 dựa trên : Svenonius,Elaine.The Intellectual Foundation of Information Organization.Cambridge, Mass.:MIT Press,2000.
[10] Đối với cộng đồng thư viện, chuẩn được chấp nhận quốc tế là Mô tả thư mục chuẩn quốc tế ISBD (International Standard Bibliographic Description).
[11] Trong bản gốc, thuật ngữ được sắp xếp theo vần
chữ cái tiếng Anh. Chúng tôi sắp xếp theo vần chữ cái tiếng Việt và có chú thích tiếng Anh (Người dịch)
[12] IME ICC là viết tắt của "IFLA Meetings of Experts
on an International Cataloguing Code".
 
____________
Cao Minh Kiểm dịch
Nguồn: Tạp chí Thư viện Việt Nam số 3(23) – 2010 (tr.28-38)

1/7/2018 11:00 AMĐã ban hành/Shared Documents/2019-01/Thu vien hutech.jpg
Niên giám thống kê hải quan về hàng hóa xuất nhập khẩu 2017 (bản tóm tắt)Niên giám thống kê hải quan về hàng hóa xuất nhập khẩu 2017 (bản tóm tắt)
Niên giám được phát hành song ngữ (tiếng Việt và tiếng Anh) với thông tin về hoạt động XNK giữa Việt Nam với gần 200 thị trường là đối tác thương mại chủ yếu của nước ta. Thông tin về hoạt động XNK được xây dựng, phục vụ tra cứu theo mã số HS (6 số).

Niên giám thống kê hàng hóa XNK là cơ sở để Chính phủ, các bộ, ngành dẫn chiếu tham khảo, tham mưu về chính sách kinh tế đối ngoại của Chính phủ và các nhu cầu khác của các tổ chức, cá nhân sử dụng thông tin thống kê; đồng thời phục vụ nhu cầu tìm hiểu, phát triển thị trường XNK của các DN, hiệp hội DN có quan tâm…
9/13/2018 11:00 AMĐã ban hành/Shared Documents/2018-09/db463c_c66a753e5d3c4ac49ba2dac2cd7c9e9e_mv2.png
Hệ thống Thống kê Cộng đồng ASEANHệ thống Thống kê Cộng đồng ASEAN
ấn phẩm “Hệ thống Thống kê Cộng đồng ASEAN” nhằm cung cấp cho độc giả các thông tin về quá trình hình thành và phát triển của Hệ thống Thống kê Cộng đồng ASEAN.
Ấn phẩm bao gồm 4 phần:
(1) Phần 1. Lịch sử hình thành và phát triển của Thống kê ASEAN;
(2) Phần 2. Cơ sở pháp lý cho hoạt động của Thống kê ASEAN;
 (3) Phần 3. Cơ chế hoạt động của Thống kê ASEAN;
(4) Phần 4. Cộng đồng ASEAN qua những con số, gồm các số liệu cập nhật, đồ họa thông tin liên quan tới các lĩnh vực như nhân khẩu học, kinh tế, tự do hóa thương mại, đầu tư trực tiếp nước ngoài, tiến bộ xã hội của các quốc gia thành viên ASEAN.
9/22/2018 10:00 AMĐã ban hành/Shared Documents/2018-09/20140510-asean_631EE40F926E4C4BAC5372C260226AD9.jpg
Tổng điều tra kinh tế năm 2017 - Kết quả hoạt động của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài giai đoạn 2011-2016Tổng điều tra kinh tế năm 2017 - Kết quả hoạt động của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài giai đoạn 2011-2016
Sau hơn 30 năm thực hiện công cuộc đổi mới, Việt Nam đã đat được nhiều thành tựu về phát triển kinh tế - xã hội, từng bước hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế khu vực và thế giới. Để có được thành tựu đó, đầu tư trực tiếp nước ngoài đã đóng góp  một phần không nhỏ, cuốn sách Tổng điều tra kinh tế năm 2017 - Kết quả hoạt động của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài giai đoạn 2011-2016 thể hiện rõ những hoạt động của các doanh nghiệp FDI trong những năm gần đây.
Nội dung sách gồm các phần:
Phần I: Tổng quan về hoạt động đầu tư nước ngoài tại Việt Nam giai đoạn 2011-2016.
Phần II: Số liệu thu hút đầu tư nước ngoài giai đoạn 2011-2016.
Phần III: Số liệu tổng hợp kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp FDI giai đoạn 2011-2016
5/13/2019 11:00 AMĐã ban hành/Shared Documents/2019-05/FDI-08d18.jpg
SÁCH MỚI QUÝ III TẠI THƯ VIỆNSÁCH MỚI QUÝ III TẠI THƯ VIỆN

Supporting the Establishment of Vietnam's 2011-20 Socio- economic Development Strategy

Tham luận tại Đại hội địa biểu toàn quốc lần thứ XI

Agreements on the promotion and protection of Investment

Giáo trình thống kê dân số và lao động

Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư giữa Việt Nam và các quốc gia, vùng lãnh thổ

Total portfolio of projects calling for investment in Vietnam up to 2020- Tổng danh mục các dự án kêu gọi đầu tư ở Việt Nam đến năm 2020

Trade/ Investment issues and Recommendations

triển vọng phát triển kinh tế- xã hội Việt Nam đến 2010

Báo cáo đánh giá toàn diện 20 năm quan hệ hợp tác phát triển giữa Việt Nam và các nhà tài trợ (1993-2013)

Giới thiệu về thống kê Việt Nam A guide to Vietnam statistical system

Thực hiên phát triển bền vững ở Việt Nam

Báo cáo Đầu tư Công nghiệp Việt Nam 2011

CÁc vấn đề thương mại/ Đầu tư và kiến nghị 2013

Văn bản pháp luật về đầu tư và doanh nghiệp

Tình hình kinh tế- xã hội Việt Nam mười năm 2001-2010

Enhancing Asean's connectivity

Hệ thống ngành kinh tế Việt Nam 2007

Cam kết về đầu tư trong các hiệp định thương mại tự do giữa Asean và các đối tác ngoài khối

Số liệu thống kê vị thế Kinh tế- xã hội 63 tỉnh, thành phố Việt Nam

Green growth in motion : Sharing Korea's Experience

Khai thác và phát triển: Tài nguyên nhân lực Việt Nam

Biên giới trên đất liền Việt Nam- Trung Quốc

Hướng tới nền kinh tế Xanh. Lộ trình cho phát triển bền vững và xóa đói giảm nghèo

Về các mối quan hệ lớn cần được giải quyết tốt trong quá trình đổi mới đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta

Các công ước cơ bản về quyền con người

Hội đồng chính sách khoa học và công nghệ quốc gia ( nhiệm kỳ 2012-2016)

Quy hoạch từ lý thuyết đến thực tiễn ở nước chuyển đổi mô hình phát triển

Những vấn đề về kinh tế- xã hội trong cương lĩnh ( Bổ sung, phát triển năm 2011)

Sổ tay tìm hiểu các quy định pháp luật về đất đai và gaiir quyết khiếu nại, tố cáo

Niên giám thống kê 2015

Niên giám thống kê 2008

Niên giám thống kê 2010

​ 

10/27/2016 10:00 AMĐã ban hành/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
Niên giám Thống kê 2016Niên giám Thống kê 2016
Niên giám Thống kê là ấn phẩm được Tổng cục Thống kê, Bộ Kế hoạch và Đầu tư xuất bản hàng năm, bao gồm những số liệu thống kê cơ bản phản ánh khái quát động thái và thực trạng kinh tế - xã hội của cả nước, của các vùng, các địa phương.
9/18/2018 10:00 AMĐã ban hành/Shared Documents/2018-09/Photo_Download.jpg
Ngày Hội Sách năm 2019 tại Thư viện Quốc gia Việt NamNgày Hội Sách năm 2019 tại Thư viện Quốc gia Việt Nam
Với chủ đề "Sách - Kết nối tri thức và phát triển", Ngày Hội Sách năm 2019 sẽ được tổ chức vào ngày 19/4 tới, tại Thư viện Quốc gia Việt Nam - 31 Tràng Thi, Hà Nội

Ngày Hội Sách năm nay tiếp tục được tổ chức nhằm tôn vinh giá trị của sách, khẳng định vai trò, vị trí, tầm quan trọng của sách trong đời sống xã hội; tôn vinh những người làm công tác sưu tầm, sáng tác, xuất bản, in, phát hành, lưu giữ, quảng bá sách; khuyến khích và phát triển phong trào đọc sách trong cộng đồng; qua đó nâng cao nhận thức của nhân dân về ý nghĩa to lớn và tầm quan trọng của việc đọc sách đối với việc tiếp thu kiến thức, kỹ năng, phát triển tư duy, giáo dục và rèn luyện nhân cách con người; đồng thời nâng cao trách nhiệm của các cấp, các ngành, các cơ quan chức năng và các tổ chức xã hội đối với việc xây dựng và phát triển văn hóa đọc Việt Nam.

Ngày Hội Sách 2019 bao gồm nhiều hoạt động như: Triển lãm tư liệu "Sách - Kết nối tri thức và phát triển": Trưng bày các tư liệu với nội dung giới thiệu về quá trình hình thành và phát triển tri thức thông qua các học thuyết, các phát minh, sáng chế vĩ đại; về tinh hoa tri thức nhân loại, các nền văn hóa, văn minh và những điều bí ẩn của giới tự nhiên cùng những khám phá của con người; về sự kết nối của tri thức từ quá khứ, hiện tại với tương lai, tạo tiền đề cho phát triển và mang lại nhiều thành tựu trong các lĩnh kinh tế, văn hóa, xã hội, khoa học và công nghệ…

Giao lưu tác giả - tác phẩm: Giới thiệu đến bạn đọc những cuốn sách tiêu biểu, mang tính giáo dục, định hướng cao của các nhà xuất bản. Giao lưu cùng tác giả - Họa sĩ Trang Thanh Hiền và giới thiệu cuốn sách Tranh tết "Nét tinh hoa truyền thống Việt"; giao lưu cùng tác giả - Giáo sư, tiến sĩ Thái Kim Lan và ra mắt cuốn sách "Mai này mưa tạnh trong Xuân" của Nhà xuất bản Kim Đồng.

Bên cạnh đó, Ban tổ chức còn tổ chức thi vẽ tranh theo sách với chủ đề "Hà Nội - Thành phố vì hòa bình". Các di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh, công trình kiến trúc... của Thủ đô sẽ được thể hiện lại trong các bức tranh, thông qua nét vẽ và sự tưởng tượng của các em thiếu nhi.

Thi kể chuyện theo sách bằng tiếng Việt và tiếng Anh. Những câu chuyện về lịch sử, văn hoá, văn học Việt Nam và thế giới sẽ được giáo viên và học sinh các trường phổ thông tái hiện lại thông qua hình thức kể chuyện bằng tiếng Việt, tiếng Anh.

Ngoài ra còn tổ chức thi nhận diện tác giả, tác phẩm: Các câu hỏi để nhận diện tác giả, tác phẩm, nhân vật và danh thắng sẽ mang đến cho người tham dự những góc nhìn thú vị về các tác phẩm văn học trong nhà trường… Với sự tham gia của một số nhà xuất bản, nhà sách, tại Hội Sách sẽ giới thiệu hàng ngàn tên sách có nội dung phong phú, giá bán ưu đãi, quà tặng hấp dẫn.

Ban tổ chức cũng sẽ tiếp nhận tài trợ từ các cơ quan, tổ chức, cá nhân... để hỗ trợ các thư viện vùng sâu, vùng xa, thư viện còn gặp nhiều khó khăn./.​

4/19/2019 10:00 AMĐã ban hành/Shared Documents/2019-04/2019-04-08-nhs2019-3.jpg
Ngày hội Sách 2017: " Sách - Tri thức và Phát triển xã hội"Ngày hội Sách 2017: " Sách - Tri thức và Phát triển xã hội"
Chào mừng Ngày Sách Việt Nam - 21/4, Ngày Sách và Bản quyền Thế giới - 23/4, Thư viện Quốc gia Việt Nam phối hợp với nhiều cơ quan tổ chức Ngày Hội Sách năm 2017 với chủ đề “Sách - Tri thức và Phát triển xã hội” từ ngày 20 đến 21 tháng 4 năm 2017.
Ngày Hội Sách 2017 với chủ đề “Sách - Tri thức và Phát triển xã hội” được tổ chức nhằm tôn vinh giá trị của sách, khẳng định vai trò, vị trí, tầm quan trọng của sách trong đời sống xã hội; tôn vinh những người làm công tác sưu tầm, sáng tác, xuất bản, in, phát hành, lưu giữ, quảng bá sách; khuyến khích và phát triển phong trào đọc sách trong cộng đồng; nâng cao nhận thức của nhân dân về ý nghĩa to lớn và tầm quan trọng của việc đọc sách đối với việc tiếp thu kiến thức, kỹ năng, phát triển tư duy, giáo dục và rèn luyện nhân cách con người; nâng cao trách nhiệm của các cấp, các ngành, các cơ quan chức năng và các tổ chức xã hội đối với việc xây dựng và phát triển văn hoá đọc Việt Nam.
Nhằm hưởng ứng tinh thần Ngày sách Việt nam nói trên, đồng thời khẳng định vai trò, vị trí, tầm quan trọng của các công trình nghiên cứu trong lĩnh vực kinh tế-xã hội đóng góp tích cực vào sự phát triển của đất nước và cũng là cơ hội để giới thiệu và quảng bá các ấn phẩm thông tin, tài liệu nghiên cứu, hội thảo, sách chuyên ngành kinh tế-xã hội tới cộng đồng học thuật và cộng đồng bạn đọc trên cả nước, với vai trò là Thư viện đầu mối trong Chi Hội Thư viện chuyên ngành kinh tế trên địa bàn Thành phố Hà Nội, Thư viện Trung tâm Thông tin và Dự báo kinh tế-xã hội Quốc gia phối hợp với một số thư viện thành viên Chi Hội tham gia hoạt động trưng bày triển lãm trong thời gian diễn ra Ngày hội Sách 2017.
Cùng phối hợp tham gia triển lãm lần này có 5 thành viên trong Chi hội Thư viện chuyên ngành kinh tế trên địa bàn Thành phố Hà Nội, đó là: Thư viện Trung tâm Thông tin và Dự báo kinh tế - xã hội quốc gia, Thư viện Viện Chiến lược phát triển, Thư viện Viện nghiên cứu và Quản lý kinh tế Trung ương, Thư viện Học Viện Ngân hàng và Thư viện Viện Nghiên cứu kinh tế-xã hội Hà Nội. Nội dung tham gia trưng bày triển lãm là các ấn phẩm thông tin, tài liệu nghiên cứu, tạp chí chuyên ngành, tài liệu hội thảo, tài liệu nghiên cứu, sách do các đơn vị xuất bản,…

Trích nguồn:NCIF
Tác giả: BBT
4/26/2017 10:00 AMĐã ban hành/Shared Documents/2017-04/IMG_2283.JPG
NGÀY HỘI SÁCH NĂM 2018  SÁCH – TRI THỨC KIẾN TẠO TƯƠNG LAINGÀY HỘI SÁCH NĂM 2018  SÁCH – TRI THỨC KIẾN TẠO TƯƠNG LAI

Chào mừng Ngày Sách Việt Nam 21/4, Ngày Sách và Bản quyền Thế giới 23/4; trên cơ sở kế hoạch hoạt động thường niên của đơn vị đã được Lãnh đạo Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch ủng hộ, Thư viện Quốc gia Việt Nam cùng các cơ quan Trung ương, Ban, Bộ, Ngành, các thư viện, trường học, các tổ chức quốc tế, các doanh nghiệp… tổ chức Ngày Hội Sách năm 2018, thời gian từ 8h00 - 12h00, ngày 19/04/2018 tại Thư viện Quốc gia Việt Nam - 31 Tràng Thi, Hà Nội.

Với chủ đề “Sách - Tri thức kiến tạo tương lai”, Ngày Hội Sách năm nay tiếp tục được tổ chức nhằm tôn vinh giá trị của sách, khẳng định vai trò, vị trí, tầm quan trọng của sách trong đời sống xã hội; tôn vinh những người làm công tác sưu tầm, sáng tác, xuất bản, in, phát hành, lưu giữ, quảng bá sách; khuyến khích và phát triển phong trào đọc sách trong cộng đồng; nâng cao nhận thức của nhân dân về ý nghĩa to lớn và tầm quan trọng của việc đọc sách đối với việc tiếp thu kiến thức, kỹ năng, phát triển tư duy, giáo dục và rèn luyện nhân cách con người; nâng cao trách nhiệm của các cấp, các ngành, các cơ quan chức năng và các tổ chức xã hội đối với việc xây dựng và phát triển văn hóa đọc Việt Nam.

Ngày Hội Sách 2018 bao gồm các hoạt động:

(1) Triển lãm tư liệu “Sách - Tri thức kiến tạo tương lai”: Trưng bày các tư liệu với nội dung giới thiệu vai trò của sách, tri thức trong đời sống xã hội và kỹ năng, phương pháp đọc, học, nghiên cứu để tích luỹ kiến thức khởi nghiệp, làm giàu; về cuộc đời, sự nghiệp của các nhà khoa học, bác học... và những thành tựu, phát minh làm thay đổi thế giới; các xu hướng và tầm quan trọng của việc kết nối tri thức để kiến tạo tương lai.

(2) Lễ trao Giải thưởng Sách Quốc gia lần thứ nhất: Giải thưởng do Hội Xuất bản Việt Nam tổ chức, với sự tham gia của đông đảo các nhà xuất bản và hàng trăm cuốn sách đăng ký dự xét giải. Các hạng mục giải thưởng gồm: Giải Sách hay, Giải Sách đẹp tập trung vào 8 mảng sách: Lý luận - Chính trị, Giáo dục - Đào tạo, Khoa học tự nhiên và công nghệ, Khoa học xã hội và nhân văn, Văn hóa - Nghệ thuật, Văn học và Thiếu nhi;

(3) Giao lưu tác giả - tác phẩm: Nhà sử học Dương Trung Quốc và tác giả: Nguyễn Huy Thắng, Trần Chí Nghĩa ; diễn giả : Nhà nghiên cứu Bùi Việt Thắng, Nhà thơ Hữu Thỉnh, TS. Nguyễn Mạnh Hùng-CEO ThaihaBooks, TS. Giáo dục Nguyễn Thụy Anh cùng giới thiệu, trao đổi, giao lưu với bạn đọc về tác phẩm “Văn nghệ và kháng chiến qua ống kính Trần Văn Lưu”, “Nét cũ duyên xưa”, sách truyện thiếu nhi…

(4) Thi vẽ tranh theo sách: Với chủ đề “Hà Nội trong mắt em”, các di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh, công trình kiến trúc... của Thủ đô sẽ được thể hiện lại trong các bức tranh, thông qua nét vẽ và sự tưởng tượng của các em thiếu nhi;

(5) Thi kể chuyện theo sách bằng tiếng Việt: Những câu chuyện về lịch sử, văn hoá, văn học Việt Nam và thế giới sẽ được các giáo viên trường phổ thông tái hiện lại thông qua hình thức kể chuyện bằng tiếng Việt cho học sinh nghe. Phương thức thể hiện mới này chắc chắn sẽ mang lại nhiều trải nghiệm thú vị cho người tham dự;

(6) Thi kể chuyện theo sách bằng tiếng Anh: Những câu chuyện về lịch sử, văn hoá, văn học Việt Nam và thế giới sẽ được các em thiếu nhi cảm nhận và tái hiện lại thông qua hình thức kể chuyện bằng tiếng Anh;

(7) Thi nhận diện tác giả, tác phẩm: Giới thiệu một số tác phẩm tiêu biểu để người tham gia nhận diện tên tác giả, tác phẩm liên quan đến lịch sử, văn hoá, văn học, danh lam thắng cảnh của Việt Nam và thế giới;

(8) Tiếp nhận tài trợ từ các cơ quan, tổ chức, cá nhân: Quyên góp, tiếp nhận sách tài trợ của các tổ chức, cá nhân... để hỗ trợ các thư viện vùng sâu, vùng xa, thư viện còn gặp nhiều khó khăn;

(9) Hội chợ sách: Với sự tham gia của một số nhà xuất bản, nhà sách giới thiệu hàng ngàn tên sách có nội dung phong phú, giá bán ưu đãi, quà tặng hấp dẫn.​
4/10/2018 9:45 AMĐã ban hành/Shared Documents/2018-08/DSC_8011.JPG
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HỆ THỐNG THƯ VIỆN CÔNG CỘNGNÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HỆ THỐNG THƯ VIỆN CÔNG CỘNG

Nâng cao chất lượng hệ thống thư viện công cộng

Xã hội ngày càng phát triển, nhu cầu hưởng thụ văn hóa của con người cũng từng bước được nâng cao. Một trong số đó là nhu cầu tìm kiếm thông tin phục vụ cho công việc, học tập cũng như cuộc sống hàng ngày. Bởi lẽ đó, thư viện công cộng với mục tiêu cuối cùng là đáp ứng đầy đủ nhu cầu thông tin của bạn đọc đã và đang đóng một vai trò đặc biệt quan trọng trong sự phát triển của văn hóa - xã hội.

Thư viện là một thiết chế văn hóa có nhiệm vụ rất quan trọng trong việc sưu tầm, thu thập, lưu trữ, bảo quản lâu dài các xuất bản phẩm dân tộc nhằm phục vụ việc đọc và học tập suốt đời của người dân. Việc duy trì và phát triển hệ thống thư viện công cộng luôn là chủ trương của Đảng và Nhà nước, là hệ thống "xương sống" của hệ thông thư viện cả nước, được tổ chức theo đơn vị lãnh thổ nhằm tạo hành lang pháp lý cho các địa phương có căn cứ và cơ sở để tiến hành tổ chức, phát triển mạng lưới thư viện công cộng của địa phương. Sự cần thiết của thư viện công cộng Đất nước ta đang trong quá trình hội nhập quốc tế với việc đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước.

Để rút ngắn khoảng cách, nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế, con đường duy nhất của chúng ta là khai thác triệt để nguồn thông tin khoa học phong phú trên thế giới, vận dụng một cách sáng tạo vào thực tiễn của Việt Nam. Đảm bảo thông tin cho các tầng lớp nhân dân là sứ mạng của hệ thống các cơ quan thông tin – thư viện Việt Nam, trong đó có hệ thống thư viện công cộng. Những năm gần đây, hoạt động của Hệ thống thư viện công cộng nước ta đã có những bước phát triển vững chắc cả về số lượng và chất lượng.

Mạng lưới thư viện công cộng được mở rộng từ trung ương đến các tỉnh, thành phố, quận, huyện, xã phường.  Hướng tới đối tượng phục vụ đa dạng, nhiệm vụ của thư viện công cộng lại càng trở nên khó khăn và phức tạp hơn bao giờ hết. Có nhiệm vụ thỏa mãn nhu cầu thông tin của mọi tầng lớp nhân dân, trong đó chủ yếu là những người lao động và chuẩn bị tham gia lao động. Nhu cầu thông tin của họ gắn bó chặt chẽ với hoạt động lao động sản xuất. Khi nhu cầu thông tin của họ được thỏa mãn đầy đủ, đồng nghĩa với năng suất lao động xã hội có điều kiện được nâng cao hơn. Như vậy, thư viện công cộng chính là một trong những kênh thông tin quan trọng và thuận lợi giúp cho các tầng lớp nhân dân trong nước tiếp cận đến những nguồn thông tin phù hợp nhất với nhu cầu của họ, qua đó góp phần tích cực vào phát triển sản xuất, làm phong phú hơn đời sống tinh thần của mỗi người dân. Thư viện công cộng còn là nơi tổ chức các hoạt động sinh hoạt văn hóa, tuyên truyền phổ biến kiến thức về các loại hình nghệ thuật, là nơi gặp gỡ của các nhà văn, nhà thơ, các câu lạc bộ địa phương; góp phần giáo dục thẩm mỹ, xóa nạn mù chữ ở nhiều địa phương; đồng thời là công cụ hữu hiệu hỗ trợ việc tự học của mỗi cá nhân, củng cố thói quen đọc sách của mỗi người, đặc biệt là thế hệ trẻ. Bên cạnh đó, với lượng thông tin phong phú và có hệ thống, thư viện công cộng sẽ cung cấp cho người dân những tri thức phục vụ cuộc sống, góp phần nâng cao nhận thức, tuyên truyền văn hóa và những thành tựu khoa học làm giàu cho đời sống tinh thần của mỗi người. Nâng cao chất lượng hệ thống thư viện công cộng Đóng vai trò vô cùng quan trọng trong đời sống văn hóa – xã hội, việc đẩy mạnh và nâng cao chất lượng của hệ thống thư viện công cộng là vô cùng cần thiết. Trước tiên, cần cải tiến các hình thức phục vụ trong thư viện theo hướng chất lượng và đa dạng hơn, phù hợp với tâm lý và tập quán của người dùng tin nhằm tạo điều kiện cho moi người dân Việt nam, từ miền núi đến đồng bằng, từ thành thị đến nông thôn đều có cơ hội tiếp cận và sử dụng tài liệu của thư viện công cộng. Để thoả mãn nhu cầu tin của người đọc, những năm gần đây ngoài việc duy trì và nâng cao chất lượng dịch vụ đọc và mượn tài liệu, các thư viện cần phát triển nhiều dạng dịch vụ như dịch vụ tra cứu, tham khảo số, cung cấp thông tin chọn lọc, tra cứu trực tuyến, sử dụng tài liệu điện tử với các CSDL toàn văn (tài liệu số hoá), nhân bản tài liệu, khai thác internet, giải đáp thông tin qua điện thoại,… Việc nâng cao chất lượng công tác phục vụ người đọc của người cán bộ thư viện cũng đóng vai trò không nhỏ. Cán bộ thư viện là lực lượng chủ chốt trong việc xây dựng phong trào đọc sách ở cơ sở và phong trào làm theo sách "người tốt, việc tốt", "làm theo sách khoa học kỹ thuật".

Công tác đào tạo cán bộ thư viện cần tập trung vào đào tạo chuẩn các kỹ năng:  Nhận dạng đúng các yêu cầu tin; truy cập thông tin có hiệu quả và đúng theo pháp lý; đánh giá thông tin và nguồn tin có phê phán; hiểu được các vấn đề về văn hoá, chính trị, xã hội, pháp lý và kinh tế trong việc sử dụng thông tin; có kỹ năng giao tiếp hiệu quả với đa dạng nhóm người dùng tin; có khả năng tra cứu thông tin trên mạng, sử dụng thành thạo các công cụ tham khảo, bao quát được các nguồn tin; có khả năng giải quyết các tình huống trong quá trình phục vụ người đọc. Có như vậy, họ mới thực sự trở thành người hướng dẫn, tư vấn cho người dân một cách hiệu quả nhất. Bên cạnh đó, các cơ quan trung ương và chính quyền địa phương cần triển khai những giải pháp hợp lý để đầu tư có hiệu quả việc phát triển cơ sở của hệ thống thư viện tại mỗi cơ sở thông qua việc đầu tư các trang bị cần thiết như: kệ sách, tủ, máy tính, mạng internet,…để góp phần thúc đẩy việc đáp ứng nhu cầu tìm kiếm thông tin của người đọc một cách nhanh chóng và thuận tiện nhất.

 Hy vọng rằng, với sự quan tâm và đầu tư đúng đắn của chính quyền và nhà nước, trong những năm tới, hệ thống thư viện công cộng tại nước ta sẽ ngày càng phát triển cả về chất lượng và số lượng. Có như thế, thư viện công cộng mới thực sự trở thành "xương sống" của hệ thống thư viện cả nước, góp phần hỗ trợ đắc lực cho công tác quản lý của nhà nước, vì một xã hội phát triển toàn diện, vững mạnh.

(theo http://vanhoa.gov.vn/)​


10/27/2016 10:00 AMĐã ban hành/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
Báo cáo Điều tra Lao động việc làm năm 2016Báo cáo Điều tra Lao động việc làm năm 2016
9/15/2018 1:00 PMĐã ban hành/Shared Documents/2018-09/Photo_Download.jpg
THÔNG BÁO SÁCH MỚI QUÝ II TẠI THƯ VIỆNTHÔNG BÁO SÁCH MỚI QUÝ II TẠI THƯ VIỆN

1Tổ chức và hoạt động của văn phòng Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính Phủ
2Phát triển nhanh và bền vững nền kinh tế Việt Nam ( thời kì 2011-2020)
3Managing Flow. A Process Theory of Knowledge- Based Firm
4Messages for the 21st century
5Kỷ yếu hội thảo diễn đàn kinh tế Việt – Pháp
6Những lữ khách Ý trong hành trình khám phá Việt Nam
7Legal documents on investment and enterprises
8Hệ thống ngành kinh tế Việt Nam 2007
9Một số văn bản pháp luật về đầu tư và doanh nghiệp
10Results – based final report for implementation of the five- year socio-economic development plan 2006-2010
11Báo cáo nghiên cứu đánh giá cuối kỳ dựa trên kết quả tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2006/2010
12Kinh tế- xã hội môi trường Việt Nam (2011-2015)
13Niêm giám tổ chức hành chính Việt Nam 2009
14Tổng quan kinh tế - xã hội Việt Nam (2006-2010)
15Danh mục các đơn vị hành chính Việt Nam 2010
16Chia sẻ kinh nghiệm phát triển của Hàn Quốc với Việt Nam tập 2
17Hoạt động của doanh nghiệp, việc làm và nghèo đói của hộ gia đình trong bối cảnh suy giảm kinh tế ở Việt Nam
18Firm's operation, employment  and poverty during the economic slowdown period
19Project Establishing the Master Plan for Vietnam Green Growth Strategy
20Achievements and Challenges in the progress of reaching millennium development goals of  Vietnam
21

Thành tựu và thách thức trong quá trình thực hiện mục tiêu phát triển thiên niên kỷ cua Việt Nam

 

22Báo cáo nghiên cứu:  Tác động của biến đổi cơ cấu tuổi dân số đến tăng trưởng kinh tế Việt Nam và các đề xuất chính sách
23Sổ tay hướng dẫn sử dụng phương pháp "tài khoản chuyển nhượng quốc gia" (NTA)
24Hội nghị công bố báo cáo nghiên cứu " Tác động của biến đổi cơ cấu tuổi dân số đến tăng trưởng kinh tế Việt Nam và các đề xuất chính sách"
25Tập bản đồ các sông thuộc lưu vực sông Hồng- Thái Bình và các tỉnh Bắc Bộ
26

Regional Economic Outlook

Asia and Pacific. Building on Asia's Strengths during Turbulent Times

27Vietnam national Green Growth from Strategy to Action plan
28Xuất, nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam giai đoạn 2005-2015 với các nước thành viên TPP
29Niên giám tổ chức hành chính thống kê năm 2014
30Điều tra biến động dân số và kế hoạch hóa gia đình 1/4/2010. Các kết quả chủ yếu
31Population change and family planning survey 1/4/2010
32Hệ thống chỉ tiêu thống kê Quốc gia. Danh mục và nội dung chỉ tiêu
33Whitebook 2015. Trade/ Investment issues and Recommendations
34Làm gì cho Tổ Quốc Việt Nam
35Báo cáo điều tra lao động và việc làm Việt Nam năm 2010
36Xuất nhập khẩu hàng hóa 2009
37Báo cáo phát triển con người 2007/2008
38Human Development Report 2006
39Human Development Report 2010
40Report on the 2010 Vietnam Labour Force Survey

​ 

10/27/2016 10:00 AMĐã ban hành/Style Library/LacViet/CMS2013/Images/newsdefault.jpg
Một số suy nghĩ về việc ứng dụng khổ mẫu Marc 21 trong việc lưu giữ và trao đổi tài nguyên thông tinMột số suy nghĩ về việc ứng dụng khổ mẫu Marc 21 trong việc lưu giữ và trao đổi tài nguyên thông tin

Hoạt động thông tin được hiểu là hoạt động dữ liệu số có lẽ không còn xa lạ đối mọi người hôm nay. Trên báo Tuổi trẻ điện tử có hẳn một mục gọi là nhịp sống số. Điều đó đã chứng minh sự gần gũi về dữ liệu số đối với chúng ta hôm nay. Nhưng đó là mặt diện của bề rộng, còn chiều sâu của nó là vấn đề quan hệ qua lại giữa các yếu tố như: Tác giả (kể cả các thành viên tạo ra một tài liệu; một sản phẩm thông tin). ấn phẩm trước khi in (Tài liệu hội thảo; Bản thảo của các tác phẩm hoặc các công trình, dự án, đề tài; Thư điện tử; Các thông tin không chính thức khác); Các nhà xuất bản (kể cả cơ quan không làm nhiệm vụ xuất bản); Bài báo chuyên ngành, kỷ yếu hội thảo; Cơ sở dữ liệu (CSDL); sách; Các dịch vụ tóm tắt và đánh chỉ số; Cán bộ thư viện và thư viện; Hiệu sách; người đăng ký mua nhỏ lẻ. Bạn đọc như thế nào, tổ chức miêu tả, tổ chức nhập liệu ở máy tính; tổ chức lưu giữ ra sao? thì chúng ta chưa quan tâm một cách đầy đủ và toàn diện để mỗi biểu ghi tài liệu được thống nhất trong lưu giữ, và từ sự thống nhất này chúng ta mới có thể chia sẻ các thành quả cho nhau được.

Với tính chất quan hệ dữ liệu thông tin trên, chúng tôi xin nêu một số suy nghĩ về việc ứng dụng khổ mẫu MARC21 trong việc lưu giữ và trao đổi tài nguyên thông tin. Nội hàm tài nguyên thông tin  được hiểu là:

§  Dữ liệu thư mục  là một tập hợp các tên tài liệu, mà mỗi tên tài liệu được miêu tả tóm tắt bằng 8 yếu tố miêu tả theo chuẩn miêu tả thư mục quốc tế (Tên tác giả; tên tài liệu; số lần xuất bản; các chi tiết xuất bản; đặc điểm số lượng trang; thư mục; phụ chú; tóm tắt nội dung) vào một biểu ghi.

§  Normal 0 false false false MicrosoftInternetExplorer4 Cơ sở dữ liệu toàn văn (full-text) gọi tài liệu số hay tài liệu kỹ thuật số (sách, tạp chí, tin bài, luận án, tiểu luận, văn bản…) bao gồm các loại chủ yếu:

o    Dữ liệu hình ảnh: Tất cả các hình ảnh được lưu trữ dưới dạng số theo các định dạng khác nhau

o    Dữ liệu đồ họa: Tất cả tài liệu có tính chất trực quan hình học như đồ họa, thiết kế, bản vẽ…

o    Dữ liệu văn bản: Tất cả các loại văn bản được lưu trữ dưới dạng số theo các định dạng khác nhau

o    Chương trình máy tính: Có 2 loại phần mềm cơ bản:

-Hệ điều hành (Operating System Software)

- Phần mềm ứng dụng (Application Software)

   Với nội hàm tài nguyên thông tin nêu trên chúng ta cũng cần phải có quy định một số chuẩn thống nhất để ứng dụng cho công tác biên mục theo khổ mẫu MARC21 như sau:

1.-Thống nhất cách tổ chức áp dụng biên mục tài liệu thông tin theo chuẩn MARC

§  Phân định loại hình tài liệu thông tin. Bởi vì mỗi một loại hình nó có kết cấu riêng của nó, và tất yếu khổ mẫu biên mục theo MARC cũng sẽ áp dụng theo từng loại hình tài liệu thông tin, cụ thể: Sách; Báo, tạp chí; Tệp máy tính; Tranh, ảnh, bích chương; Bản đồ; Vi phim; Phim điện ảnh, băng ghi hình; Văn bản hành chính; Băng ghi âm; Mô hình, tượng; Thông tin cộng đồng

§  Áp dụng các khổ mẫu MARC để hỗ trợ cho công tác biên mục, lưu giữ và trao đổi tài nguyên thông tin như:

o    MARC21 format for classifcation data (khổ mẫu MARC21 cho dữ liệu phân loại) để phục vụ cho công việc tích hợp dữ liệu theo hệ thống chuyên đề

o    MARC21 format for holdings data (khổ mẫu Marc 21 cho dữ liệu về vốn tư liệu) để tổ chức hệ thống kho lưu giữ kho dữ liệu

o    MARC21 format for community information (khổ mẫu Marc 21 cho thông tin cộng đồng) để tổ chức quản lý con người và phương tiện sinh hoạt, nơi ở của con người

o    MARC code list for countries (Danh mục mã nước) để xác định nguồn gốc biểu ghi thư mục tài liệu thông tin của nước nào

o    MARC21 code list for geographic areas (Danh mục mã các khu vực địa lý) để xác định nguồn gốc xuất bản tài liệu

o    MARC code list for languages (Danh mục mã ngôn ngữ) để xác định ngôn ngữ chính văn của tác phẩm

o    USMARC code list organizations (Danh mục mã các tổ chức) để xác định cơ quan biên mục và quản lý nguồn thư mục

§  Về khổ mẫu biên mục cho MARC21 theo chúng tôi nên thống nhất tạo ra  9 khổ mẫu cụ thể như sau:

1. Mẫu worksheet nhập tài liệu  ( sách )

2. Mẫu worksheet nhập tài liệu nhiều kỳ

3. Mẫu worksheet nhập âm nhạc, nhạc

4. Mẫu worksheet nhập bản đồ, tập bản đồ, quả địa cầu

5. Mẫu worksheet nhập ấn phẩm điện ảnh, băng từ

6. Mẫu worksheet nhập file máy tính

7. Mẫu worksheet nhập trực quan

8. Mẫu worksheet nhập văn bản tổng hợp

9. Mẫu worksheet nhập thông tin cộng đồng

§  Về quy trình ứng dụng biên mục biểu ghi thư mục cho một tài liệu thông tin được đi theo các trình tự như sau:

Một là tác giả của tài liệu thông tin (kể cả các thành viên tạo ra một tài liệu; một sản phẩm thông tin): Khi tác giả hoàn thành bản thảo một tác phẩm; một công trình; một bản tham luận; một bài báo chuyên đề… gửi đến nhà xuất bản hoặc tòa soạn hoặc cơ quan tổ chức hội thảo; thì tự tác giả phải khai báo thư mục tài liệu thông tin (bản thảo) đó theo mẫu worksheet trên máy tính và gửi kèm cùng một lúc với bản thảo đến cơ quan dự định xuất bản hoặc in ấn. Ví dụ mẫu worksheet như sau:

Mẫu worksheet 1 :Tác giả tự  nhập các trường 100; 245; 300; 520

Tên nhãn trườngNội dung biên mục
100Tác giả tự nhập tên theo các mục có sẵn của trường
245Tác giả tự nhập tên tài liệu theo các mục có sẵn của trường    
300Tác giả tự nhập số lượng trang bản thảo
520Tác giả tự nhập tóm tắt nội dung tài liệu bản thảo       
650Tác giả tự nhập chủ đề chính của tài liệu bản thảo

Hai là các nhà xuất bản hoặc cơ quan cấp phép xuất bản: Khi cơ quan xuất bản hoặc cấp giấy phép xuất bản nhận bản thảo tác phẩm có kèm theo file ISO (khai báo worksheet) hoặc đĩa mềm có chứa file ISO (khai báo worksheet) thì nhập file iso vào Cơ sở dữ liệu thư mục quản lý xuất bản và tiếp tục hiệu đính biên mục như sau :

 Cũng mẫu worksheet 1: Cơ quan xuất bản hoặc cấp phép xuất bản phải nhập trường 017, 020; 028; 041; 043; 250; 260; 561

Tên nhãn trườngNội dung biên mục
016Cục xuất bản nhập số kiểm soát của cơ quan Thư mục Quốc gia        
017Cơ quan xuất bản nhập số đăng ký bản quyền
020Cơ quan xuất bản nhập  giá tiền và số lượng bản in; só tiêu chuẩn ISBN        
028Cơ quan xuất bản nhập số giấy phép bản in   
041Cơ quan xuất bản nhập mã ngôn ngữ chính của tài liệu thông tin         
043Cơ quan xuất bản nhập mã vùng địa lý của cơ quan xuất bản
052Cơ quan xuất bản nhập mã vùng địa lý của  Tác giả
100Tác giả tự nhập tên theo các mục có sẵn của trường
245Tác giả tự nhập tên tài liệu theo các mục có sẵn của trường
250Cơ quan xuất bản nhập thông tin về lần xuất bản
260Cơ quan xuất bản nhập địa chỉ của nhà xuất bản; tên nhà xuất bản; năm xuất bản tài liệu thông tin đó           
300Tác giả tự nhập số lượng trang bản thảo
520Tác giả tự nhập tóm tắt nội dung tài liệu bản thảo
561Cơ quan xuất bản nhập quyền sở hữu và lịch sử bảo hộ bản quyền tác giả
650Tác giả tự nhập chủ đề của tài liệu bản thảo      

Ba là Thư viện Quốc gia : Khi các nhà xuất bản nộp tài liệu lưu chiểu cho Thư viện Quốc gia thì nộp luôn file ISO của  tài liệu đó. Trường hợp không có file ISO thì Thư viện Quốc gia có thể vào CSDL quản lý xuất bản của nhà xuất bản để tải file ISO về thư viện và nhập vào CSDL tài nguyên của Thư viện Quốc gia. Riêng các tài liệu do thư viện tỉnh biên mục cũng theo chuẩn biểu ghi thư mục MARC và chuyển ISO về Thư viện Quốc gia. Và Thư viện Quốc gia tiếp tục biên mục hiệu đính như sau:

 Cũng mẫu worksheet 1 :của Cơ quan xuất bản hoặc cấp phép xuất bản Thư viện Quốc gia tiếp tục nhập tiếp các trường : 001, 003, 006, 007, 008, 010, 013, 082, 153, 600, 650, 651, 700, 800, 850, 852, 856

Tên nhãn trườngNội dung biên mục
001Thư viện Quốc gia nhập số kiểm soát biểu ghi  tài nguyên      
003Thư viện Quốc gia nhập mã nhận dạng kiểm soát
006Thư viện Quốc gia nhập độ dài cố định của các yếu tố dữ liệu
007Thư viện Quốc gia  Miêu tả trường vật lý cố định       
008Thư viện Quốc gia nhập các mã dữ liệu có độ dài cố định     
010Thư viện Quốc gia nhập số kiểm tra của mục lục nguồn
013Thư viện Quốc gia nhập thông tin kiểm soát bằng sáng chế    
016Cục xuất bản nhập số kiểm soát của cơ quan Thư mục Quốc gia          
017Cơ quan xuất bản nhập số đăng ký bản quyền
020Cơ quan xuất bản nhập giá tiền và số lượng bản in; số tiêu chuẩn ISBN 
028Cơ quan xuất bản nhập số giấy phép bản in
040Thư viện Quốc gia nhập mã Nguồn CATALOGING của thư viện Quốc gia
041Cơ quan xuất bản nhập mã ngôn ngữ chính của tài liệu thông tin
043Cơ quan xuất bản nhập mã vùng địa lý của cơ quan xuất bản
052Cơ quan xuất bản nhập mã vùng địa lý của Tác giả
082Thư viện Quốc gia nhập ký hiệu phân loại DDC tổng quát (000, 100, 200, 300, 400, 500, 600, 700, 800, 900)        
100Tác giả tự nhập tên theo các mục có sẵn của trường
153Thư viện Quốc gia nhập ký hiệu phân loại chi tiết (sát với nội dung tài liệu)
245Tác giả tự nhập tên tài liệu theo các mục có sẵn của trường (Thư viện Quốc gia kiểm tra và hiệu đính các chi tiết còn thiếu)
250Cơ quan xuất bản nhập Thông tin về lần xuất bản (Thư viện Quốc gia kiểm tra và hiệu đính các chi tiết còn thiếu)
260Cơ quan xuất bản nhập địa chỉ của nhà xuất bản; tên nhà xuất bản; năm xuất bản tài liệu thông tin đó (Thư viện Quốc gia kiểm tra và hiệu đính các chi tiết còn thiếu) 
300Tác giả tự nhập số lượng trang bản thảo (Thư viện Quốc gia kiểm tra và hiệu đính các chi tiết còn thiếu)
520Tác giả tự nhập tóm tắt nội dung tài liệu bản thảo
561Cơ quan xuất bản nhập quyền sở hữu và lịch sử bảo hộ bản quyền tác giả
600Thư viện Quốc gia nhập bổ sung chủ đề nhân vật
650Tác giả tự nhập chủ đề của tài liệu bản thảo (Thư viện Quốc gia kiểm tra và hiệu đính các chi tiết còn thiếu)
651Thư viện Quốc gia nhập bổ sung chủ đề địa lý
700Thư viện Quốc gia nhập bổ sung tên các thành viên của tác phẩm
800Thư viện Quốc gia nhập bổ sung tên tác giả tùng thư
850Thư viện Quốc gia nhập mã của Thư viện Quốc gia (cơ quan lưu giữ vốn tài liệu).
852Thư viện Quốc gia thiết lập ký hiệu xếp giá
856Thư viện Quốc gia thiết lập địa chỉ truy cập    

 

Bốn là đối với thư viện tỉnh; thư viên chuyên ngành hoặc thư viên cơ sở…Khi các thư viện bổ sung tài liệu mới thì vào CSDL tài nguyên của Thư viện Quốc gia để tải về và hiệu đính biểu ghi thư mục như sau:

 

Cũng mẫu worksheet 1 của Thư viện Quốc gia. Thư viện tỉnh tiếp tục nhập tiếp các trường: 001, 003, 010, 040, 521, 650, 850, 852, 856

 

Tên nhãn trườngNội dung biên mục
001Thư viện Quốc gia nhập số kiểm soát biểu ghi  tài nguyên (Thư viện tỉnh, thư viện chuyên ngành, thư viện cơ sở… hiệu đính số kiểm soát của thư viện mình) 
003Thư viện Quốc gia nhập mã nhận dạng kiểm soát (Thư viện tỉnh, thư viện chuyên ngành, thư viện cơ sở… hiệu đính mã nhận dạng của thư viện mình)
006Thư viện Quốc gia nhập độ dài cố định của các yếu tố dữ liệu
007Thư viện Quốc gia  miêu tả trường vật lý cố định
008Thư viện Quốc gia nhập các mã dữ liệu có độ dài cố định
010Thư viện Quốc gia nhập số kiểm tra của mục lục nguồn (Thư viện tỉnh, thư viện chuyên ngành, thư viện cơ sở… hiệu đính số kiểm tra của thư viện mình)
013Thư viện Quốc gia nhập thông tin kiểm soát bằng sáng chế       
016Cục xuất bản nhập số kiểm soát của cơ quan Thư mục Quốc gia
017Cơ quan xuất bản nhập số đăng ký bản quyền
020Cơ quan xuất bản nhập giá tiền và số lượng bản in; số tiêu chuẩn ISBN
028Cơ quan xuất bản nhập số giấy phép bản in
040Thư viện Quốc gia nhập mã Nguồn CATALOGING của Thư viện Quốc gia (Thư viện tỉnh, thư viện chuyên ngành, thư viện cơ sở… hiệu đính mã nguồn CATALOGING của thư viện mình)
041Cơ quan xuất bản nhập mã ngôn ngữ chính của tài liệu thông tin
043Cơ quan xuất bản nhập mã vùng địa lý của cơ quan xuất bản
052Cơ quan xuất bản nhập mã vùng địa lý của tác giả
082Thư viện Quốc gia nhập ký hiệu phân loại DDC tổng quát (000, 100, 200, 300, 400, 500, 600, 700, 800, 900)
100Tác giả tự nhập tên theo các mục có sẵn của trường
153Thư viện Quốc gia nhập ký hiệu phân loại chi tiết (sát với nội dung tài liệu)
245 Tác giả tự nhập tên tài liệu theo các mục có sẵn của trường (Thư viện Quốc gia kiểm tra và hiệu đính các chi tiết còn thiếu)
250Cơ quan xuất bản nhập Thông tin về lần xuất bản (Thư viện Quốc gia kiểm tra và hiệu đính các chi tiết còn thiếu)
260Cơ quan xuất bản nhập địa chỉ của nhà xuất bản; Tên nhà xuất bản; năm xuất bản tài liệu thông tin đó (Thư viện quốc gia kiểm tra và hiệu đính các chi tiết còn thiếu) 
300Tác giả tự nhập số lượng trang bản thảo (Thư viện Quốc gia kiểm tra và hiệu đính các chi tiết còn thiếu)
520Tác giả tự nhập tóm tắt nội dung tài liệu bản thảo
521Thư viện tỉnh, thư viện chuyên ngành, thư viện cơ sở… nhập đối tượng đọc tài liệu 
561Cơ quan xuất bản nhập quyền sở hữu và lịch sử bảo hộ bản quyền tác giả
600Thư viện Quốc gia nhập bổ sung chủ đề nhân vật
650Tác giả tự nhập chủ đề của tài liệu bản thảo (Thư viện Quốc gia kiểm tra và hiệu đính các chi tiết còn thiếu).(Thư viện tỉnh, thư viện chuyên ngành, thư viện cơ sở… tiếp tục xây dựng thuật ngữ chủ đề cho của thư viện mình)
651Thư viện Quốc gia nhập bổ sung chủ đề địa lý
700Thư viện Quốc gia nhập bổ sung tên các thành viên của tác phẩm
800Thư viện Quốc gia nhập bổ sung tên tác giả tùng thư
850Thư viện Quốc gia nhập mã của Thư viện Quốc gia (cơ quan lưu giữ vốn tài liệu).(Thư viện tỉnh, thư viện chuyên ngành, thư viện cơ sở.. hiệu đính mã số của thư viện mình)
852Thư viện Quốc gia thiết lập ký hiệu xếp giá.(Thư viện tỉnh, thư viện chuyên ngành, thư viện cơ sở… hiệu đính kí hiệu xếp giá của thư viện mình)
856Thư viện Quốc gia thiết lập địa chỉ truy cập. Thư viện tỉnh, thư viện chuyên ngành, thư viện cơ sở… hiệu đính địa chỉ truy cập của thư viện mình)

 

   Riêng những tài liệu xuất bản tại địa phương hoặc của ngành thì khai báo biên mục như biểu ghi biên mục của Thư viện Quốc gia

Năm là Phóng viên : Khi phóng viên hoàn thành một tin bài, thì tự phóng viên đó khai báo thư mục bài báo đó theo mẫu worksheet trên máy tính và gởi kèm cùng một lúc với bản thảo đến tòa soạn. Ví dụ mẫu worksheet như sau:

Mẫu worksheet 2 :Tác giả tự nhập trường 100; 245

Tên nhãn trườngNội dung biên mục
100Tác giả tự nhập tên theo các mục có sẵn của trường
245Tác giả tự nhập tên tài liệu theo các mục có sẵn của trường    

 

Sáu là Tòa soạn báo : Khi một số báo; số tạp chí sắp phát hành thì tòa soạn phải biên mục biểu ghi theo mẫu worksheet như sau:

 

Tên nhãn trườngNội dung biên mục
016Cục xuất bản nhập số kiểm soát của cơ quan Thư mục quốc gia
028Tòa soạn nhập Mục (bài báo) Bản quyền - Mã Thanh toán     
020Tòa soạn nhập số lượng bản in; giá tiền
022Tòa soạn nhập ISSN = Số hiệu seri Chuẩn của Quốc tế
040Tòa soạn nhập mã Nguồn CATALOGING của tòa soạn
041Tòa soạn nhập mã ngôn ngữ chính của tài liệu thông tin
043Tòa soạn nhập mã vùng địa lý của tòa soạn    
052Tòa soạn nhập  mã vùng địa lý của Tổng biên tập
210Tòa soạn nhập tên tạp chí, tên báo viết tắt (nếu có)
222Tòa soạn nhập từ khóa tên tạp chí, tên báo
245Tác giả tự nhập tên tài liệu theo các mục có sẵn của trường (Tòa soạn hiệu đính các chi tiết còn thiếu)       
247Tòa soạn nhập tên cũ của  tên tạp chí, tên báo
260Tòa soạn nhập địa chỉ của tòa soạn; năm xuất bản của báo chí
263Tòa soạn nhập ngày tháng xuất bản tờ báo hoặc tạp chí
300Tòa soạn miêu tả khổ báo tạp chí và số lượng trang
310Tòa soạn nhập số xuất bản hiện hành  
362Tòa soạn nhập ngày tháng xuất bản đầu tiên hoặc chỉ định tiếp theo
520Tác giả tự nhập tóm tắt nội dung tài liệu bản thảo
853Tòa soạn nhập Mẫu và Các đầu đề chương mục hoặc bài báo -- Đơn vị Thư mục Cơ bản
854Tòa soạn nhập Các mẫu và  đầu đề chương mục hoặc bài báo -- Tài liệu bổ sung       

 

2.-Thống nhất cách tổ chức áp dụng biên mục nơi lưu giữ tài nguyên thông tin theo chuẩn MARC

§  Về ứng dụng các tổ chức lưu giữ tài nguyên được áp dụng cho từng hệ thống kho của thư viện cũng được khai báo cụ thể ở biểu ghi tài liệu thư mục như sau :

 

Cũng mẫu worksheet 1 của Thư viện Quốc gia thì Thư viện tỉnh: Bộ phận biên mục; Bộ phận công tác bạn đọc của thư viên tiếp tục nhập tiếp các trường :

 

Tên nhãn trườngNội dung biên mục
001Thư viện Quốc gia nhập số kiểm soát biểu ghi  tài nguyên (Thư viện tỉnh, thư viện chuyên ngành, thư viện cơ sở… hiệu đính số kiểm sóat của thư viện mình)
003Thư viện Quốc gia nhập mã nhận dạng kiểm soát (Thư viện tỉnh, thư viện chuyên ngành, thư viện cơ sở… hiệu đính mã nhận dạng của thư viện mình)
006Thư viện Quốc gia nhập độ dài cố định của các yếu tố dữ liệu
007Thư viện Quốc gia  Miêu tả trường vật lý cố định
008Thư viện Quốc gia nhập các mã dữ liệu có độ dài cố định
010Thư viện Quốc gia nhập Số kiểm tra của mục lục nguồn (Thư viện tỉnh, thư viện chuyên ngành, thư viện cơ sở… hiệu đính số kiểm tra của thư viện mình)
013Thư viện Quốc gia nhập thông tin kiểm soát bằng sáng chế       
016Cục xuất bản nhập số kiểm soát của cơ quan Thư mục Quốc gia
017Cơ quan xuất bản nhập số đăng ký bản quyền
020Cơ quan xuất bản nhập  giá tiền và số lượng bản in; số tiêu chuẩn ISBN
028Cơ quan xuất bản nhập số giấy phép bản in
040Thư viện Quốc gia nhập mã nguồn CATALOGING của Thư viện Quốc gia (Thư viện tỉnh, thư viện chuyên ngành, thư viện cơ sở... hiệu đính mã nguồn CATALOGING của thư viện mình)
041Cơ quan xuất bản nhập mã ngôn ngữ chính của tài liệu thông tin
043Cơ quan xuất bản nhập mã vùng địa lý của cơ quan xuất bản
052Cơ quan xuất bản nhập mã vùng địa lý của  Tác giả
082Thư viện Quốc gia nhập ký hiệu phân loại DDC tổng quát (000, 100, 200, 300, 400, 500, 600, 700, 800, 900)        
100Tác giả tự nhập tên theo các mục có sẵn của trường
153Thư viện Quốc gia nhập ký hiệu phân loại chi tiết (sát với nội dung tài liệu)
245 Tác giả tự nhập tên tài liệu theo các mục có sẵn của trường (Thư viện Quốc gia kiểm tra và hiệu đính các chi tiết còn thiếu)
250Cơ quan xuất bản nhập Thông tin về lần xuất bản (Thư viện Quốc gia kiểm tra và hiệu đính các chi tiết còn thiếu)
260Cơ quan xuất bản nhập địa chỉ của nhà xuất bản; Tên nhà xuất bản; năm xuất bản tài liệu thông tin đó (Thư viện Quốc gia kiểm tra và hiệu đính các chi tiết còn thiếu) 
300Tác giả tự nhập số lượng trang bản thảo (Thư viện Quốc gia kiểm tra và hiệu đính các chi tiết còn thiếu)
520Tác giả tự nhập tóm tắt nội dung tài liệu bản thảo
521Thư viện tỉnh, thư viện chuyên ngành, thư viện cơ sở… nhập đối tượng đọc tài liệu 
541Bộ phận biên mục của thư viện ghi tên người trực tiếp miêu tả hoặc trực tiếp thu nhận từ nguồn thư mục khác
561Cơ quan xuất bản nhập Quyền sở hữu và lịch sử bảo hộ bản quyền tác giả        
562Bộ phận bạn đọc của thư viện ghi chú sự sao chép, trích đoạn trong tài liệu
583Bộ phận bạn đọc của thư viện ghi chú việc tổ chức sắp xếp; luân chuyển tài liệu giữa các kho
600Thư viện Quốc gia Nhập bổ sung chủ đề nhân vật
650Tác giả tự nhập chủ đề của tài liệu bản thảo (Thư viện Quốc gia kiểm tra và hiệu đính các chi tiết còn thiếu)(Thư viện tỉnh, thư viện chuyên ngành, thư viện cơ sở… tiếp tục xây dựng thuật ngữ chủ đề cho của thư viện mình)
651Thư viện Quốc gia Nhập bổ sung chủ đề địa lý
700Thư viện Quốc gia Nhập bổ sung tên các thành viên của tác phẩm
800Thư viện Quốc gia Nhập bổ sung tên tác giả tùng thư
850Thư viện Quốc gia Nhập mã của Thư viện Quốc gia (cơ quan lưu giữ vốn tài liệu). (Thư viện tỉnh, thư viện chuyên ngành, thư viện cơ sở... hiệu đính mã số của thư viện mình)
852Thư viện Quốc gia thiết lập ký hiệu xếp giá (Thư viện tỉnh, thư viện chuyên ngành, thư viện cơ sở... hiệu đính kí hiệu xếp giá của thư viện mình)
856Thư viện Quốc gia thiết lập địa chỉ truy cập (Thư viện tỉnh, thư viện chuyên ngành, thư viện cơ sở... hiệu đính địa chỉ truy cập của thư viện mình)

        3.- Thống nhất cách tổ chức áp dụng biên mục thông tin cộng đồng (bạn đọc và tác giả) theo chuẩn MARC

Hoạt động thư viện là hoạt động giữa cán bộ thư viện, tài nguyên thông tin và bạn đọc. Do vậy, chúng ta cũng cần ứng dụng khổ mẫu MARC21 trong việc hỗ trợ quản lý bạn đọc, hay nói một cách rộng hơn là quản lý con người. Và nói chung nữa là quản lý cộng đồng. Cụ thể biểu ghi khổ mẫu thông tin cộng đồng như sau :

Mẫu worksheet thông tin cộng đồng: Mẫu này do từng thư viện nhập

Tên nhãn trườngNội dung biên mục
010Thư viện nhập số kiểm soát của thư viện
016Thư viện nhập số kiểm sóat của Thư mục quốc gia
035Thư viện nhập số kiêm soát hệ thống
040Thư viện nhập mã nguồn CATALOGING của thư viện
041Thư viện nhập mã ngôn ngữ của biểu ghi
043Thư viện nhập mã vùng địa lý của bạn đọc
046Thư viện nhập mã vùng địa lý của thư viện
072Thư viện nhập mã dịch vụ của con người
073Thư viện nhập mã tổ chức mà con người tham gia
082 
100Thư viện nhập hoặc bạn đọc nhập tên của bạn đọc theo các mục có sẵn của trường (ví dụ trường con a = Họ tên; b= số thẻ; = ngày tháng năm sinh..)         
153Máy tự thực hiện (khi hoạt động mượn trả máy tự động lấy dữ liệu từ cơ sở dữ liệu thư mục đưa qua cơ sở dữ liệu thông tin cộng đồng)
245Máy tự thực hiện (khi hoạt động mượn trả máy tự động lấy dữ liệu từ cơ sở dữ liệu thư mục đưa qua cơ sở dữ liệu thông tin cộng đồng)  
270Thư viện nhập hoặc bạn đọc nhập địa chỉ của bạn đọc theo các mục có sẵn của trường 
303Thư viện nhập hoặc bạn đọc nhập thời gian được tiếp xúc hoặc tên người tiếp xúc 
311Thư viện nhập hoặc bạn đọc nhập các phòng họp và có các phương tiện cho cuộc họp     
501Thư viện nhập ghi chú thông tin tiền tệ của bạn đọc    
505Thư viện nhập ghi chú các chương trình làm việc và hoạt động của bạn đọc
521Thư viện nhập ghi chú nhóm người có cùng mục đích
531Thư viện nhập ghi chú tính thích hợp, các chi phí, các thủ tục
536Ghi chú Nguồn cấp vốn 
545Ghi chú Tiểu sử hoặc Lượt sử
546Thư viện nhập Ghi chú  biết sử dụng ngôn ngữ
551Ghi chú Ngân quỹ

 

Với các công đoạn ứng dụng biên mục biểu ghi theo khổ mẫu MARC21, nó cho phép máy tính sắp xếp và lựa chọn dữ liệu biên mục. Điều đó có nghĩa là các thư viện có thể:

- Cho phép người dùng truy cập mạnh mẽ hơn các biểu ghi.

- In ra dữ liệu biên mục theo một số dạng thức khác nhau như: các thư mục chủ đề.

- Sản xuất ra các thông báo sách mới, mục lục sách và các nhãn trên gáy sách.

- Sản xuất các loại mục lục khác nhau như Microfiche và mục lục truy cập trực tuyến.

- Trao đổi các dữ liệu biên mục với các thư viện khác trên thế giới.

- Tính nhất quán biểu ghi tạo lập nên các hình thức nhất quán cho tiêu đề cá nhân, tập thể và tên hội nghị, hội thảo, chủ đề và tùng thư. Điều đó cho phép người sử dụng mục lục có thể tìm thấy tất cả các tài liệu liên quan dưới cùng một tiêu đề.

- Các tham chiếu định hướng cho người sử dụng từ miêu tả tiêu đề không được sử dụng cho đến những tiêu đề được sử dụng. Ví dụ: Nguyễn Ái Quốc  xem Hồ Chí Minh

Mặt khác, nếu các cơ quan cùng ứng dụng biên mục khổ mẫu MARC21 như chúng tôi vừa nêu trên, thì chúng ta sẽ có tương đối đầy đủ một hệ thống các cơ sở dữ liệu thư mục tài liệu thông tin xuất bản trong cả nước vừa phản ảnh kịp thời tình hình xuất bản; lại được chuẩn hóa dữ liệu thông tin trong cả nước từ khâu miêu tả đến khâu nhập máy, và đó cũng chính là vấn đề tạo điều kiện thuận lợi trong việc tổ chức lưu giữ và trao đổi tài nguyên thông tin giữa các thư viện trong và ngoài nước.

----------------------------

Dương Thái Nhơn - Thư viện tỉnh Phú Yên 

​ 

10/27/2016 3:00 PMĐã ban hành/Shared Documents/2018-09/83029792015taixuong.jpg
Vài nét về khung phân loại LCC Vài nét về khung phân loại LCC
Khung phân loại Thư viện Quốc hội Hoa Kì (LCC - Library of Congress Classification) nguyên là được thiết kế để tổ chức, phân loại và sắp xếp kho sách của chính thư viện này, lần đầu tiên được phát triển từ cuối thế kỉ XIX và sang đầu thế kỉ XX đã có nhiều thư viện khác sử dụng, đặc biệt là các thư viện đại học lớn ở Hoa Kì. Phạm vi sử dụng rộng dần và vượt ra khỏi lãnh thổ của Hoa Kì. Đến nay LCC cùng với DDC là những hệ thống phân loại được sử dụng rộng rãi nhất trên thế giới. Văn phòng hỗ trợ và chính sách biên mục của Thư viện Quốc hội Hoa Kì (Library’s Cataloging Policy and Support Office) bảo trì và phát triển hệ thống. Khác với khung phân loại DDC được Melvil Dewey một mình xây dựng để sử dụng trong tất cả các loại hình thư viện. Khung phân loại LCC được xây dựng dựa trên cấu trúc kho sách của Thư viện Quốc hội Hoa Kì. Bản chất chuyên biệt của thư viện này đã ảnh hưởng đến toàn bộ khung phân loại. Thư viện Quốc hội bao gồm nhiều sưu tập, mỗi sưu tập được chứa vào những nơi khác nhau. Hậu quả đưa đến khung phân loại bao gồm nhiều bảng phân loại riêng biệt được thiết kế bởi những chuyên gia chủ đề khác nhau. Sự tiện lợi trong tổ chức và quản lí việc sử dụng khung phân loại LCC có ảnh hưởng lớn đến những thư viện hiện đại. Việc sử dụng miễn phí những biểu ghi LCC trong hệ thống mục lục của Thư viện Quốc hội Hoa Kì và những mục lục liên hợp có chứa biểu ghi LCC (chẳng hạn như COPAC ở vương quốc Anh) đã thu hút hầu hết những thư viện quan tâm đến việc sao chép biểu ghi hơn là tự mình xây dựng. Đó cũng là lí do khiến khung phân loại LCC ngày càng phổ biến. Khung phân loại LCC được xem như một hệ thống đầy tiềm năng cho việc áp dụng rộng rãi trong thời đại trực tuyến thông qua nghiên cứu việc sử dụng LCC như là một công cụ để: - Phân chia thành nhiều phần những kho tin lớn; - Tạo nên những nguyên tắc phân loại miền chuyên biệt (domain-specific classification) trên internet; - Tích hợp phân loại và những thuật ngữ đề tài có kiểm soát cho việc truy hồi thông tin trong mục lục truy cập công cộng trực tuyến (OPAC) và trên internet. Hiện nay khung phân loại LCC được dùng nhiều trong các thư viện đại học và nghiên cứu, đặc biệt là trong những thư viện chuyên ngành hẹp, chẳng hạn như thư viện của Viện nghiên cứu Phật học Việt Nam. Lịch sử LCC Thư viện Quốc hội Hoa Kì được thành lập theo lệnh của Quốc hội vào tháng Giêng năm 1800 thông qua một đạo luật về xây dựng thư viện của lưỡng viện Quốc hội. Theo đó cung cấp cho thư viện một phòng chứa 740 cuốn sách (được thượng nghị sĩ Samuel Dexter mua trong những năm trước đó), thiết lập nội quy thư viện và bổ nhiệm giám đốc thư viện đầu tiên, John Beckley. Vào tháng Tư 1802, ông đã thiết lập mục lục đầu tiên với việc xếp sách theo kích cỡ (khổ sách). Năm 1812, thư viện sử dụng khung phân loại thư viện Philadelphia, lần đầu tiên có sự tiếp cận chủ đề. Khung phân loại này dựa trên một phóng tác của hệ thống Bacon được dùng trong bách khoa toàn thư của Diderot và d’Alembert. Thư viện Quốc hội chỉ dùng 18 trong 31 lớp chính của Philadelphia, và trong khoảng ở giữa mỗi lớp, sách được tiểu phân theo kích cỡ và xếp theo thứ tự chữ cái. Năm 1814, điện Capitol bao gồm cả Thư viện Quốc hội bị quân Anh đốt cháy và hầu hết sách đều bị thiêu rụi. Tổng thống Thomas Jefferson đã bán cho Quốc hội thư viện riêng của ông ta với khoảng 7.000 cuốn sách, thư viện này được tổ chức phân loại theo vị trí cố định gồm 44 lớp và lại dựa vào Bacon/d’Alembert. Năm 1815, thư viện được chấn chỉnh lại và tồn tại trên địa điểm đó cho đến 1897, và sau đó được dời vào tòa nhà mới. Tại thời điểm này, Thư viện Quốc hội nghiên cứu việc thay đổi khung phân loại. Một số khung phân loại ứng viên là Khung phân loại DDC, khung Phân loại Mở rộng Cutter (Cutter’s Expansive Classification), và khung Hartwig’s Halle. Trong những khung này, khung Phân loại Mở rộng của Charles Ammi Cutter là thích hợp với nhu cầu của Quốc hội nhất. Cutter đã sẵn lòng chỉnh sửa lại hệ thống của mình cho phù hợp với Thư viện Quốc hội hơn. Năm 1899, Tiến sĩ Herbert Putman, giám đốc thư viện mới được bổ nhiệm, đã quyết định phân loại lại toàn bộ sưu tập thư viện. Herbert Putman và người cộng sự Charles Martel, biên mục viên trưởng, đã chọn chính khung phân loại do mình phát triển dựa trên nền tảng Phân loại Mở rộng của Cutter có tham khảo thêm khung phân loại DDC, ấn bản lần thứ năm. Đây chính là khung phân loại LCC sau này. Kí hiệu của khung phân loại LCC là kết hợp giữa chữ cái và số Ả Rập; trong khi kí hiệu của khung Phân loại Mở rộng Cutter chỉ toàn chữ; và kí hiệu của khung phân loại DDC thì toàn số. Xuất bản và quản lí LCC Phòng công tác biên mục của Thư viện Quốc hội Hoa Kì chịu trách nhiệm quản lí chung về hệ thống phân loại. Khung phân loại là đồ sộ, xuất bản nhiều tập; ngay cả một vài môn loại chính cũng được xuất bản thành nhiều phần bởi vì chiều dài của bảng chính. Khác với khung phân loại DDC, Thư viện Quốc hội chưa bao giờ “trình làng” toàn bộ khung phân loại cùng xuất bản mới một lúc, nhưng từng tập riêng lẻ thì được cập nhật khi cần thiết. Mỗi bảng chính (schedule) được phát triển bởi từng nhóm chuyên gia đề tài riêng, và được tiến hành dần dần trong suốt cả thế kỉ. Bảng thứ nhất, E-F Lịch sử: Mĩ (Tây bán cầu) xuất bản năm 1901; tiếp tục 1902 bởi Z Thư mục học. Thư viện học. Bảng môn loại Luật đầu tiên – Luật Hoa Kì xuất bản năm 1969 và các bảng môn loại Luật khác vẫn đang phát triển. Những phiên bản của khung phân loại LCC bao gồm: - Library of Congress Classification – Bản in. - Classification Plus (Thư viện Quốc hội Hoa Kì xuất bản). - SuperLCCs: Gale’s LCC schedules kết hợp với Additions and Changes (gồm bản in và CD-ROM). - Classweb: hay Classification Web là phiên bản trực tuyến của LCC tại địa chỉ: http://classi- ficationweb.net/. Classweb bao gồm: • Browse Classification Schedules (Dò tìm bảng chính) • Classification Search (Truy tìm phân loại) • LC Subject Headings (Bộ tiêu đề chủ đề LC – LCSH) • Genre/Form Headings (Tiêu đề hình thức) • Juvenile Subject Headings (Bộ tiêu đề chủ đề thiếu nhi) • LC Subject Heading & LC Classification Number Correlations (Tương quan giữa tiêu đề chủ đề LC với chỉ số phân loại LCC) • LC Subject Heading & Dewey Classification Correlations* (Tương quan giữa tiêu đề chủ đề LC với chỉ số phân loại DCC) • LC Classification & Dewey Classification Correlations* (Tương quan giữa chỉ số phân loại LCC với chỉ số phân loại DCC) Trong thập niên 1900, bản điện tử LCC được phát hành trên CD-ROM khiến việc dò tìm và phân loại dễ dàng hơn. Năm 2002, được thay thế bằng Classweb, một phiên bản trực tuyến của khung phân loại LCC và bộ tiêu đề chủ đề của Thư viện Quốc hội Hoa Kì – LCSH. Địa chỉ web www.loc.gov là nơi tốt nhất để tìm thông tin về khung phân loại LCC, và tất nhiên hệ thống mục lục của Thư viện Quốc hội Hoa Kì là nguồn dữ liệu phân loại tuyệt vời về những biểu ghi thư tịch. Rõ ràng việc truy cập miễn phí vào những biểu ghi cũng như dịch vụ thư tịch do Thư viện Quốc hội Hoa Kì cung cấp đã tác động đến quyết định chọn khung phân loại này của nhiều thư viện.

4/20/2016 11:00 AMĐã ban hành/Shared Documents/2016-04/LCC.jpg